ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM.
Cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự ra đời của BHXH Việt Nam là bản Hiến
pháp năm 1946. Điều 14 Hiến pháp 1946 khẳng định: “ Những người công nhân
già cả hoặc tàn tật không làm việc được thì được giúp đỡ”. Chính phủ đã ban
hành các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp BHXH như:
- Sắc lệnh số 20/SL ngày 16 tháng 2 năm 1947 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký quy định về chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử
sĩ đối với những quân nhân cấp bấc binh, sĩ, uý, tá và tướng thuộc các
nghành Quân đội Quốc gia Việt Nam.
- Sắc lệnh số29 /SL ngày 12 tháng 3 năm 1947 quy định về các quan hệ
làm công.
- Sắc lệnh số 70/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 về quy chế công chức Việt
Nam.
- Sắc lệnh số 77/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 ban hành quy chế công dân.
Những quy định về BHXH đầu tiên này đã đặt nền móng cho việc xây
dựng và thực hiện pháp luật BHXH sau này.
Sự phát triển của BHXH Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước là sự
cụ thể hóa đướng lối, chính sách của Đảng trên phạm vi cả nước theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung. BHXH trong thời kỳ này đã đảm bảo được điều kiện sống
thiết yếu về vật chất và tinh thần cho hàng triệu công nhân, viên chức nhà nước,
quân nhân và gia đình họ trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được,
không có thu nhập hoặc khi già yếu, mất sức lao động hoặc qua đời. Chính sách
BHXH đã động viên được đội ngũ công nhân, viên chức nhà nước gắn bó với
với cách mạng, hăng say chiến đấu, lao động sản xuất, xây dựng đất nước.
Cuộc cách mạng trong quá trình phát triển của BHXH thực sự bắt đầu từ
khi Bộ Luật Lao động do Quốc hội khoá IX thông qua 23/6/1994 có hiệu lực
ngày 01/01/1995 trong đó có chương IX quy định về BHXH. Tiếp đó điều lệ
BHXH được ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của
Chính phủ về những nội pháp luật BHXH trong nền kinh tế đổi mới.
Văn phòng
Ban Chế độ Chính sách
Ban Chi BHXH
Ban Thu BHXH
Phòng Quan hệ quốc tế
Ban Quản lý ĐT và XD
Báo Bảo hiểm xã hội
Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Trung tâm Nghiên cứu KH
Trung tâm Đào tạo
Trung tâm lưu trữ
Bảo hiểm xã hội Thành phố
Bảo hiểm xã hội Quận, Huyện, Thị xã
II. XÁC ĐỊNH CÁC CHỦ THỂ VÀ KHÁCH THỂ TRONG QUẢN LÝ
BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
1. Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội
Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với bất kỳ lĩnh vực kinh tế - xã hội
nào cần thiết phải chỉ ra chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, để từ đó thấy được
đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội đó.
Xét về mặt xã hội
Chủ thể quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội là nhân
dân lao động - lực lượng nắm toàn bộ quyền lực nhà nước. Điều này được quy
định tại điều 2 hiến pháp năm 1992: : “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ chí thức”. Tuy nhiên việc nắm
quyền lực của nhân dân phải thông qua hình thức đại diện, và như vậy sẽ có sự
hiện diện của một loại chủ thể thực tế là chủ thể pháp lý. Bản thân cơ quan nhà
nước không tự có quyền được mà được nhân dân uỷ nhiệm theo thẩm quyền cụ
dưới góc độ chủ thể hình thức.
Trong cơ cấu tổ chức hành chính nhà nước, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong phạm vi thẩm
quyền và trách nhiệm được Chính phủ giao. Các bộ có chức năng quản lý nhà
nước đối với hoạt động BHXH theo trách nhiệm quản lý nhà nước đối với
nghành hoặc lĩnh vực được Chính phủ giao, cụ thể là:
- Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quỹ
BHXH và mọi hoạt động tài chính BHXH.
- Bộ Lao động - Thương binh và xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà
nước đối với lĩnh vực, chế độ chính sách BHXH.
- Bộ y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực chăm sóc
y tế.
Căn cứ nghị định số 30/2003/NĐ-CP ngày 01/04/2003 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan trực thuộc
chính phủ và Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 của Chính phủ
quy định quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, và cơ cấu tổ chức của
BHXH Việt Nam thì BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức
năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH theo
quy định của pháp luật. Có thể coi chủ thể BHXH Việt Nam là chủ thể đặc biệt
trong lĩnh vực tổ chức và quản lý hoạt động BHXH.
Theo điều 8 Luật BHXH quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước về BHXH bao
gồm:
1) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về BHXH.
2) Bộ lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện quản lý nhà nước về BHXH.
3) Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình thực
hiện quản lý nhà nước về BHXH
4) Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về BHXH trong
phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ.
Để cụ thể hoá chức năng quản lý nhà nước có Hội đồng quản lý Bảo hiểm
hợp, người được hưởng còn là thân nhân trong gia đình người lao động.
Đây là quan hệ chủ yếu trong quan hệ BHXH, vì mục đích của BHXH là
đảm bảo vật chất cho cuộc sống của người lao động và thân nhân của họ khi họ
mất hoặc giảm khả năng lao động trong trường hợp gặp các rủi ro theo quy định
của Luật BHXH hoặc hết tuối lao động. Quan hệ trong việc hình thành quỹ là
tiền đề, là điều kiện để thực hiện quan hệ trong việc chi trả các chế độ trợ cấp
BHXH và hai quan hệ này tạo thành quan hệ BHXH.
III. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
1. Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Năm 2007 là năm đánh dấu bước phát triển mới trong lĩnh vực BHXH với
việc Luật BHXH đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực ngày
01/01/2007. Cùng với việc ban hành Luật BHXH nhà nước đã ban hành hàng
loạt các văn bản Luật nhằm đưa Luật BHXH đi vào đời sống người lao động.
Riêng năm 2007 Luật BHXH có hiệu lực Nhà nước đã ban hành hàng loạt
các văn bản hướng dẫn, thi hành luật. Trong thời kỳ 2001- 2006 Đảng và Chính
phủ đã thể chế hoá thành 138 văn bản đối với chính sách BHXH ( gồm: 8 Luật
và Bộ luật, 4 Pháp lệnh, 2 Nghị quyết, 26 Nghị định, 12 Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ và các Bộ, 51 Thông tư và Thông tư liên tịch, 35 Công văn và
Công điện ). Riêng năm 2007 Luật BHXH có hiệu lực, Nhà nước lại tiếp tục
ban hành hàng loạt các văn bản hướng dẫn, thi hành luật [ trích từ các văn bản
quy phạm pháp luật về BHXH].
Với tư cách là cơ quan sự nghiệp BHXH cao nhất BHXH Việt Nam đã ban
hành hàng loạt quyết định, văn bản hướng dẫn chỉ đạo về BHXH và hàng chục
văn bản tham gia với chính phủ nhằm hoàn thiện chính sách BHXH nói chung
và hệ thống quản lý BHXH nói riêng. Riêng năm 2007 BHXHVN đã có 42 văn
bản tham gia với Chính phủ và các Bộ nghành chức năng về nội dung liên quan
đến chế độ, chính sách BHXH [ trích: bảo hiểm xã hội trong tiến trình hội
nhập].
được nguy cơ thâm hụt quỹ BHXH ( nếu áp dụng 3 chế độ còn lại như
BHXH bắt buộc).