Luận văn "Một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện Si Ma Cai" - Pdf 70

z
” ”


Luận văn

Đ
Đ

ềt
t
à
à
i
i


đ

ềc
c
h
h
u
u
y
y


n
nd
d


c
c
h
hc

n
ô
ô
n
n
g
gt
t
h
h
ô
ô
n
nở
ởh
h
u
u
y
y



đặc biệt khó khăn, tách ra từ huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai. Nằm ở phía Đông
Bắc của tỉnh là huyện biên giới với Trung Quốc, giao thông đi lại khó khăn.
Núi đá là chủ yếu. Tài nguyên khoáng sản nghèo nàn. Dân cư chủ yếu là
đồng bào các dân tộc thiểu số sống bằng nghề nông làm nương, rẫy, trồng
rừng. Sản xuất ở đây phần lớn còn mang tính tự phát, tự cung, tự cấp với
trình độ thấp kém. Kỹ thuật canh tác lạc hậu. Trong những năm đổi mới,
cùng với sự thay đổi về kinh tế, cơ cấu kinh tế nông thôn có chuyển dịch
nhưng rất nhỏ và chậm chạp trong khi đó, nhu cầu về đa dạng các sản phẩm,
sản phẩm có giá trị kinh tế cao, ngày một tăng lên. Do vậy việc chuyển đổi
một phận diện tích đất trồng ngô, trồng lúa sang chăn nuôi. Và trồng các loại
cây, con có giá trị kinh tế cao, kết hợp hài hoà giữa trồng trọt, chăn nuôi
phát triển một số ngành nông sản phẩm theo hướng sản xuất hàng hoá là một
đòi hỏi cấp bách.
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đang là một xu
hướng và là một chủ trương đúng đắn, bức thiết của lãnh đạo các ngành, các
cấp huyện Si Ma Cai.
Là một người con sinh ra và lớn lên ở huyện Si Ma Cai nên với mong
muốn vùng quê của mình ngày càng phát triển, giàu đẹp góp phần nhỏ trong
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, vì vậy em đã chọn đề tài: "Một số
vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện Si Ma Cai" làm đề
án môn học chuyên ngành của mình.
Do kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, vì vậy khó tránh khỏi
những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý quý báu của các thầy cô và bạn
đọc.

2

PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG THÔN.

Mặt khác sự thay đổi đột ngột và nhanh chóng sẽ gây ra những tác
động tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và phát triển của
nền kinh tế. Cần phải thấy rõ rằng cơ cấu kinh tế không phải là một mục tiêu
được đặt ra do sự nhận thức của chủ quan, mà phải hiểu đó là một phương
tiện để đưa nền kinh tế đặt được sự tăng trưởng ổn định, bền vững. Từ đó
phải có những xem xét đánh giá dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế xã
hội mà CCKT đó mang lại như thế nào. Điều này cần thiết cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cả nước, riêng các vùng, các doanh nghiệp, trong đó có
tồn tại cơ cấu kinh tế nông thôn.
* Cơ cấu kinh tế nông thôn:
Cơ cấu kinh tế nông thôn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong
khu vực nông thôn. Nó là cấu trúc hữu cơ các bộ phận kinh tế trong khu vực
nông thôn trong quá trình phát triển, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau
theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và có liên quan chặt chẽ về mặt
chất, chúng có tác động qua lại lẫn nhau, trong không gian và thời gian, phù
hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống
kinh tế nông thôn. CCKT nông thôn là một bộ phận hợp thành, không thể
tách rời CCKT quốc dân. Nó đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền
kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước kém phát triển. Kinh tế nông thôn
bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ được tiến hành trên
địa bàn nông thôn.
Xác lập CCKT nông thôn chính là giải quyết mối quan hệ giữa những
bộ phận cấu thành trong tổng thể kinh tế nông thôn dưới tác động của lực
lượng sản xuất, giữa tự nhiên và con người, đồng thời giải quyết mối quan
hệ giữa kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị trong điều kiện và hoàn cảnh
lịch sử cụ thể.

4
Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng được xem xét trên các mặt và các mối
quan hệ của chúng như: Cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn, cơ cấu các

(độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa… tức là những nguồn lực của đầu vào được
ban phát bởi tạo hoá). Cơ cấu kinh tế nông thôn, trong đó có cơ cấu nông
nghiệp hướng tới sự chuyển dịch nhằm khai thác tối ưu và cải thiện điều
kiện tự nhiên để có lợi cho con người nhất. Đặc trưng cơ bản của CCKT
nông thôn là tác động hàng loạt của các quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội
đến phát triển toàn diện của nông thôn. Qúa trình xác lập và biến đổi CCKT
nông thôn như thế nào là phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, những
điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên nhất định chứ không phụ thuộc vào ý kiến
chủ quan của con người. Con người chỉ có thể nhận thức để tác động thúc
đẩy hoặc hạn chế quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng ngày càng có hiệu quả cao theo mục tiêu xác định.
Vì vậy, CCKT nông thôn phản ánh tính quy luật chung của quá trình
phát triển kinh tế - xã hội và được biểu hiện cụ thể trong từng thời gian,
không gian khác nhau. Chuyển dịch CCKT nông thôn phải là một quá trình
vận động và có tính quy luật, mọi sự nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quá
trình chuyển dịch nó đều gây phương hại đến sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân. "Vấn đề là phải biết bắt đầu tư đâu và với những giải pháp chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn như thế nào để tác động vào nó sẽ tạo ra phản
ứng dây chuyền cho tất cả các yếu tố trong toàn bộ hệ thống cơ cấu kinh tế
nông thôn cùng phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng, của nền kinh tế
quốc dân.
Cơ cấu kinh tế mang tính ổn định tương đối trong từng điều kiện và
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tuy nhiên, xét cả quá trình, nó không cố định, luôn
vận động mang tính tất yếu khách quan. Vì vậy, chuyển dịch CCKT là quá
trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của hệ thống kinh tế theo một
chủ đích và định hướng nhất định, nghĩa là đưa hệ thống kinh tế đến các
trạng thái phát triển tối ưu, đạt được hiệu quả tổng hợp mong muốn thông

6
qua các tác động điều khiển có ý thức, hướng đích của con người trên cơ sở

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là xu hướng vận động có tính
khách quan, dưới sự tác động của các nhân tố. Trên thực tế, cùng với quá

8
tình hình thành và phát triển phong phú, đa dạng các ngành kinh tế theo
hướng sản xuất hàng hoá, thì cơ cấu giữa các ngành cũng ngày càng phức
tạp và luôn biến đổi theo nhu cầu của xã hội, theo đà phát triển của thị
trường và theo khả năng của sản xuất để khai thác các nguồn lực vừa để đáp
ứng nhu cầu thị trường vừa nâng cao hiệu quả sản xuất. Quá trình chuyển
dịch của CCKT nông thôn bao gồm những xu hướng cơ bản sau:
- Chuyển dịch CCKT nôgng nhiệp, nông thôn sang sản xuất hàng hoá.
Trong nền nông nghiệp độc canh, ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn. Sự
mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi bắt nguồn từ tính chất của sản xuất
và khả năng giải quyết các nhu cầu về lương thực trong điều kiện trình độ
công nghệ và năng suất lao động thấp. Từ đó mọi yếu tố về nguồn lực tự
nhiên và lao động đều phải tập trung vào sản xuất trồng trọt. Sự biến đổi của
khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và
năng suất đất đai. Do đó đã cho phép chuyển bớt các yếu tố nguồn lực cho
sự phát triển của các ngành khác, trong đó có các ngành trồng trọt, ngành
chăn nuôi, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có nghĩa là
sản xuất sản phẩm đển bán chứ không phải chỉ để tiêu dùng cho bản thân và
gia đình họ. Vì vậy, sản xuất ra loại hàng hoá gì? Số lượng bao nhiêu? Cơ
cấu chủng loại thế nào? điều đó không phụ thuộc vào người sản xuất mà chủ
yếu phụ thuộc vào mức độ và khả năng tiêu thụ của thị trường, do sự chi
phối của thị trường, đó là mối quan hệ: thị trường - sản xuất hàng hoá - thị
trường. Như vậy, xác lập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng sản xuất hàng hoá trước hết phải từ thị trường và vì thị trường, lấy thị
trường làm căn cứ và xuất phát điểm. Xem đây là giải pháp quan trọng nhất
để chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn.
- Chuyển dịch CCKT nông thôn từ nông nghiệp thuần tuý sang phát

đợc đưa vào sản xuất. Nhu cầu của xã hội về nông sản, trước hết là lương
thực đã đáp ứng. Nhờ đó nông nghiệp có thể rút bớt chuyển sang sản xuất
các ngành trồng trọt với giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao như cây công
nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây sinh vật cảnh. Sự phát triển của

10
khoa học - công nghệ đã tạo những điều kiện tiền đề cho sự chuyển dịch
CCKT, trong đó có CCKT nông thôn.
- Quá trình phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá: Đây là
đòn bẩy tăng năng suất lao động, thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ.
Cơ cấu kinh tế nông thôn là hệ quả trực tiếp của sự phân công lao động xã
hội trong nông thôn, nhiều ngành nghề hình thành, tính chất chuyên môn
hoá càng cao, xoá dần tư tưởng tự cấp tự túc, tiến lên sản xuất hàng hoá. Từ
đó, người nông dân phải suy nghĩ, nghiên cứu từng loại giống cây trồng vật
nuôi, kỹ thuật canh tác, lợi dụng các điều kiện thuận lợi và nó tránh sự khắc
nghiệt, bất lợi của tự nhiên.
- Tác động của cơ chế thị trường và sự mở rộng thị trường CCKT
nông thôn hình thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền
kinh tế sản xuất hàng hoá. Lượng dân cư lớn ở nông thôn đã tạo ra thị
trường sôi động với các hàng hoá có giá trị kinh tế cao. Thu nhập của nhân
dân tăng lên tạo sức mua lớn thì thị trường nông thôn là cơ sở để các khu
vực công nghiệp và dịch vụ tiếp tục phát triển và hướng vào xu thế hiện đại
hoá ngành nông nghiệp. Sản xuất hàng hoá phát triển kéo theo sự phát triển
của cơ sở hạ tầng, trong đó phải kể đến là hệ thống giao thông, thông tin liên
lạc và điện. Sự phát triển của thị trường tạo điều kiện tiêu thụ nông sản
phẩm với tốc độ nhanh, khuyến khích phát triển các cơ sở công nghiệp chế
biến nông sản, , khuyến khích nông dân sản xuất các loại sản phẩm phù hợp.
- Định hướng phát triển kinh tế của nhà nước có vai trò to lớn thúc
đẩy quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn. Nhà nước tác động vào nông
thôn trước hết thông qua hệ thống định hướng, điều tiết nền kinh tế theo

chảy và cách thị xã Lào cai 95km, huyện có 12,5km đường biên giới với
Trung Quốc và 12,5km đường biên giới là đường sông giữa Mường Khương
và huyện Mã Quan - Trung Quốc.
b. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí tượng thuỷ văn.
* Địa hình: Si Ma Cai có địa hình chia cắt nhiều phần, núi đá cao, độ
dốc lớn. Đường giao thông đi lại hết sức khó khăn. Núi đá là chủ yếu. Theo
đặc điểm về khí hậu có thể chia Si Ma Cai thành hai tiểu vùng. vùng nóng
và vùng lạnh, nhưng ranh giới không rõ rệt.
+ Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 23,454 ha. Trong đó đất
nông nghiệp 6.694,46h, đất lâm ngihệp 4.298,4 ha với đất rừng tự nhiên
3.591,5 h, rừng trồng 706,9 ha, đất chống đồi núi chọc là 11.774,44 ha.
Sông, suối với Si Ma Cai phân bổ chủ yếu qua địa phận của 7 xã Si
Ma Cai, Lùng Sui, Sán Chải, Nàn Sán, Bản Mế, Sín Chảy và Nàn Sín. Như
vậy, với địa hình nhiều núi đá cao, độ dốc lớn, bị chia cắt và xa trung tâm

12
kinh tế - xã hội của tỉnh. Về cơ bản địa hình của huyện Si Ma Cai không
thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khó khăn trong việc tập
trung sản xuất hàng hoá.
* Thổ nhưỡng: Do cấu tạo địa hình khác nhau nên thổ nhưỡng của
từng vùng cũng khác nhau có thể chia làm 2 vùng cơ bản:
Vùng lạnh: Đây là vùng có đất mùn vàng đỏ đất mùn pheralit loại đất
này thích hợp cho việc trồng các loại cây đào, mận, lê, cây lấy gỗ và cây
thuốc lá.
Vùng nóng: Vùng này chủ yếu là đất mùn alít nằm ven dọc theo dòng
sông chảy thích hợp trồng các loại cây lúa sớm, cây ngô, đậu tương, lạc và
cây ăn quả như: Táo, chuối…
Nhìn chung thổ nhưỡng của huyện Si Ma Cai có thể cho phép canh
tác được nhiều loại cây trồng phong phú và đa dạng.
* Khí tượng, thuỷ văn:

c. Tài nguyên nguyên liệu:
* Tài nguyên khoán sản: Si Ma Cai nghèo về tài nguyên khoán sản
trên địa bàn của huyện chỉ có một số mỏ nhỏ, giá trị kinh tế không cao bao
gồm những mỏ sau:
Mỏ kẽm chì nằm ở khu vực cao của xã Bản Mế trữ lượng ZN ở cấp
P3 khoản 50.000 tấn.
Mỏ đá xây dựng ở hầu hết các xã trong huyện, trữ lượng lớn hàng
trăm triệu m
3
.
Mỏ đất sét có khả năng sản xuất gạch, ngói nằm rải rác ở các xã Si
Ma Cai, Bản Mế, Sín Chải, Nàn Sán, Sín Chéng.
* Nguyên liệu: Tài nguyên rừng của Si Ma Cai có diện tích là
4.298,4ha. Trong đó rừng trồng là 1.405,9ha, rừng tự nhiên là 2.892,5ha.
Rừng Si Ma Cai có nhiều loại gỗ chủ yếu là nhóm 5, nhóm 6 trữ lượng
khoản 400.000m
3
, ngoài gỗ rừng còn có nhiều loại lâm sản khác như: Song,
mây, nứa và nhiều loại cây rừng khác có thể cung cấp nguyên liệu cho sản
xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
2. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Dân số và lao động:
* Dân số: Theo thống kê mới nhất, tổng dân số huyện Si Ma Cai năm
2000 có 25.325 người với cộng đồng của 11 dân tộc anh em. Dân tộc có số dân
đông nhất là người H'Mông chiếm 81,7% ( 20.701 người). Dân tộc Nùng
chiếm 10,93% (2.764 người) và các dân tộc khác như Kinh, Thu Lao, Phù
Lá…
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm bình quân từ 1,732%. Mỗi năm
tỷ lệ này giảm từ 0,3 - 0,45.
Mật độ dân cư trung bình toàn huyện là 107 người/km


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status