1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội đoàn Công giáo là một trong những hình thức tổ chức tập hợp
quần chúng rộng rãi, đa dạng với các tên gọi khác nhau thu hút tín đồ ở mọi
lứa tuổi, mọi trình độ tham gia. Giáo dân ai cũng có thể gia nhập vào một
hay nhiều hội đoàn thích hợp với mình tùy theo tâm, sinh lý lứa tuổi, giới
tính, nghề nghiệp... Việc gia nhập các hội đoàn Công giáo vừa đáp ứng
được nhu cầu sống đạo của mỗi tín đồ, vừa thể hiện được sự liên kết, gắn
bó cao trong sinh hoạt tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán và nó cũng
đáp ứng được với đặc điểm của lễ nghi Công giáo là phải được biểu hiện ra
ngoài bằng các hình thức phụng tự khác nhau.
Các hội đoàn Công giáo ra đời trên cơ sở những nhu cầu ấy. Nhưng
hội đoàn là một vấn đề phức tạp trong công tác quản lý của Nhà nước ta đối
với đạo Công giáo; vì ngoài những hội đoàn phục vụ lễ nghi Công giáo,
Giáo hội Công giáo còn thành lập nhiều loại hội đoàn với các mục đích
khác nhau.
Trong lịch sử, ngay từ những ngày đầu truyền giáo của các Thừa sai
ở Việt Nam, các hình thức hội đoàn Công giáo sơ khởi đã được thành lập.
Sau Công đồng Vatican II, Giáo hội Công giáo đã nâng cao vị trí, vai trò
của người giáo dân trong Giáo hội, thúc đẩy họ trong các hoạt động truyền
giáo, đặc biệt là truyền giáo tập thể. Việc liên kết giáo dân thành các hội
đoàn để hoạt động tông đồ vừa để củng cố đức tin trong cộng đồng người
có đạo, vừa để rao giảng Phúc Âm của Chúa Kitô ra dân ngoại, giúp cho
thế lực của giáo hội bành trướng, để mở rộng nước Chúa ra toàn thế giới.
Với ý nghĩa đó, hàng giáo sĩ Giáo hội Công giáo ở Việt Nam dù khuynh
hướng và ý đồ có khác nhau nhưng đều có mục đích là phải phát triển các
hội đoàn để củng cố Đức tin, củng cố giáo quyền và phát triển đạo.
lý của Nhà nước đối với Giáo hội Công giáo, đặc biệt là giáo hội cơ sở.
3
Việc phân định ấy có một ý nghĩa thực tiễn to lớn là giúp cho cấp
ủy, chính quyền các cấp; đặc biệt là cấp ủy và chính quyền cơ sở ở xã,
phường, có một cách nhìn đúng đắn, để có những chủ trương, giải pháp phù
hợp đối với vấn đề hội đoàn Công giáo hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có những công trình nghiên cứu trên các bình diện khác nhau về
hội đoàn Công giáo của nhiều đoàn thể và tác giả như: Kết quả khảo sát,
đánh giá hội đoàn Công giáo của Ban Dân vận Tỉnh ủy Thái Bình phục vụ
cho việc tổng kết Nghị quyết 24/NQ/BCT của Bộ Chính trị khóa VI "Về
công tác tôn giáo trong tình hình mới", 1996; Công tác vận động thanh niên
của Trung ương đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Hà Nội 1996,
Dự thảo báo cáo bước đầu tìm hiểu vấn đề hội đoàn Công giáo của Ban
Tôn giáo Chính phủ 1996; thực trạng hội đoàn Thiên Chúa giáo và những
vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước" in trong tập Kỷ yếu Hội
thảo khoa học "Tác động của tôn giáo đối với tình hình an ninh trật tự" của
Tổng cục An ninh - Viện Nghiên cứu chiến lược và khoa học Công an - Hà
Nội 1999; Công trình của hai tác giả Quang Toàn và Nguyễn Hoài Những
hoạt động của bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo trong thời kỳ kháng
chiến (1945 - 1954), Nxb Khoa học - 1965 và Lịch sử Công an nhân dân
Thái Bình (1945 - 1954) - Sở Văn hóa thông tin Thái Bình - Thái Bình
2000.
Nhưng theo tác giả luận văn này, chưa có một công trình khoa học
nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề hội đoàn Công giáo và ảnh
hưởng của nó đối với đời sống đồng bào Công giáo trên địa bàn tỉnh Thái
Bình từ ngày thành lập giáo phận (1936) đến nay.
nước ta về vấn đề tôn giáo; có kế thừa, chọn lọc một số công trình nghiên
cứu của nhiều tác giả có liên quan đến nội dung của luận văn.
Tác giả của luận văn vận dụng phương pháp lôgic lịch sử, phân tích
và tổng hợp, điều tra, khảo sát, thống kê và phỏng vấn thực tế tại cơ sở.
5
Ngoài ra, còn sử dụng một số kết quả của các tài liệu nghiên cứu từ phương
pháp điều tra xã hội học.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm cách nhìn nhận đánh giá về hội đoàn Công
giáo ở Thái Bình.
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp về vấn đề hội đoàn Công giáo.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy, chính quyền địa phương
trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo liên quan đến hội đoàn Công giáo.
- Làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu về vấn đề hội đoàn
Công giáo (đặc biệt là trong phạm vi tỉnh Thái Bình).
- Làm tài liệu tham khảo cho các lớp tập huấn cán bộ cơ sở làm
công tác tôn giáo trong địa bàn tỉnh Thái Bình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, luận văn gồm 2 chương 6 tiết.
6
Chương 1
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN
1- Tham dự các lễ nghi phụng tự.
2- Tham gia vào hoạt động truyền giáo.
Việc tham dự các lễ nghi mang tính tập thể sẽ nảy sinh ra một nhu
cầu, đó là sự liên kết thành những nhóm, những hội mang tính quần chúng
trong phụng vụ cũng như trong hoạt động truyền giáo, và với một ý thức
cộng đồng sâu đậm của người Việt Nam: "một cây làm chẳng nên non" thì
việc hình thành các hội, nhóm sẽ là điều tất yếu xảy ra trong sinh hoạt tôn
giáo của người giáo dân.
Hội đoàn Công giáo ở Việt Nam ra đời trên cơ sở đó, để vừa đáp
ứng được đặc điểm lễ nghi Công giáo, vừa thỏa mãn được nhu cầu truyền
giáo và cũng vừa phù hợp với tâm thức cố kết cộng đồng của người Việt
trong các sinh hoạt tôn giáo của giáo dân.
Từ Hội được sử dụng ngay từ thời Alexandre de Rhodes, khi vị
thừa sai này lập ra "Hội thầy giảng" đầu thế kỷ XVII (1929?) để tập hợp
những người bản xứ giúp các giáo sĩ phương Tây trong việc "truyền bá
Phúc Âm", và làm các việc thay cho các vị thừa sai trong những "hoàn
cảnh đặc biệt". Alexandre de Rhodes viết: "Khi tôi ngồi tòa thì các thầy
giảng làm phận sự dạy người tân tòng" [23, tr. 78]. Để trở thành thầy giảng
và gia nhập "Hội thầy giảng" thì phải tuyên khấn các điều sau đây: "Suốt
đời thờ phụng giáo hội, không lập gia đình và vâng lời các cha dòng đến
giảng Phúc Âm" [23, tr. 78]. Hội thầy giảng được thành lập ra để hoạt động
tông đồ tập thể, và hiệu quả của việc tông đồ tập thể này được Alexandre
de Rhodes đánh giá rất cao: "Các thầy giảng đã giúp tôi cách rất lạ lùng để
vun trồng vườn nho tốt đẹp ấy và phát triển đạo thánh của chúng ta. Sau
Thiên Chúa họ đã làm hết mọi việc trong sự tiến triển giáo hội ở đây. Tôi
thấy chỉ mình tôi là Linh mục biết giảng được, vì cha theo tôi không nói
được tiếng bản xứ, cho nên tôi đã lo liệu tìm kiếm những người giáo hữu
11
giúp đỡ người nghèo v.v..., còn theo nghĩa hẹp thì Công giáo tiến hành còn
phải nhằm mục đích truyền giáo, là làm cho nước Chúa lan rộng trên thế
gian và thấm nhập vào mọi tâm hồn" [21, tr. 28].
Giáo hoàng Pio XI định nghĩa về Công giáo tiến hành như sau:
"Công giáo tiến hành là sự tham dự của giáo dân vào việc tông đồ của hàng
giáo phẩm" [21, tr. 62].
Thời kỳ Giáo hoàng Pio XII định nghĩa Công giáo tiến hành vẫn
được giữ nguyên, nhưng được làm rõ thêm với phần bổ sung sau đây: "Tất
cả các giáo hữu đã chịu phép rửa tội phải làm tông đồ, còn các chiến sĩ
Công giáo tiến hành lại là những tông đồ đặc biệt vì họ cộng tác chặt chẽ
với Đức Giám mục và Linh mục trong việc tông đồ" [21, tr. 23]. Như vậy,
hội đoàn Công giáo không đồng nhất với Công giáo tiến hành, chỉ những
hội đoàn Công giáo mang tính chất truyền giáo mới tham gia Công giáo
tiến hành; hay nói rõ hơn, những hội đoàn Công giáo được thành lập với
mục đích phát triển đạo ra "dân ngoại", bất kể quy mô tổ chức như thế nào:
với quy mô quốc tế, quốc gia, giáo phận hay giáo xứ dưới sự chỉ đạo của
hàng giáo phẩm thì được gọi là Công giáo tiến hành. Hội đoàn Công giáo
dù là những tổ chức của giáo dân, nhiều khi được thành lập một cách tự
phát do nhu cầu sống đạo - cũng có thể hoạt động theo mùa vụ; hoặc được
thành lập một cách tự giác do lệnh của giáo quyền với việc tổ chức chặt chẽ
và phương thức hoạt động cụ thể, tất cả cũng đều phải được giáo quyền
công nhận; và những hội đoàn do hàng giáo phẩm có thẩm quyền cấp nào
thành lập thì việc giải tán nó là do cấp có thẩm quyền đó quyết định.
"Các hội đoàn Công giáo phải đảm bảo được bốn đặc tính sau đây:
1) Mục đích rao giảng Phúc Âm và thánh hóa mọi người.
2) Phải cộng tác với hàng giáo phẩm nhưng vẫn chịu trách nhiệm riêng.
3) Hoạt động của các hội đoàn phải có tính cộng đoàn.
hội này ra làm hai loại căn cứ vào các nguyên tắc tổ chức của nó.
1) Hiệp hội công: là hiệp hội do nhà chức trách có thẩm quyền của
giáo hội thành lập ra, giáo dân có thể tự nguyện tham gia vào tổ chức Hiệp
14
hội để trở thành hội viên của Hiệp hội. Các Hiệp hội công thường có một
quy mô lớn, vì giáo luật (GL - 1986) ở điều 312 ghi rõ: Nhà chức trách có
thẩm quyền của giáo hội là:
- Tòa thánh với các Hiệp hội quốc tế.
- Hội đồng Giám mục với các Hiệp hội quốc gia
- Giám mục giáo phận với các Hiệp hội trong giáo phận" [7, tr. 99].
Các Giám quản không có thẩm quyền của nhà chức trách để ra
quyết định thành lập các Hiệp hội giáo dân, bởi vì Giám quản không phải là
Giám mục bản quyền cai quản địa phận mà chỉ là người được giao phó cai
quản phần đất với tư cách là đại diện của Tòa thánh mà thôi.
2) Hiệp hội tư: là Hiệp hội do giáo dân thành lập ra qua một hiệp
đồng tư riêng giữa họ với nhau, họ điều khiển và quản trị các Hiệp hội của
mình theo các quy định của nội quy được giáo quyền phê chuẩn. Sau khi
được sự phê chuẩn của giáo quyền thì Hiệp hội tư có đủ tư cách pháp nhân
được định rõ trong Giáo luật ở điều 332: "Một Hiệp hội tư có thể thủ đắc tư
cách pháp nhân do một nghị định minh quyết của giáo quyền..." [33. tr. 103].
Các Hiệp hội tư có thể tự giải tán hoặc có thể bị giải tán theo quyết
định của giáo quyền một khi không còn lợi ích, hoặc giữ lại những phương
thế đã lỗi thời. Tuy nhiên giáo hội cũng khuyên giáo dân nên ghi tên vào
những Hiệp hội nào đã được nhà chức trách có thẩm quyền trong giáo hội
thành lập, ban khen hoặc giới thiệu.
Cách phân chia của Giáo luật là căn cứ hình thức tổ chức của các
Hiệp hội, Công đồng Vatican II lại căn cứ vào mục đích hoạt động của các
Ở Việt Nam các hội đoàn Công giáo ra đời từ rất sớm (thế kỷ
XVII) nhưng chưa trở thành một phong trào. Đầu thế kỷ XX, khi Giáo
hoàng Pio XI phát động phong trào Công giáo tiến hành, thì các hội đoàn
Công giáo ở Việt Nam phát triển rất nhanh và: "Cũng thấy chớm nở ngành
chuyên biệt, có lẽ Thanh lao công (Thanh niên lao động Công giáo) được
16
công khai xuất hiện trước hết, trên đất Bảy mẫu thành Nam (Nam Định)?
Ngày lễ Chúa Giêsu năm 1936 (23/11) hơn 5 ngàn thanh niên lao động
Công giáo đã lớn tiếng hoan hô Chúa Giêsu hiển trị và thề hứa trung thành
làm tông đồ cho nước Chúa" [21, tr. 26].
Năm 1945, các "Liên đoàn Công giáo" được thành lập, và các tổ
chức này đã công khai chống lại Việt Minh, chống lại Chính phủ kháng
chiến. Đây là hội đoàn Công giáo liên quan đến chính trị phản động.
Ngày 5-11-1957, Bộ Truyền giáo Vatican trao cho Giám mục Phạm
Ngọc Chi phụ trách tổ chức Công giáo tiến hành tại Việt Nam, trụ sở của tổ
chức này đặt tại Sài Gòn ngày 11-8-1957 [21, tr. 27].
Như vậy chỉ có những hội đoàn này mang tính chất truyền giáo mới
tham gia Công giáo tiến hành, còn những hội đoàn khác nhằm mục đích
huấn luyện đường tu đức hoặc thực hiện bác ái, phục vụ lễ nghi Công giáo
thì không thuộc phong trào này. Điều này giúp ta phân định rõ: hội đoàn
Công giáo không phải là Công giáo tiến hành, mà Công giáo tiến hành chỉ
là những Hội đoàn đặc biệt của hội đoàn Công giáo mà thôi.
Giáo hội Công giáo phân loại các hội đoàn khi thì căn cứ vào hình
thức tổ chức, khi thì căn cứ vào mục đích hoạt động, nhưng nhìn chung
cách phân chia nào cũng chỉ mang tính tương đối. Vì thật ra, các hội đoàn
Công giáo được thành lập là để củng cố đức tin và phát triển đạo, tức là để
thực hiện tông đồ giáo dân: tông đồ đối nội cũng như đối ngoại.
nối lại mối quan hệ bị chia cắt lâu nay do hoàn cảnh chiến tranh (1954 1975).
Năm 1980, Đại hội Giám mục Việt Nam lần đầu tiên họp tại Thủ đô
Hà Nội ra Thư chung khẳng định đường hướng phục vụ: "Sống Phúc Âm
trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào" [17]. Công giáo và dân
tộc bắt đầu có điểm tương đồng trên cơ sở xây dựng một nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh.
18
Với chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và
Nhà nước ta, đồng bào Công giáo đã yên tâm, tin tưởng trong việc sống
đạo, sống đời, đồng bào hiểu rõ hơn ai hết: Nước có vinh đạo mới sáng, các
nếp sinh hoạt tôn giáo truyền thống xưa được khôi phục và phát triển trong đó có vấn đề hội đoàn.
Chính việc khôi phục và phát triển các hội đoàn Công giáo đã phát
sinh những vấn đề phức tạp; các hội đoàn phục vụ lễ nghi, cầu nguyện phát
triển bình thường, nhưng việc khôi phục lại các hội đoàn có tiền sử chống
phá cách mạng với các danh xưng khác nhau hoạt động một cách công khai,
bất hợp pháp không có tư cách pháp nhân trái với quy định việc thành lập
Hội của Nhà nước ta, gây ra nhiều khó khăn trong công tác vận động quần
chúng của Đảng và công tác quản lý các hoạt động tôn giáo của Nhà nước.
Việc phân loại các hội đoàn Công giáo để phân định các hội đoàn
Công giáo có biểu hiện phi tôn giáo gắn với chính trị phản động và những
hội đoàn phục vụ lễ nghi Công giáo, hoạt động từ thiện, bác ái, cầu nguyện
là một việc làm cần thiết để giúp cho đồng bào Công giáo có quyền sống
đạo, thực hiện được đức công bình bác ái của Chúa Kitô, đồng thời cũng để
ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo làm mất ổn định chính trị xã hội, làm
phương hại đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta.
Dựa trên những nguyên tắc đó chúng tôi phân chia các loại hội đoàn
Công giáo như sau:
Mỹ Đức, khu nhà dòng Đa Minh (dòng Nam), lập Đa Minh ấn quán...
Trong dịp đi chầu Giáo Hoàng, Giám mục Thuận về thăm lại cố hương và
mắc bệnh chết ngày 22/1/1941 tại Tây Ban Nha. Sau khi Giám mục Thuận
chết, linh mục Santos Ubierna (cũng là người Tây Ban Nha có tên Việt là
Ninh) trở thành người kế vị. Linh mục Ninh được tấn phong Giám mục
ngày 21/9/1942 tại Thái Bình. Năm 1954, Giám mục Ninh đưa hầu hết số
linh mục, nam nữ tu sĩ cùng nửa số giáo dân Địa phận Thái Bình di cư vào
Nam. Vì cuộc di cư này, nhiều cơ sở của giáo hội không thể hoạt động,
20
không được coi sóc vì thiếu nhân sự. Từ 1954 Giáo phận Thái Bình chia
làm hai khu vực:
1) Khu vực Giáo phận Thái Bình (giáo đoàn miền Bắc của giáo
phận, còn được gọi là "giáo phận Mẹ") được đặt dưới sự quản lý của Linh
mục Tổng tá Đinh Đức Trụ với chức danh Giám quản Tông tòa từ 1954
đến 1960. Tháng 6 năm 1960 Linh mục Trụ được tấn phong lên hàng giám
mục và trở thành vị giám mục người Việt đầu tiên cai quản Địa phận Thái
Bình.
2) Khu vực miền Nam của Giáo phận Thái Bình di cư (giáo đoàn
miền Nam) do Giám mục Ninh cai quản. Trụ sở của giáo đoàn miền Nam
Giáo phận Thái Bình "đặt tại đường Nguyễn Văn Lạc, Thị Nghè" [21, tr.
436]. Ngày 15/4/1955 Giám mục Ninh chết, từ đó giáo đoàn miền Nam của
địa phận có các linh mục sau đây được đặt làm đại diện: Vũ Bội Quỳnh, Cao
Xuân Tuế, Trần Ngọc Trác, Phạm Chí Thiện, Trần Lê Vinh, Nguyễn Thanh
Bình và "Mọi liên kết giữa các linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân gốc Thái
Bình (tản mạn khắp miền Nam) đều do Ban Đại diện điều hành" [32, tr.
234]. Giai đoạn từ 1954 đến 1975, hai khu vực Bắc và Nam của Địa phận
Thái Bình bị chia cắt do hoàn cảnh chiến tranh nhưng giáo đoàn phía Nam
Bối cảnh chung về đời sống đạo của người Công giáo Thái Bình
trước năm 1945
Đời sống của người Công giáo Thái Bình được đặt trong một bối
cảnh chung bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử của đất nước; đặc biệt, nó có
sự biến động lớn kể từ khi các phong trào đấu tranh yêu nước giành độc lập
22
dân tộc của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Đông Dương.
Theo tác giả Đỗ Quang Hưng thì: "Vì nhiều lý do khác nhau trong
quá khứ, đạo Thiên Chúa được xem như một thế lực không dành nhiều tình
cảm lắm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp giải phóng
dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhằm xây dựng một xã hội
theo những tiêu chuẩn xa lạ với giáo lý mà giáo hội vẫn đinh ninh" [43, tr.
228].
Và, không ai có thể phủ nhận một sự thật lịch sử là việc truyền giáo
luôn đi liền với phong trào thực dân chứ không phải do một sự tình cờ đau
đớn mà Giáo hội Công giáo gặp phải trong quá trình truyền giáo ở Việt
Nam. Có thể nêu lên mối tương quan mật thiết giữa công cuộc truyền giáo
của giáo hội và chủ nghĩa thực dân trong bức thư của Lêvecque - quyền
Khâm sứ tại Trung Kỳ gửi toàn quyền Beau, Huế, ngày 31 tháng 8 năm
1906, để minh định điều này: "Hội thừa sai hải ngoại mặc dầu đã xuất hiện
ở Đông Dương từ lâu, nhưng chỉ mới hoạt động có hiệu quả từ khi cuộc
chinh phục của Pháp khởi sự. Ảnh hưởng chính trị mà các thừa sai coi như
đã thừa hưởng từ khi cuộc chiếm đóng của chúng ta bắt đầu, đã góp cho họ
phát triển và bắt rễ được trong xứ sở này. Vì chính do việc phát triển của
cải vật chất xung quanh họ, nhờ tất cả sự bảo vệ đặc biệt họ được hưởng,
họ đã tăng cường thêm ảnh hưởng" [37, tr. 429].
mục Trần Tam Tỉnh, ta thấy rõ hơn về cách tổ chức này: "Người Công giáo
thường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách khỏi người lương,
sống chen chúc quanh tháp nhà thờ, xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao
vượt khỏi lũy tre. Được đóng khung và đoàn hóa bởi hàng ngũ giáo sĩ, họ
trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ
kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó
tách biệt và cô lập phần lớn các giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc
đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được giáo hội chánh thức
phê chuẩn" [27, tr. 54].