Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh ninh bình hiện nay - Pdf 32

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ MINH THẢO

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở TỈNH NINH BÌNH
HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Hà nội - 2011

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------------

LÊ THỊ MINH THẢO

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở TỈNH NINH BÌNH
HIỆN NAY

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 602285

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Xuân


DANH MỤC CÁC BẢNG BI ỂU

Bảng 2.1. Phong chức bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc.............................58
Bảng 2.2. Đào tạo, bồi dưỡng chức sắc...........................................................58
Bảng 2.3. Công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ...................................70

5


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
Chương 1. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO ........................................ 8
1.1. Một số vấn đề lý luận ................................................................... 8
1.2. Tình hình kinh tế, xã hội và tôn giáo của tỉnh Ninh Bình ..................32
Chương 2THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG TÔN GIÁO Ở TỈ NH NI NH BÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT
RA HI ỆN NAY ..................................................................................49
2.1. Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo ở Ninh Bình .....................................................49
2.2. Bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra từ công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình .................................77
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo.............................................................................85
KẾT LUẬN........................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................ 101

6


còn tùy thuộc vào sự nỗ lực chủ quan của Đảng, nhà nước, và nhân dân Việt
Nam. Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và nhà nước ta luôn xác định công
tác tôn giáo có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương
giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự
nghiệp đoàn kết toàn dân kháng chiến thắng lợi. Trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa, năm 1990, Bộ chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác tôn giáo cũng đã
xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù
hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.
Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn chung các tổ chức tôn giáo đã xây dựng
đường hướng lãnh đạo, hoạt động theo pháp luật, các tôn giáo được nhà nước
công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối
đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời đẹp đạo, góp phần vào
công cuộc đổi mới đất nước. Các cấp các ngành đã chủ động, tích cực thực
hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển
kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo,
đồng thời đấu tranh ngăn chặn làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta.
Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo có phần phát triển, nhà thờ,
đình chùa, miếu mạo, thánh thất được tu sửa và tôn tạo, xây cất lại, in ấn kinh
sách, đào tạo chức sắc,… Số người tham gia các hoạt động tôn giáo gia tăng.
Bên cạnh xu hướng hành đạo cùng dân tộc, thuần túy tôn giáo, tuân thủ Hiến
pháp, pháp luật cũng đã xuất hiện hoạt động tôn giáo không bình thường, vi
phạm một số quy định chung của Nhà nước, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để
2



giáo và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của nhân dân và trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, mặt khác để thực hiện đầy đủ,
nghiêm túc đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo
và hoạt động tôn giáo chống mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Từ tình hình đó, tôi chọn đề tài: “Công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình hiện nay” để làm đề tài luận văn thạc sĩ
triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu
Tôn giáo, tín ngưỡng là một đề tài rộng lớn về nội dung, phạm vi, góc
độ,… từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này như: GS
Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt
Nam, Nxb CTQG; GS.TS Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo trong
cách mạng Việt Nam - lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị; Nguyễn
Văn Kiệm (1997), Tôn giáo và đời sống hiện đại, Nxb Viện thông tin khoa
học xã hội; Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb
Tôn giáo, Hà Nội; Mai Thanh Hải (1998) Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân; Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ
Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo; PGS.TS Ngô Hữu
Thảo - chủ nhiệm đề tài (1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong
thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ; PGS.TS Hoàng
Minh Đô - Chủ nhiệm đề tài (2002), Đạo tin lành ở Việt Nam - Thực trạng, xu
hướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác lãnh đạo,
quản lý, thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước,…
Về vấn đề liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo có các đề tài sau: Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Tập bài
4



nghiên cứu nói trên đã là những tài liệu quý để tôi kế thừa thực hiện tốt đề tài.
Hướng đề tài mà tôi lựa chọn, sẽ góp sức vào một vấn đề mang tính lý luận và
thực tiễn không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với công tác quản lý nhà
nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Đánh giá thực trạng tình hình tôn giáo và công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo trên địa bàn tỉnh.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu đó, đề tài tập trung giải quyết nhiệm
vụ cơ bản sau:
- Khái quát một số vấn đề lý luận về tôn giáo và công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo;
- Thực trạng tình hình tôn giáo ở Ninh Bình;
- Tìm hiểu thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở
tỉnh Ninh Bình, những vấn đề cần giải quyết;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong tình hình mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian: đề tài tiến hành nghiên cứu trong giai đoạn từ khi thực
hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhưng tập trung chủ yếu từ năm 2000 đến
nay.

6



1.1. Một số vấn đề lý luận
Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công
tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng. Quản lý nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo là yêu cầu khách quan của công tác tôn giáo. Các
nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò
của lĩnh vực công tác này. Gần đây, Nghị quyết số 25 – NQ/TW ngày
12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo
tiếp tục khẳng định cần “Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo” [28,
tr.340].
Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo và hoạt động
tôn giáo, về mặt lý luận cần nhận thức thống nhất một số vấn đề cơ bản sau
đây:
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
* Khái niệm quản lý:
Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” cho
đến nay vẫn có nhiều cách hiểu. Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau,
dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra những quan điểm khác
nhau về quản lý. Có quan điểm coi quản lý là tiến trình bao gồm các khâu lập
kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong
tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt mục tiêu
đã định trước. Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng
bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển
phù hợp với những quy luật nhất định.
8


Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song thuật ngữ quản lý đều
được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý thống nhất ở hai nội
dung:
Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của

trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) [46, tr.9].
* Khái niệm tôn giáo:
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức
xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua
hình thức phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã
hội đều trở thành thần bí “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo
– vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối
cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở
trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [51, tr.22]. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo dựa trên những luận điểm chủ yếu của chủ
nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, vừa là sự vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát
triển vào điều kiện Việt Nam và thời đại. Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đề ra những chủ
truơng, chính sách pháp luật, một mặt thể hiện tự do tín ngưỡng của nhân dân,
mặt khác chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá nước ta của các thế
lực thù địch.
Hiện nay ở Việt Nam, khái niệm tôn giáo chưa được giải thích cụ thể,
tuy nhiên, tùy cách tiếp cận mà đưa ra cách hiểu khác nhau về tôn giáo. Về
phương diện quản lý nhà nước, tôn giáo được hiểu là một cộng đồng người có
chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí, có hệ thống giáo lý hay một
giáo chủ, có một kết cấu là tổ chức giáo hội.

10


* Khái niệm hoạt động tôn giáo: Điều 3, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn
giáo đã khẳng định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý,
giáo luật, quản lý tổ chức của tôn giáo” [37, tr.346].
Việc truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là tuyên truyền
những lý lẽ về nguồn gốc sự ra đời, luật lệ của tổ chức tôn giáo. Thông qua

1.1.2. Yêu cầu khách quan, mục tiêu và nguyên tắc của công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
* Yêu cầu khách quan
Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo là công việc tất yếu của nhà nước, trong đó có nhà nước Việt Nam.
Trong quá trình quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo có
một số quan điểm cho rằng, hoạt động tôn giáo là hoạt động mang tính chất
nội bộ của tôn giáo, nhà nước không cần phải quản lý, điều chỉnh vì nếu nhà
nước quản lý thì sẽ không còn tự do tôn giáo. Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo
không chỉ thuần tuý nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, chức sắc,
nhà tu hành, mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội. Ví dụ như
việc xây dựng nơi thờ tự, không chỉ đơn thuần là việc củng cố, phát triển cơ
sở vật chất của giáo hội, mà còn liên quan đến những quy định của Nhà nước
về đất đai, quy hoạch, xây dựng; hoạt động in ấn kinh bổn, sản xuất đồ dùng
việc đạo liên quan đến những quy định về văn hoá, xuất bản; hoạt động quan
hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài liên quan đến chính sách,
pháp luật trên lĩnh vực đối ngoại, xuất nhập cảnh của nhà nước,... Mọi hoạt
động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân liên
quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà
nước. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở bất kỳ quốc gia nào cũng
không thể đứng ngoài pháp luật của quốc gia đó. Thực tiễn hiện nay cho thấy,
ở đâu có hoạt động tôn giáo thì đều có sự can thiệp, quản lý của nhà nước.
12


Tuy nhiên sự quản lý, điều chỉnh của nhà nước ở mức độ nào thì có sự khác
nhau, còn tùy thuộc vào từng nhà nước. Bên cạnh đó, yêu cầu của quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo không chỉ xuất phát từ ý chí của nhà nước mà
còn xuất phát từ thực tiễn khách quan của sự hình thành, tồn tại, phát triển và
những ảnh hưởng của tôn giáo trong lịch sử, trong đời sống xã hội hiện tại và

họa cho nhân loại.
Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phát huy
những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của tôn giáo, nhà nước cần
phải quản lý và tăng cường công tác quản lý tôn giáo, để các hoạt động tôn
giáo diễn ra phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với sự phát triển chung
của xã hội và nhu cầu tâm linh của quần chúng.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, cần thiết phải tăng cường
công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, xuất phát từ những lý
do sau:
Thứ nhất, quá trình đổi mới ở nước ta đang diễn ra sâu rộng trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo. Trong lĩnh vực
này, ngay sau ngày giành độc lập, khai s inh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Điều 10, chương II, mục B (Quyền
lợi và Nghĩa vụ) viết: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”.
Trong những năm gần đây, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn
đề tôn giáo ngày càng chứa đựng những nội dung mới và cụ thể: “Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, Đảng và
Nhà nước ta chủ trương và thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do tín
ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân” [52, tr.236].
Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ: “Công dân có quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước

14


bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm
phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” [50, tr.1].
Quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng, công tác quản lý nhà
nước đối với các hoạt động tôn giáo cần phải được tăng cường để đáp ứng
được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.

kể, ngày càng hoàn thiện, cơ bản đáp ứng được yêu cầu bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Cụ thể là từ khi có Nghị quyết 24 –
NQ/TW năm 1990 của Bộ chính trị Về tăng cường công tác tôn giáo trong
tình hình mới ra đời, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm quản
lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Đặc biệt, năm 2004, Pháp lệnh Tín
ngưỡng, tôn giáo, được ban hành, đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý
cao nhất về quản lý và điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo. Bên
cạnh đó, những quy định pháp lý liên quan đến hoạt động tôn giáo còn nằm
trong những quy định của văn bản pháp luật về dân sự, về đất đai, về bảo tồn
bảo tàng, về xây dựng,… Đó là những cơ sở pháp lý để nhà nước ta thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo và là những minh
chứng cụ thể đấu tranh với các thế lực thù địch vu cáo Nhà nước Việt Nam vi
phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền, góp phần ngăn chặn hành vi lợi
dụng tôn giáo.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, hệ thống pháp luật về tôn giáo đang
trong quá trình hoàn thiện nên chưa bao quát hết được một số nội dung những
hoạt động tôn giáo, chưa có tính cụ thể, đó là một trong những nguyên nhân
gây ra tình trạng lúng túng của các cấp chính quyền trong công tác quản lý
hoạt động tôn giáo ở cơ sở. Vì vậy, trước yêu cầu của việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và trước yêu cầu của công tác tôn
giáo hiện nay, việc xây dựng hệ thống pháp luật về quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo cần tiếp tục được củng cố và hoàn thiện.
16


Thứ tư, xuất phát từ âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch triệt
để lợi dụng các sơ hở, thiếu sót của ta trong việc quản lý nhà nước đối với tôn
giáo và thực hiện chính sách tôn giáo.
Lợi dụng mở cửa, hội nhập, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục
chống phá sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Tôn giáo

thì những hoạt động tôn giáo chính đáng, hợp pháp sẽ được Nhà nước bảo hộ,
những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện hành vi trái pháp
luật sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
* Mục tiêu quản lý
Mục tiêu là cái hướng tới và cần đạt được. Đối với công tác quản lý nhà
nước về hoạt động tôn giáo, cần những mục tiêu chủ yếu sau đây:
+ Mục tiêu tổng quát
Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng có
đạo, đồng thời chống lại những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo vì mục
đích phi tôn giáo, làm cho những hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ
của pháp luật, thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta đối với tôn giáo.
+ Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trước hết phải
bảo đảm được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho
các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo quy định của pháp luật
của Nhà nước.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của
con người đã được Công ước Quốc tế Về các quyền dân sự và chính trị của
Liên hợp quốc ghi nhận. Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu còn tồn
tại lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội loài người, chừng nào mà những
nguồn gốc làm nảy sinh nó chưa giải quyết được.
18


Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng
đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân. Năm 1945, chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên
ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình lịch sử, ngay trong phiên họp đầu tiên
của Hội đồng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Tất cả công dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status