LUẬN VĂN:
Quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
tỉnh bình phước
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tư cách là một hỡnh thỏi ý thức xó hội và là một hiện tượng xó hội, tụn giáo ra
đời và biến đổi như thế nào là do tồn tại xó hội quy định. Nhưng với tính độc lập tương
đối của mỡnh, tụn giỏo tác động trở lại tồn tại xó hội khá mạnh mẽ, với cả tích cực và
tiêu cực. Theo đó, vị trí, vai trũ của mỗi tụn giỏo ở từng khu vực, từng quốc gia và các
thời kỳ lịch sử khác nhau cũng không như nhau. Lịch sử phương Tây từng có thời kỳ
thần quyền chi phối thế quyền, giáo hội đứng trên nhà nước, tôn giáo thống trị toàn bộ
đời sống xó hội, chi phối cả phần hồn lẫn phần xỏc của con người; thậm chí, đó gõy ra
những cuộc chiến tranh tụn giỏo đẫm máu ở thời Trung cổ qua các cuộc Thập tự chinh
kéo dài hàng trăm năm. Song cũng có nhiều quốc gia, dân tộc được hưng khởi do có sự
đóng góp đáng kể từ phương diện tích cực của tôn giáo, như Việt Nam, Trung Hoa trong
lịch sử và Hàn Quốc đương đại.
Chớnh vỡ thế, dưới mọi thời đại, dù các quốc gia có thể chế chính trị như thế nào,
nhỡn chung đều có chính sách, pháp luật thích hợp để điều chỉnh hoạt động của tôn giáo
nhằm duy trỡ sự ổn định xó hội; để tôn giáo tác động đến các lĩnh vực của đời sống xó
hội theo hướng đồng thuận, mà trước hết, là đảm bảo lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc và tôn giáo. Chưa kể vài chục triệu người
khác vẫn giữ gỡn tớn ngưỡng truyền thống thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng dân gian, chỉ
tính riêng 6 tôn giáo lớn, nước ta đó cú gần 1/3 dõn số sinh hoạt tôn giáo thường xuyên.
Vỡ thế, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác tôn giáo theo hướng vừa đảm bảo nhu
cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân vừa kịp thời đấu tranh với các thế lực thù địch lợi
dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Để đảm bảo hiệu quả của công tác tôn giáo của hệ
thống chính trị thời kỳ đẩy mạnh và xây dựng nhà nước pháp quyền, thỡ việc nõng cao
phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xó hội, đấu tranh có hiệu quả đối với các
hiện tượng vi phạm pháp luật trong hoạt động tôn giáo. Công tác nắm đối tượng, tranh
thủ giáo sỹ, chống địch lợi dụng tôn giáo được các ngành chức năng thường xuyên quan
tâm và đó gúp phần đưa giáo hội đi theo chiều hướng hợp tác, tuân thủ pháp luật, củng cố
lũng tin của tớn đồ, chức sắc tôn giáo đối với Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, công tác QLNN đối với các hoạt động tôn giáo ở vùng đồng bào DTTS
trên địa bàn cũng cũn những hạn chế, yếu kém. Đó là việc chậm cụ thể hoá một số chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đối với tôn giáo. Việc thực hiện chính
sách tôn giáo cũn thiếu đồng bộ, có hiện tượng né tránh, đùn đẩy cho cấp trên hoặc cơ quan
khác. Cán bộ làm công tác tôn giáo của tỉnh nói chung và trong vùng đồng bào DTTS nói
riêng trong khi vẫn có thái độ hẹp hũi, định kiến với tôn giáo, thỡ lại cú biểu hiện buông lỏng
quản lý, thiếu chủ động trong ngăn ngừa những vi phạm pháp luật của các tôn giáo. Rồi nữa,
việc xác định nội dung QLNN đối với tôn giáo trong vùng đồng bào DTTS chưa rừ ràng.
Đặc biệt, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng DTTS ở Bỡnh Phước vẫn cũn yếu
kộm, cả về chuyờn mụn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác, đó là chưa kể số lượng cũn
thiếu, chưa thật sự yên tâm với công tác này.
Vậy, để đáp ứng những vấn đề cấp bách đó nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về tôn
giáo ở vùng đồng bào DTTS tỉnh Bỡnh Phước hiện nay, người viết chọn đề tài: Quản lý
nhà nước về tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bỡnh Phước.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Từ khi có Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, 10/1990, việc nghiên cứu vấn đề tôn
giáo, chủ trương, chính sách đối với tôn giáo ngày càng được nhiều nhà lý luận và quản
lý quan tõm. Như: Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay-mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp
thiết của Trung tâm Thông tin-Tư liệu, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm
1995; Đề tài cấp bộ thực trạng tỡnh hỡnh phục hồi, phỏt triển đạo Tin lành ở các vùng
dân tộc thiểu số nước ta và những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh, Tiến sỹ Nông
Văn Lưu chủ nhiệm, năm 1995; “Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở
rộng giao lưu quốc tế và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xó hội
- Phõn tớch thực trạng cụng tỏc quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở vùng đồng bào
DTTS tỉnh Bỡnh Phước, từ đó khái quát một số vấn đề đang đặt ra đối với công tác này.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo ở vùng đồng bào DTTS tỉnh Bỡnh Phước trong tỡnh
hỡnh mới.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở vùng đồng
bào DTTS tỉnh Bỡnh Phước từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo; quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về
tôn giáo và QLNN về tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ chủ trương của UBND tỉnh
Bỡnh Phước đối với tôn giáo và công tác tôn giáo trong vùng đồng bào DTTS.
Thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng những nguyên tắc phương pháp luận của
CNDVBC và CNDVLS; đồng thời sử dụng tổng hợp những phương pháp khoa học cụ
thể, như phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu cùng
phương pháp của xó hội học.
6. Đóng góp của luận văn
- Khái quát một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong công tác QLNN đối với tôn
giáo ở vùng đồng bào DTTS tỉnh Bỡnh Phước.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả
QLNN đối với tôn giáo ở vùng đồng bào DTTS tỉnh Bỡnh Phước hiện nay và sắp tới.
7. í nghĩa thực tiễn của đề tài
- Luận văn là một cơ sở tham khảo để xây dựng, bổ sung chủ trương đối với tôn
giáo và công tác tôn giáo nhằm đảm bảo tốt hơn công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
vùng đồng bào DTTS của Bỡnh Phước.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong trường Chính trị tỉnh
Bỡnh Phước
thức kinh tế, đó là canh tác lúa rẫy trong vùng rừng già nhiệt đới. Đây là nền kinh tế nông
nghiệp sản xuất tự cấp, tự túc chủ yếu dựa vào phương thức quảng canh trên rẫy, trỡnh độ
kỹ thuật thô sơ, tổ chức lao động tập thể giản đơn theo tập quán cổ truyền.
Những năm qua, với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thông qua các
chương trỡnh dự ỏn như Chương trỡnh 134, 135…về việc hỗ trợ đồng bào DTTS điện,
đường, trường, trạm, nhà ở, đất sản xuất, cây con giống…nên đời sồng đồng bào DTTS
đó được cải thiện, từng bước được nâng cao. Số hộ giàu đó tăng lên và ngày càng có
nhiều mụ hỡnh nụng dõn là người DTTS làm kinh tế giỏi, có mức thu nhập trên dưới 100
triệu đồng/hộ/năm. Việc thực hiện Chương trỡnh 134 về hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở, cụng
trỡnh nước sạch cho đồng bào DTTS được lónh đạo tỉnh quan tâm, tạo điều kiện để họ ổn
định cuộc sống, an tâm sản xuất. Đến nay, chương trỡnh đất ở, cụng trỡnh nước sạch sinh
hoạt cho đồng bào DTTS cơ bản đó hoàn thành. Riêng việc hỗ trợ đất sản xuất đạt tỷ lệ
88,9% so với đề án phờ duyệt. Tỡnh hỡnh thực hiện Chương trỡnh 135, Chương trỡnh
168, chính sách trợ cước, trợ giá, định canh - định cư theo Quyết định 33/2007/QĐ – TTg
và Quyết định 32/2007/QĐ - TTg được toàn tỉnh tiếp tục chỉ đạo thực hiện. Ngày
10/10/2008, UBND tỉnh ban hành thêm Quyết định về thực hiện chính sách hỗ trợ di dân
thực hiện định canh - định cư cho đồng bào DTTS giai đoạn 2007 – 2008 trên địa bàn
tỉnh. Mỗi khu định canh - định cư cũng được quy định cụ thể về điện sinh hoạt, đường
giao thông nông thôn, trường học…ngoài ra, mỗi cụm cũn được hỗ trợ khoa học kỹ thuật
tương đương 30 triệu đồng/năm. Nhân dịp tết của đồng bào DTTS các cấp uỷ Đảng,
chính quyền, MTTQ và các đoàn thể tổ chức đàn đi thăm, chúc tết và tặng quà cho bà con
dân tộc nghèo có đạo không có điều kiện đón tết.
Tuy nhiên, vẫn cũn những vấn đề đáng quan tâm, đó là do chưa hiểu đúng chủ
trương của tỉnh, bị kẻ xấu lợi dụng xúi dục, một số bà con đó tụ tập đông người đi khiếu
kiện tập thể vượt cấp, làm ảnh hưởng xấu đến tỡnh hỡnh an ninh chớnh trị, trật tự an toàn
xó hội ở một số địa phương, như: xó Nghĩa Trung, huyện Bự Đăng; xó Đồng Tiến, huyện
Đồng Phỳ; xó Phước Tiến và Hưng Phước, huyện Bù Đốp. Một bộ phận đồng bào DTTS
trỡnh độ dõn trớ cũn thấp, đời sống kinh tế cũn khú khăn, thu nhập chưa cao, chưa ổn
đó được thay đổi, bởi vỡ văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo nên. Từ những hoạt động sáng tạo của người dân đến sức sống của cả một
xó hội, những phương thức sản xuất, những hỡnh thức tổ chức lao động, ước mơ và khát
vọng…luôn cho thấy tôn giáo luôn gắn chặt với văn hoá. Đối với đồng bào DTTS, do
điều kiện tự nhiên chi phối, tín ngưỡng và tâm linh lại càng gắn bó mật thiết với văn hoá.
Bởi vậy khi nghiên cứu văn hoá của mỗi dân tộc, nếu thiếu yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo
thỡ không thể có kết quả khoa học đúng nghĩa.
Về tâm lý của các DTTS, thường có sự quyết định của ba yếu tố, là tự nhiờn, xó
hội và lịch sử. Điều kiện tự nhiên về nhiệt độ ẩm, độ rừng già rậm rạp, thú dữ, thêm vào
đó nền nông nghiệp lúa rẫy là những yếu tố tác động rất sâu đậm đến đời sống vật chất
văn hoá tinh thần của đồng bào DTTS. Theo đó, hỡnh thành tính cách, tâm lý của đồng
bào DTTS. Đó là: Giản dị, chân thành, chất phát trong cuộc sống; hay sợ hói, dễ tin
tưởng, hay mặc cảm tự ty, khiêm tốn trong ứng xử; nặng nghĩa tỡnh trong quan hệ người
- người, tính đoàn kết cộng đồng cao; cần cù chịu đựng, chịu khó, cẩn thận và chậm chạp.
Nhưng đó cũng chưa phải là yếu tố chủ yếu quyết định, yếu tố quyết định hơn cả là yếu
tố xó hội và lịch sử đó chi phối nhiều nhất đến đặc điểm tâm lý, tính cách, bản sắc dân
tộc của họ. Cộng đồng DTTS Bỡnh Phước cũng như các cộng đồng tộc người ở nơi khác,
mỗi cộng đồng có thể hỡnh thành và duy trỡ sự tồn tại của mỡnh trong sự liờn kết các cá
nhân trong cộng đồng một cách lâu dài trong lịch sử. Như ở cộng đồng của dân tộc
S'tiêng, tính cộng đồng của họ rất cao, như là một nột tõm lý, tớnh cỏch đặc trưng của
người DTTS bản địa. Trong quá trỡnh hỡnh thành những đặc điểm tâm lý, cấu tạo nên
bản lĩnh, bản sắc của cộng đồng DTTS, lưu giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mỡnh
thỡ vai trũ, vị trớ của cỏc già làng, kể cả trước và sau 1975 cho đến nay là rất to lớn.
Trong chiến tranh, các già làng đó vận động bà con buôn sóc đứng lên đũi quyền
dõn sinh, dõn chủ, tự do cơm áo, hoà bỡnh; đó bỏ nhiều công sức, của cải để vận động,
động viên đồng bào mỡnh vào bộ đội đánh giặc cứu nước, chống bắt phu, bắt lính để bảo
vệ buôn sóc núi rừng. Các già làng và đồng bào DTTS đó nhiệt tỡnh giỳp đỡ cán bộ, bộ
đội, kịp thời thông báo tỡnh hỡnh của địch, nuôi dấu cán bộ, ủng hộ heo gà, lúa gạo, làm
mẫu hệ vẫn tồn tại, chi phối đời sống cộng đồng của nhiều DTTS ở Bỡnh Phước. Gia
đỡnh, dũng họ và làng, buụn, súc là một thiết chế cơ bản có chức năng tái sản sinh ra văn
hoá của từng dân tộc; là môi trường bền vững của quá trỡnh bảo tồn, lưu truyền, phát huy
bản sắc dân tộc; là nơi đào luyện các thế hệ theo giá trị nhân văn của từng dân tộc trong
cộng đồng các DTTS ở Bỡnh Phước.
1.1.2. Sự hỡnh thành và phõn bố dõn cư của các dân tộc thiểu số trên địa bàn
tỉnh Bỡnh Phước trước và sau 1975
- Sự hỡnh thành và phõn bố dõn cư trước năm 1975:
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, người S'tiêng đến cư trú tại núi Bà Đen (tỉnh
Tây Ninh) và núi Bà Rá (tỉnh Phước Long cũ). Vùng lónh thổ mà bộ tộc người S'tiêng có
khả năng cư trú rộng là từ tỉnh Tây Ninh qua Sông Bé đến lưu vực sông Đăk Quít tiếp
giáp Campuchia. Theo một tác giả người Pháp là Raulin, vào năm 1875, các sóc người
S'tiêng, Khmer ở vùng Hớn Quản mang địa danh Hán Việt do triều đỡnh nhà Nguyễn đặt
cho, như An Lộc, Bỡnh Tõy, Đông Phất, Đồng Nơ, Xuân La, Nha Bích... (nay thuộc
huyện Bỡnh Long và huyện Chơn Thành).
Vào những năm 1950 người S'tiêng vùng núi Bà Rá cư trú dọc theo 2 bờ sông Bé,
tại vùng Hớn Quản và có một số sóc người Chăm đang trên đường hoà nhập vào tộc
người S'tiêng. Theo số liệu thống kê, vào năm 1926, ở địa bàn này số người Kinh Nam
Bộ có 105.968 người, người Kinh Bắc Bộ và Trung Bộ có 4.122 người; người S'tiêng có
11.945 người; người Khmer có 2.469 người; người Chăm có 453 người… Từ cuối thế kỷ
XIX, người S'tiêng vùng Hớn Quản (Bỡnh Long) đó cú sự giao tiếp văn hoá với người
Khmer, Chăm và ảnh hưởng từ nền văn hoá của 2 dân tộc trên rất rừ nột, nhất là trong tớn
ngưỡng, hôn nhân gia đỡnh và sự giao lưu kinh tế - văn hoá - xó hội. Tuy vậy tập quỏn
của người S'tiêng rất gắn bó với núi rừng, nương rẫy, với nhiều ngọn núi, con sông, con
suối, săn bắt và hái lượm do thiên nhiên ưu đói. Người dân tộc S'tiêng được phân chia
thành 3 khu vực cư trú:
+ Vùng miền núi (thượng lưu, tức là Cao Nguyên) là tộc người S'tiêng Bù Piết, do
sống tiếp giáp với nước bạn Campuchia và với dân tộc Êđê, Mơnông Tây Nguyên nên
Trăn, con Hổ, con Voi, con người… đều có linh hồn riêng, mà họ thường gọi là "cái ma"
của nó. Từ đó họ luôn có niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, dẫn tới tư tưởng sùng bái,
cúng tế hỡnh thành yếu tố tớn ngưỡng, tôn giáo.
Cuối năm 1976, qua cuộc vận động định canh định cư, đồng bào DTTS đó bỏ cỏch
sống phõn tỏn trong nỳi rừng về sống tập trung thành từng cụm dõn cư, phum sóc xen kẽ
hoặc bên cạnh các thôn của người Kinh. Theo số liệu thống kê, vào những năm 1978,
1979 tại huyện Phước Long có 25.328 người là đồng bào DTTS, chiếm 1/3 dân số của
huyện, đông nhất là người S'tiêng với dân số là 20.402 người chiếm 80%. Huyện Lộc
Ninh, vào năm 1979, DTTS là 11.479 người, chiếm 78% dân số làm lúa nước (ruộng) và
sử dụng trâu bũ cày kộo một cỏch thành thạo, năng suất lao động cao, đời sống phần nào
được cải thiện, cộng đồng người S'tiêng cũng chiếm phần đông. Tại huyện Đồng Phú,
vào những năm này người DTTS có 3.317 người chủ yếu là người S'tiêng, Khmer chiếm
8,2% dân số của huyện. Huyện Bỡnh Long, DTTS là 14.000 người, chiếm 16% dân số
toàn huyện, trong đó người S'tiêng 12.533 người, chiếm 89% dân số dân tộc toàn huyện.
Bên cạnh những đặc điểm về phân bố dân cư, mật độ dân số giữa vùng đô thị và nông
thôn cũng có sự chênh lệch nhau. Như huyện Phước Long là 97 người/km2; thị trấn
Phước Bỡnh (Phước Long) là 62 người/km2; xó Đồng Nai (Bù Đăng) chỉ có 3 người/km2.
Do đó việc phân bố lại dân cư, lao động để khai thác tiềm năng đất đai theo quy hoạch
phát triển kinh tế xó hội và tiếp nhận dõn cư, lao động của các huyện là điều cần thiết,
nên lúc bấy giờ dân số chung của tỉnh (Sông Bé) là 577.256 người, thỡ đến năm 1981 lên
tới 678.600 người.
Số DTTS của tỉnh Bỡnh Phước đó có biến động sâu sắc, cả về cơ học lẫn tự
nhiên. Dưới thời Pháp, người S'tiêng cả nước có khoảng 50.000 người, đến thời Mỹ nguỵ
(1967) chỉ cũn 40.000 người và cho đến ngày thống nhất đất nước, theo thống kê năm
1976, chỉ cũn 35.000 người. Có nhiều nguyên nhân để giải thích hiện tượng này, nhưng
đáng kể là do cuộc chiến tranh ác liệt, do dịch bệnh, đói kéo dài triền miên, do hậu quả
lâu đời của chính sách đàn áp mà chủ nghĩa thực dân đó thực hiện ở vựng nỳi tỉnh Bỡnh
Phước dẫn đến tỷ lệ tử vong ở đồng bào DTTS rất cao.
mất mùa, sẽ thiếu đói.
Lễ hội đâm trâu, lễ hội cầu mưa, lễ hội phá bàu để có đất sản xuất…đều xuất phát
từ đặc điểm của nền nông nghiệp lúa rẫy và trong suy nghĩ của người dân cần có sự che
trở của lực lượng siêu nhiên, từ đó nó được hỡnh thành và lưu giữ những nét độc đáo,
mang đậm sắc thái văn hoá truyền thống đến không thể thiếu được. Lễ hội được phong
phú hơn, trang trọng hơn, cũn do cú cỏc hỡnh thức văn hoá nghệ thuật, là những câu hát,
điệu múa, câu ca dao dân gian mang âm hưởng vui tươi, đoàn kết, mà không thể thiếu
được trong những buổi lễ hội truyền thống của đồng bào S'tiêng.
Người S'tiêng cũn cú những cổ vật như Xà lung, Cồng chiêng, Kèn, Sáo, Kèn
sừng trâu phục vụ trong việc lễ hội. Cổ vật này ngay từ xa xưa có ý nghĩa thật đơn giản,
là những công cụ phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp, như đuổi chim giữ lúa, đuổi thú
rừng đừng phá nương rẫy hoa màu và luôn gắn liền với đời sống của đồng bào, ngày nay
nó được lưu truyền, không thể thiếu trong các lễ hội, đám cưới, ma chay và các lễ hội văn
hoá khác. Người S'tiêng, luôn bám đất, bám rừng nếu thực phẩm hàng ngày của họ là lá
rừng, củ rừng là những bài thuốc rất có giá trị và cũng là thực phẩm trong bữa ăn hàng
ngày. Những món ăn truyền thống của họ là lá nhíp, đọt mây, củ chụp, củ nần mà trong
các buổi lễ hội ngày nay luôn được lưu giữ (Canh thụt, Canh bồi, Cơm ống). Ngoài ra,
cũn cú loại rượu được chế biến từ các loại lá rừng, vỏ cây (lá thuốc) thêm một ít men
rượu cũng được đặc chế từ các vỏ cây kéo. Loại rượu cần của các dân tộc thiểu số, kể các
các dân tộc thiểu số phía Bắc, đều có đặc điểm chung, nhưng tuỳ theo mỗi vùng có thể
dùng vào các lễ hội khác nhau, để mời đói khỏch quý đến nhà, hay dịp lễ hội truyền
thống và dịp tết cổ truyền. Trong những ngày lễ hội, họ thường hát đối đáp nhau, mà
S'tiêng Pù Piết và Mơnông gọi là Tăm Prất, S'tiêng Bù Lơ gọi là Sâm Prănh, S'tiêng Bù
Đếh gọi là P'Đrâu.
Hôn nhân gia đỡnh ở người S'tiêng theo chế độ phụ hệ và mẫu hệ. Tục Lệ - Luật
Tục mẫu hệ, phụ hệ của người S'tiêng, Mơnông, trong cưới hỏi là: Con gái được cưới trả
đủ của như lúc ông nội cưới bà nội, hoặc bố lúc cưới mẹ, giá trị của được trả được trừ
dần vào lúc ở rể về thời gian. Trong hôn nhân gia đỡnh biểu hiện đặc trưng tộc người
Đặc trưng xó hội của người Khmer ở Bỡnh Phước được biểu hiện qua hệ thống cư
trú, phum, sóc, tín ngưỡng chủ yếu là đạo Phật tiểu thừa và cấu trỳc xó hội của nền kinh
tế tiểu nụng. Nếu người S'tiêng thường làm lúa rẫy, chăn nuôi trâu thỡ người Khmer lại
chăn nuôi bũ làm phương tiện kéo xe, cày, bừa và làm lúa nước. Đó là đặc trưng của
người Khmer nói chung và người Khmer Bỡnh Phước nói riêng. Qua quá trỡnh lịch sử,
giao lưu văn hoá, thích ứng với điều kiện môi sinh, số đông người Khmer Bỡnh Phước
trở lại việc canh tác lúa rẫy, vốn là hỡnh thức canh tỏc truyền thống của họ.
Cũng như cộng đồng người Khmer đồng bằng Sông Cửu Long, đời sống văn hoá
người Khmer Bỡnh Phước luôn gắn liền với tâm linh chùa chiền, đỡnh, miếu. Cũn văn
hoá nghệ thuật, từ lâu họ đó cú những làn điệu múa, ca dao mang âm hưởng ngọt ngào và
trang trọng, là tiếng hát lời ca, lời ru . . . như điệu múa hát Răm Vông, RôBan, Yukê,
Lămthôn, mà mỗi điệu múa, lời hát đều có những trang phục sắc thái riêng. Rôban là
hỡnh thức kịch mỳa đó cú mặt từ rất lõu đời; Yukê là hỡnh thức kịch được ra đời vào
khoảng năm 1920 - 1930. Đặc biệt, người Khmer cũn có lễ hội cúng trăng (lễ Okom
Bok, lễ hội Cholchnăm Thmây), đây là nét đặc trưng mang đậm nét văn hoá sắc thái
của cộng đồng người Khmer.
Cho tới nay, Bỡnh Phước là tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên có 41 thành phần
các dân tộc anh em cùng sinh sống, góp phần làm đa dạng phong phú kho tàng văn
hoá của địa phương. Cùng dựa trên cơ sở khuynh hướng tâm linh, lễ hội được tổ chức
một cách trang nghiêm và thành kính với những nghi thức, lễ tiết đó được quy định
sẵn từ lâu đời. Bên cạnh những thể thức chung, cũn phải đảm bảo được một số tục lễ
nhất định, mà chỉ nơi này có mà nơi khác không tồn tại, chỉ dân tộc này có mà dân tộc
khác không có.
Cho dù có những sắc thái đặc trưng của mỗi thành phần dân tộc từ những nơi khác
nhau, nhưng nay họ đó hội tụ về đây góp phần làm đa dạng phong phú của nền văn hoá
đậm đà bản sắc của tỉnh nhà.
1.2. TèNH HèNH TễN GIÁO Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỈNH BèNH PHƯỚC
Giỏo hạt Bỡnh Long hoạt động trên điạ bàn 4 huyện, là Bỡnh Long, Chơn Thành,
Lộc Ninh, Bù Đốp, có 14 Giáo xứ, 4 Giáo họ với số tín đồ 23.263 người, được chăm sóc
bởi 13 Linh mục, 12 tu sỹ và 12 cơ sở cầu nguyện trái pháp luật.
Giáo hạt Phước Long hoạt động trên địa bàn 4 huyện, thị là huyện Phước Long,
Bù Đăng, Đồng Phú và thị xó Đồng Xoài. Giáo hạt có 19 Linh mục, 25 tu sỹ hoạt động từ
thiện, ở 18 Giáo xứ, 24 Giáo họ và 33 cơ sở cầu nguyện trái pháp luật, với số giáo dân
59.006 người.
Cơ sở thờ tự của 2 Giáo hạt có 101, trong đó 56 cơ sở hợp pháp và 45 không hợp
pháp.
Trong những năm qua, hoạt động của đạo Công giáo nổi lên việc sai phạm có tính
hệ thống của một số chức sắc thuộc Giáo hạt Phước Long, như việc chỉ đạo cho xây
dựng, sửa chữa không xin phép; tổ chức lễ hội dân tộc đông người từ nhiều địa phương
(không có truyền thống, không phải lễ hội tôn giáo); chỉ đạo bầu Ban hành giáo, Hội
đồng giáo xứ không theo nguyên tắc, không được sự thống nhất của chính quyền; giăng
panô, áp phích với nội dung huyễn hoặc, khôi phục các hội đoàn trước năm 1975 không
đúng tính chất, không xin phép chính quyền và có thái độ hoạt động chống đối. Đứng
đằng sau việc khiếu kiện đất đai (Giáo xứ Tõn Chõu, Bỡnh Long) của Hội đồng Giáo xứ.
Bên cạnh đó, tỉnh có 19 tổ chức hội đoàn, với 5.527 hội viên Công giáo chưa quản lý
được.
1.2.1.2. Phật giáo
- Thời kỳ trước 1975
Phật giáo du nhập vào vùng đồng bào DTTS tỉnh Bỡnh Phước từ thế kỷ 17, theo
chân những người Kh'me đi buôn bán và khai khẩn đất hoang, bên cạnh những người
Hoa "Phản Thanh phục Minh" bị triều đỡnh nhà Thanh truy đuổi chạy sang Việt Nam
được Chúa Nguyễn và sau này là triều đỡnh nhà Nguyễn cho phộp định cư tại khu vực
miền Đông Nam bộ để khai hoang phục hoá. Địa điểm Phật giáo đặt chân đến Bỡnh
Phước đầu tiên là tại khu vực Bỡnh Long. Tuy nhiờn, thời kỳ này đạo Phật chỉ phát triển
ở cỏc dõn tộc này, cũn cỏc dõn tộc bản địa vẫn giữ nguyên hệ thống tín ngưỡng đa thần.
Vào khoảng tháng 10/1953, vợ chồng Mục sư Đặng Văn Sung-Diệp thị Do (người
Sóc Sói, tỉnh Bến Tre) từ Quảng Đức sang truyền đạo cho người Kinh và đồng bào DTTS
tỉnh Phước Long (cũ). Ban đầu đạo Tin lành phát triển vào vùng đồng bào DTTS ở các sóc
Bom Be, Bù Lạch (Bù Đăng), về sau phát triển sang sóc Bù Kroai, Sơn Trung, Đăk Son, Sơn
Hà, Bù Nho (Phước Long). Đến trước năm 1975, tại Phước Long, Mục sư Đặng Văn Sung
làm Trưởng Ban trị sự Chi hội Hội Thánh Tin lành tỉnh, trực thuộc địa hạt Nam Thượng hạt.
Chi hội có khoảng 7.000 tín đồ, sinh hoạt tại 4 nhà thờ là:
+ Nhà thờ ở xó Sơn Giang, huyện Phước Long, do Mục sư Đặng Văn Sung cai
quản, cùng Ban trị sự gồm 5 người.
+ Nhà thờ ở xó Bự Nho, huyện Phước Long do truyền đạo Lê Hiên phụ trách.
+ Nhà thờ ở Hoà Đồng, huyện Bù Đăng do truyền đạo Y Hớ phụ trách, cùng Ban
chấp hành chi hội gồm 4 người.
+ Nhà thờ ở Phước Ninh, huyện Bù Đăng do truyền đạo Đặng Phước Thành (con
trai Mục sư Đặng Văn Sung) cai quản cùng Ban chấp hành chi hội gồm 4 người.
Ngoài ra, tại Phước Long cũn cú một ký tỳc xỏ học sinh DTTS gồm 300 học sinh
(50 học sinh cô nhi và 250 học sinh nội trú) học văn hoá (chữ Việt, tiếng S'tiêng) và học
giáo lý dưới sự dạy dỗ của 5 nữ tu sỹ người Việt và 2 nữ tu sỹ người Tân Tây Lan.
Vào năm 1954, bắt đầu xuất hiện đạo Tin lành, nguồn gốc do số dân di cư - nhất là
số dân ở Quảng Nam - Đà Nẵng vào sinh sống ở vùng thị trấn, dần dần phát triển sang
người DTTS bản địa. Năm 1957, nhà thờ đầu tiên được xây cất ở khu vực Phú Thịnh
(nay thuộc thị trấn An Lộc, Bỡnh Long) do Mục sư Nguyễn Thanh Phong phụ trách và
truyền đạo.
Hội Thỏnh Tin lành tỉnh Bỡnh Long (cũ) trực thuộc hai địa hạt Đông Nam hạt đối
với tín đồ người Kinh; Nam Thượng hạt đối với tín đồ người DTTS. Ký tỳc xỏ học sinh
người DTTS là nơi được đặc biệt chú ý truyền đạo. Năm 1964, ông Điểu Huynh - người
dân tộc S'tiêng được cử đi học Thánh Kinh thần học viện Nha Trang 5 năm, khi về đảm trách
truyền đạo cho cả người Kinh và người dân tộc thiểu số. Đến năm 1970, ông Điểu Huynh
chuyển hẳn sang phụ trách nhà thờ truyền đạo cho tín đồ DTTS thuộc Nam Thượng hạt.
đạo vào nước ta sau này.
- Thời kỳ 1975-1990
Thời kỳ này Fulrô hoạt động gây mất ổn định an ninh, trật tự trong vùng đồng bào
DTTS. Sau đó, quân “Khmer đỏ” gây áp lực về quân sự và tăng cường chiến tranh phá
hoại ở biên giới Tây Nam. Trên địa bàn Bỡnh Phước, các đơn vị bộ đội và du kích là
người S'tiêng, Khmer… đó tham gia truy quột bọn phản động Fulrô và phát động phong
trào BVANTQ vùng DTTS để tố giác bọn phản động, bóc gỡ cơ sở Fulrô tại các buôn,
sóc; đẩy lui sự lấn chiếm, phá hoại của quân “Khmer đỏ”.
Thời kỳ này, đạo Tin lành ngưng hoạt động, bởi vỡ tớn đồ Tin lành là người đồng
bào DTTS hầu như có liên quan với Fulrô, và số này đều bị đưa đi học các lớp cải tạo.
Bên cạnh đó, Nhà nước không cho phép đạo Tin lành hoạt động. Do vậy, thời gian này
không có tín đồ Tin lành hoạt động tôn giáo, họ trở về buôn sóc cũ, nhưng không nhóm
họp hay đi lễ nhà thờ. Trong kê khai nhân hộ khẩu, họ khụng ghi mỡnh theo đạo Tin
lành. Tín đồ đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh giảm từ 13.000 người năm 1975, xuống cũn
trờn 300 người năm 1980, nên có thể nói, đây là thời kỳ khô, nhạt đạo đáng kể nhất của
đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Bỡnh Phước. Nhưng rồi do có sự phát triển kinh tế - xó
hội, và chớnh sỏch định canh, định cư nên cuộc sống tạm thời ổn định, tạo thuận lợi cho
việc đi lại, thăm viếng người thân ở nhiều địa phương thường xuyên hơn, các mối quan
hệ, giao lưu được nối lại. Đời sống được nâng lên, nhu cầu tinh thần cũng đũi hỏi ngày
càng cao và cỏc tớn đồ Tin lành cũ bắt đầu liên hệ với các giáo sỹ trước năm 1975 chuẩn
bị cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ. Tuy nhiên, các hỡnh thức nhúm họp, sinh hoạt lỳc ấy
cũn lén lút. Đến năm 1986, có 3.668 tín đồ đạo Tin lành, mà hầu hết là tín đồ Tin lành cũ
đó hoạt động trở lại.
Từ năm 1986, với đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng ta, đặt trọng tâm vào
việc phát triển kinh tế, đưa đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở
rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài. Vỡ thế, việc quản lý cỏc hoạt động tôn giáo ít được
chú ý, có phần lỏng lẻo ở các địa phương cơ sở. Các tín đồ, chức sắc Tin lành cũ đó múc
nối, hoạt động mạnh trở lại, lén lút nhóm họp, tuyên truyền, rao giảng Kinh thánh, xây
Phái Tin lành ngũ tuần do Mục sư Trần Mai đứng đầu; phái Liên hữu cơ đốc do
Mục sư Hoàng Kim Thanh đứng đầu đó cựng nhau liờn kết, phỏt triển tớn đồ, mở rộng
uy tín của mỡnh trờn địa bàn Bỡnh Phước. Ngoài ra cũn 3 hệ phỏi là Bắp tớt, Cơ đốc
Phục lâm, Tư gia cũng tăng cường ảnh hưởng của mỡnh trong vựng đồng bào DTTS. Từ
sau khi có Chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ (2005), các hệ phái Tin lành khác phát
triển nhanh chóng trên địa bàn tỉnh. Theo thống kê năm 2002, ở Bỡnh Phước có 7 hệ
phái, nhưng đến năm 2005, đó lờn tới 17 hệ phỏi, đến nay đó cú 19 hệ phỏi. Số hệ phỏi
cú sự biến động chủ yếu là do có sự chia tách nhóm tín đồ giữa các hệ phái. Nguyên nhõn
của sự “phỏt triển” này cú thể núi là việc quản lý trước đây chưa chặt chẽ, số tín hữu các
hệ phái vẫn thường xuyên sinh hoạt và đến khi có chủ trương cho đăng ký theo Chỉ thị 01
của Thủ tướng, thỡ cỏc nhúm này được đăng ký và ra cụng khai, từ đó chính quyền cơ sở
mới cơ bản quản lý được sinh hoạt các nhóm đạo Tin lành.
Hiện nay, toàn tỉnh Bỡnh Phước có 19 hệ phái Tin lành chưa được nhà nước công
nhận về mặt tổ chức, với 152 điểm nhóm, và 8.419 tín hữu, trong đó có 3.210 tín hữu đó
Bỏptem, thuộc địa bàn 8 huyện thị của tỉnh.
Các nhóm mà đồng bào có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo thuần tuý, tuõn thủ phỏp
luật thỡ chớnh quyền hướng dẫn, tạo điều kiện cho các nhóm trưởng đăng ký sinh hoạt
tụn giỏo với chớnh quyền xó, phường, thị trấn và vận động người đứng đầu các hệ phái