i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong
luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ
Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Lê Hồng Vân Nhi ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng dạy tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế
Fulbright đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong 2 năm học tập tại
Trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị nhân viên, quản lý của Trường đã cung cấp cho
tôi một môi trường học tập tốt nhất và sẵn sàng giúp đỡ tôi khi cần thiết.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa – người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn; và Tiến
sĩ Vũ Thành Tự Anh đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị thành viên lớp MPP4, đặc biệt là Châu, Triết, Nghĩa,
Dung đã luôn là những người bạn thân thiết, giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI
CÔNG LẬP 10
3.1 Sự hình thành và phát triển của các trường đại học NCL 10
3.2 Những vấn đề các trường đại học NCL đang phải đối mặt 13
3.2.1 Số lượng tăng nhanh chưa tương xứng với nguồn lực 13
3.2.2 Chất lượng đào tạo chưa cao 15
iv
3.2.3
Tình hình tuyển sinh tại các trường NCL 16
3.2.4 Vấn đề về quyền sở hữu khi chuyển đổi từ loại hình dân lập sang tư thục 17
3.3 Cơ sở pháp lý quản lý các trường ĐHTT 19
3.4 Mô hình quản lý nhà nước đối với các trường ĐHTT 20
CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC 21
4.1 Cơ sở can thiệp của nhà nước 21
4.2 Các tiêu chí đánh giá chính sách theo OECD 22
4.3 Tiêu chí “Phục vụ các mục tiêu chính sách” 23
4.4 Tiêu chí “Nền tảng pháp lý và kinh nghiệm hợp lý” 23
4.5 Tiêu chí “Lợi ích – chi phí và phân bổ tác động” 26
4.6 Tiêu chí “Giảm thiểu tối đa chi phí và biến dạng thị trường” 27
4.7 Tiêu chí “Rõ ràng, đơn giản và thực tế với người sử dụng” 28
4.8 Tiêu chí “Khuyến khích đổi mới” 30
4.9 Tiêu chí “Phù hợp với các quy định và chính sách khác” 31
4.10 Tiêu chí “Tương thích với các nguyên lý cạnh tranh, thương mại và thuận lợi cho
đầu tư” 32
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 33
5.1 Kết luận 33
một cách khách quan. Luận văn đi sâu phân tích đánh giá chính sách can thiệp này dựa vào 8
tiêu chí của OECD.
Từ những thực tế đó, đề tài đưa ra những kiến nghị chính sách nhằm cải thiện thực trang quản
lý nhà nước trong lĩnh vực này. Các kiến nghị bao gồm nâng cao chất lượng đào tạo của hệ
thống trường đại học tư thông qua chính sách sử dụng giảng viên của trường, cụ thể hóa các
tiêu chuẩn về chất lượng đào tạo; nới lỏng nguồn tuyển sinh đầu bằng cách giao quyền tự chủ
cho các trường và giải quyết vấn đề sở hữu thông qua xác định rõ mục tiêu vì lợi nhuận hay
không vì lợi nhuận và cổ phần hóa khi chuyển từ loại hình dân lập sang tư thục.
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
CNTT
CSVC
Công nghệ thông tin
Cơ sở vật chất
ĐHTT
Đại học tư thục
GD&ĐT
GDĐH
Giáo dục và đào tạo
Giáo dục đại học
HĐQT
Hội đồng quản trị
OECD
Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
QĐ
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Bối cảnh chính sách
Giáo dục đại học (GDĐH) có vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội, mở ra cánh cửa
hiểu biết cho con người. Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “giáo
dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động
lực trực tiếp của sự phát triển.” Đó là một sự khẳng định hết sức đúng đắn xuất phát từ lợi
ích của nhân dân ta, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của lịch sử thế giới. Vì vậy
đầu tư vào giáo dục sẽ tích luỹ vốn con người, là chìa khoá để cho sự tăng trưởng kinh tế
và tăng thu nhập. Từ quan điểm trên có thể thấy sự nghiệp giáo dục đào tạo có vị trí và vai
trò hết sức to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước.
Những năm 80 thế kỷ trước, giáo dục, y tế được xem là lĩnh vực mà nhà nước phải chịu
trách nhiệm hoàn toàn và phải đầu tư phát triển và quản lý. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát
triển kinh tế thị trường như nước ta hiện nay, vai trò chủ thể của nhà nước trong hoạt động
kinh tế - xã hội đã thay đổi, khu vực tư nhân dần có những đóng góp vào sự phát triển của
đất nước; và cũng theo xu hướng tất yếu của xã hội, nhà nước cũng đã chuyển giao một số
lĩnh vực cho tư nhân. Đó là nền tảng của “xã hội hóa”, thuật ngữ được sử dụng gần đây ở
Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế.
Gần 25 năm xây dựng và phát triển, các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (NCL)
đã đóng góp đáng kể cho nền giáo dục. Hiện nay, hệ thống trường NCL đã chiếm 1/5 số
trường, chiếm 1/7 số sinh viên cả nước, trong khi đó Nhà nước lại không tốn ngân sách
cho việc đào tạo. Một số chính sách của Nhà nước trong những năm gần đây liên quan
đến xã hội hóa GDĐH và lưu ý nhiều đến loại hình các trường tư thục. “Chính sách
khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể
thao” cũng đã đưa ra những biện pháp khuyến khích các loại hình nhà trường NCL.
Tuy nhiên, sự phát triển về số lượng của các trường đại học NCL lại không đi kèm với
chất lượng đào tạo. Lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, đặc biệt là các
trường đại học tư thục (ĐHTT) không có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường việc
nước, thúc đẩy các trường ĐHTT phát triển ổn định, bền vững.
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trường đại học NCL, bao gồm các trường ĐHTT,
dân lập, không bao gồm các trường quốc tế, có vốn đầu tư 100% nước ngoài, thông qua
3
đánh giá và phân tích các văn bản Luật, Thông tư, Quy chế, Quyết định… liên quan đến
hệ thống giáo dục NCL.
Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý của nhà nước đối với hoạt động của các trường ĐHTT, dân
lập không đi sâu nghiên cứu quá trình thành lập trường.
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nhằm trả lời hai câu hỏi sau:
Thứ nhất, những khó khăn, vấn đề nổi cộm của hệ thống đại học NCL hiện nay là gì?
Thứ hai, vai trò của nhà nước trong việc sửa chữa, khắc phục khó khăn của hệ thống giáo
dục tư thục?
Thứ ba, những chính sách nào cần áp dụng để nhà nước giải quyết những khó khăn đó?
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính. Tác giả phân tích các Chính sách và
Luật, Thông tư, Quy định, Quyết định của Chính phủ, Bộ, UBND đối với các trường đại
học NCL, trong điều kiện tương quan so sánh với các trường đại học công lập. Trong quá
trình thực hiện, tác giả cũng phỏng vấn ý kiến của một số chuyên gia đang công tác tại
lĩnh vực này.
1.7 Nguồn thông tin
Nghiên cứu dựa trên các nguồn thông tin có sẵn như: Luật Giáo dục Đại học 2012, Luật
Giáo dục 2005, Luật doanh nghiệp 2005; các Thông tư, Quyết định của Chính phủ,
UBND trong lĩnh vực giáo dục. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng một số thông tin từ
phỏng vấn chuyên gia.
1.8 Kết cấu đề tài và khung phân tích
Ngoài phần Tổng quan (Chương 1), đề tài gồm 4 chương chính. Chương 2 nêu lên cơ sở
lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin. Chương 3 khái quát thực trạng
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư,
xây dựng CSVC.” (Điều 7 - Luật Giáo dục Đại học 2012 (có hiệu lực năm 2013))
Theo những quy định pháp luật trên, có thể định nghĩa về trường ĐHTT một cách ngắn
gọn như sau: Trường ĐHTT là một cơ sở GDĐH thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do cá
nhân hoặc tổ chức thành lập và hoạt động bằng vốn đầu ngoài ngân sách nhà nước.
Các trường ĐHTT được chia thành hai loại, trường ĐHTT vì lợi nhuận - được tổ chức và
hoạt động như các công ty đối vốn và các trường ĐHTT phi lợi nhuận - không được tổ
chức như các công ty cổ phần, không có vốn cổ phần, cổ đông cũng như không chia lợi
tức (Phạm Duy Nghĩa, 2012).
6
2.1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Quản lý nhà nước về GDĐH là việc nhà nước sử dụng quyền lực công để điều tiết hoạt
động GDĐH theo mục tiêu của mình. Đó là việc quyết định các chủ trương quản lý; tổ
chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ và chủ trương quản lý; lựa chọn, sắp xếp cán bộ và bộ
máy; giáo dục, bồi dưỡng và ra chính sách khích lệ; kiểm tra và đánh giá kết quả của việc
quản lý (Lê Văn Giang, 2001). Quản lý nhà nước về GDĐH là những tác động tự giác của
chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu phát triển GDĐH (Trần Kiểm, 2006).
2.2 Cơ sở để nhà nước can thiệp vào hoạt động của các trường đại học NCL
Nhà nước sẽ can thiệp vào thị trường khi thị trường xuất hiện một trong các thất bại về
phân bổ nguồn lực không hiệu quả hoặc nền kinh tế vận hành không đạt được những kết
quả theo mong muốn của nhà nước (Vũ Thành Tự Anh, 2012). Những biểu hiện của thất
bại thị trường là: tồn tại thế lực thị trường, thông tin bất cân xứng, hàng hóa công, ngoại
tác và bất ổn vĩ mô. Nguyên nhân gây nên thất bại của thị trường chủ yếu là do bản chất
hàng hóa và cách thức mà thị trường đang vận hành. Cần phải xem xét đặc điểm của thị
trường GDĐH tư nhân để xác định cơ sở can thiệp của nhà nước trong thị trường này.
Thứ nhất, khi xem xét ở góc độ hàng hóa công – với hai đặc điểm là không có tính cạnh
tranh và tính loại trừ (Pindyck & Rubinfeld, 1999, tr.691) - GDĐH được xem là một dịch
vụ tư thuần túy.
nhận như nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong khi đó, chất lượng đầu vào được đảm bảo
một phần bằng hình thức thi tuyển, trong khi chất lượng đầu ra lại chưa kiểm định chặt chẽ
bởi một cơ quan nào mà giao trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục.
Từ những điều trên, GDĐH tư thục có xuất hiện sự thất bại của thị trường, nhà nước có cơ
sở để can thiệp. Nhiều chuyên gia giáo dục và các chính sách gia cũng không đồng tình với
việc giao giáo dục hoàn toàn cho thị trường điều phối. Theo quan điểm của UNESCO
(UNESCO, 1996, tr.160, trích từ Bùi Chí Bình, 2012), “Giáo dục là tài sản chung không
thể phó mặc cho thị trường.” Vì thế, dù là tổ chức nào hay cấp độ phân quyền nào hoặc đa
dạng hóa như thế nào trong một hệ thống, nhà nước phải thể hiện trách nhiệm đối với công
dân của mình, bao gồm việc tạo ra sự thống nhất trên cả nước về giáo dục, đảm bảo rằng
hệ thống đó tạo ra một thể nhất quán và đưa ra cách nhìn dài hạn cho tương lai.
2.3 Các hình th
ức can thi
Hình 2.1 Cây quyết định s
Nguồn: ADB (
2003
Nhà nướ
c có hai phương th
Ủy quyền.
Phương thức duy trì thẩ
m q
Hệ thống các quy định:
Nhà
ứng dịch vụ trên thị trườ
ng
nước đề ra. Trong lĩnh vự
c
chuẩn CSVC, trình độ giả
ng
ề
ng đ
ể hạn chế tối đa các thất bại vố
n có, theo đ
c
GDĐH, nhà nước ban hành những quy chế
, qu
ng viên, ch
ỉ tiêu tuyển sinh… để đảm bảo chấ
t l
n theo h
ọc.
ng ch
ủ yếu nhà nước sử dụng dịch vụ
này là các nhà
. Nhà nư
ớc có thể dùng công cụ thuế (miễn, giả
m thu
c làm này nh
ằm chuyển một phần lợi ích từ
nhà cung
ó th
ể dùng tiền, hiện vật hoặc gián tiế
p qua chính s
thiệp
Duy trì thẩm
quyền
Cung cấp trực
tiếp
Cơ quan nhà
ế) hoặc trợ cấp
cung c
ấp sang người
hính sách
thuế để trợ
Chính quyền cấp
dưới
Các tổ chức phi
chính phủ
Doanh nghiệp tư
nhân
Tài trợ thu nhập
Phiếu trả tiền và
Trợ giúp đặc biệt
Can thiệp
Không can thiệp
9
Cung cấp trực tiếp:
Nhà nước có thể cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua các doanh
nghiệp nhà nước hoặc các đơn vị do nhà nước thành lập và vận hành.
Phương thức ủy quyền
Ủy quyền cho cấp dưới:
Tùy từng loại dịch vụ, chính quyền có thể ủy quyền cho cấp thấp
hơn lựa chọn chính sách trên cơ sở phân cấp, phân quyền hiện hữu.
Ủy quyền cho các thực thể có mục đích xác định:
Nhà nước có thể ủy quyền cho các chủ
thể khác, như các doanh nghiệp tư nhân, cung ứng dịch vụ. Nhà nước có thể dùng biện
pháp ký hợp đồng trực tiếp với các doanh nghiệp tư nhân để mua lại các dịch vụ và giữ
quyền phân phối dịch vụ. Nhà nước cũng có thể ký hợp đòng với các doanh nghiệp tư nhân
Nam (ĐH Ngoại ngữ Tin học (HUFLIT), ĐH Văn Lang, ĐH Hùng Vương và ĐH Công
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) (HUTECH)); và ĐH Duy Tân ở Đà Nẵng, miền
Trung Việt Nam (Lam, 1995). 11
Bảng 3.1 Danh sách các trường đại học ngoài công lập năm 1995
STT Trường Đại học Địa điểm Khoa ngành đào tạo Số lượng
sinh viên
Đội ngũ
giảng viên
1 Thăng Long Hà Nội Toán và khoa học máy tính,
Quản trị, Luật, Ngoại ngữ
600
2 Phương Đông Hà Nội Tin học, Quản trị kinh doanh
(QTKD), Luật, Kế toán ngân
hàng, Ngoại ngữ
2,250 9
3 Đông Đô Hà Nội Tin học, QTKD, Luật, Ngoại
ngữ
800 3
4 HUFLIT TPHCM Ngoại ngữ, Công nghệ thông
tin (CNTT), Văn hóa và đông
phương học, QTKD quốc tế
1,250 34
5 Văn Lang TPHCM CNTT, QTKD, Ngoại ngữ,
1 Thăng Long Hà Nội Toán và khoa học máy tính, Quản trị, Ngoại ngữ
2 Phương Đông Hà Nội Tin học, QTKD, Luật, Kế toán, Ngân hàng, Ngoại ngữ
3 Đông Đô Hà Nội Tin học, QTKD, Luật, Ngoại ngữ
4 Mở Hà Nội Hà Nội Điện tử viễn thông, Công nghệ sinh học, CNTT, Du
lịch, Kinh tế, Luật, Mỹ thuật công nghiệp
5 Kinh doanh và Công
nghệ Hà Nội
Hà Nội QTKD, Tin học, Tiếng Anh, Thương mại và
Marketing, Tài chính kế toán
6 Hải Phòng Hải Phòng CNTT, Điện điện tử, Điện tử viễn thông, Công nghệ
môi trường, Xây dựng, Công nghệ khoáng sản, Nông
nghiệp, Văn hóa và du lịch, Ngoại ngữ
7 HUFLIT TPHCM Ngoại ngữ, CNTT, Văn hóa và đông phương học,
QTKD quốc tế, Du lịch, Quan hệ quốc tế
8 Văn Lang TPHCM CNTT, QTKD, Kiến trúc, Công nghệ Kỹ thuật môi
trường, Cơ khí, Ngoại ngữ, Tài chính kế toán, Kỹ thuật
công trình xây dựng, Tài chính kế toán, Ngoại ngữ, Mỹ
thuật công nghiệp.
9 HUTECH TPHCM Điện điện tử, CNTT, Xây dựng, Cơ khí, Công nghệ Kỹ
thuật môi trường, QTKD, Thiết kế thời trang, Ngoại
ngữ
10 Hùng Vương TPHCM CNTT, QTKD, Ngoại ngữ, Luật
11 Hồng Bàng TPHCM Sinh học và môi trường, CNTT, Kỹ thuật xây dựng,
Điện tự động, Mỹ thuật công nghiệp, Kỹ thuật dệt may
và da giày, Kinh tế, Ngoại ngữ, Châu Á Thái Bình
Dương học
12 Tôn Đức Thắng TPHCM Khoa học ứng dụng, Khoa học xã hội và nhân văn,
CNTT và Toán ứng dụng, Kỹ thuật xây dựng, Điện
13
lập tăng từ 168 trường lên 337 trường. Trong 10 năm, số lượng các trường công lập tăng
201%, trong khi các trường NCL tăng 357%, cao gấp rưỡi các trường công lập.
Hình 3.1 Số lượng các trường đại học, cao đẳng và sinh viên các cơ sở GDĐH.
Nguồn: Tác giả tự vẽ theo số liệu của Tổng cục thống kê (2012)
Số lượng sinh viên ở các trường NCL cũng tăng nhanh, từ 101.1 ngàn sinh viên (2001) lên
đến 335 ngàn (2011), tăng 331% sau 10 năm.
Mặc dù số lượng trường cũng như số lượng sinh viên tăng với tốc độ cao, các trường NCL
vẫn còn rất nhiều thách thức phải đối mặt. Chất lượng đào tạo nổi lên như một vấn đề thiết
yếu. Bên cạnh đó, những khó khăn còn tồn tại như tuyển dụng được những giảng viên có
chất lượng, lương thấp, nguồn lực phân phối cho nghiên cứu khoa học quá ít, sự quản lý
chặt chẽ về chương trình đào tạo
Theo dữ liệu của UNESCO, GDĐH Việt Nam có chỉ số giáo viên/sinh viên là 30/1. Đây là
một tỉ lệ rất cao, không chỉ so sánh với tiêu chuẩn thế giới mà còn rất cao so với các nước
khác trong khu vực (UNESCO, 2006)
1
.
1
Tỉ lệ sinh viên/giảng viên tương ứng là 23/1 ở Philippines, 20/1 ở Malaysia và 15/1 ở Indonesia.
0.0
200.0
400.0
600.0
800.0
1000.0
1200.0
giảm trong những năm gần đây do quy định về chỉ tiêu tuyển sinh của Bộ GD&ĐT, một
phần là do số liệu thống kê không đưa vào số lượng các sinh viên tại chức, văn bằng 2, liên
thông,… từ 2009. Để đảm bảo đào tạo, các trường NCL dựa vào giảng viên thỉnh giảng.
Các trường đại học, cao đẳng NCL chỉ có khoảng 30% là giảng viên cơ hữu, trên 60% đội
ngũ giảng viên là thỉnh giảng, mà những giảng viên này sẽ không thể đầu tư vào công việc
bán thời gian nhiều hơn công việc chính của họ ở trường công lập. Một vấn đề chung của
các trường NCL là các giảng viên dành quá nhiều thời gian cho công việc giảng dạy hơn là
công tác nghiên cứu (Pham & Gerald, 2005). Theo tiêu chuẩn quốc tế, tỉ lệ nghiên cứu
được công bố ở Việt Nam là rất thấp, đặc biệt là ở khu vực NCL, chỉ chiếm tỉ lệ 1 nghiên
cứu được công bố trên 100 giảng viên, tỉ lệ này là 39 ở các trường công lập (World Bank,
2008, tr. xiv).
3.2.2 Chất lượng đào tạo chưa cao
Chất lượng đào tạo đáng báo động hiện nay còn thể hiện ở tỷ lệ sinh viên ra trường có
được việc làm và lượng sinh viên phải làm việc trái ngành nghề được đào tạo. Thực tế cho
0.0
5.0
10.0
15.0
20.0
25.0
30.0
35.0
40.0
45.0
Tỉ lệ sinh viên/giảng viên
Công lập
Ngoài công lập
16
thấy nền GDĐH Việt Nam đang đặt dưới sự đánh đổi giữa chất lượng và số lượng.
17
nhằm để hạn chế tình trạng các trường tuyển sinh một cách ồ ạt, hạn chế sự ra đời của các
trường NCL. Năm 2004, Bộ GD&ĐT quyết định mức “điểm sàn”, là mức tối thiểu mà sinh
thí sinh phải đạt được trong kỳ thi tuyển sinh mới có thể đăng ký vào các trường đại học,
kể cả công lập và NCL. Kết quả của việc này là năm học 2003–2004 và 2005-2006 có sự
giảm đi đáng kể trong số lượng sinh viên theo học tại các trường NCL (Le, 2006, tr.80)
Tuy nhiên, trong thời gian vài năm sau đó cho đến 2 năm trở lại đây, con số này có xu
hướng tăng lên trở lại (Hình 3.1 và 3.2).
Các trường ĐHTT phần lớn gặp vấn đề về CSVC nên thực tế nhiều trường đã xác định chỉ
tiêu tuyển sinh vượt quá quy định
1
. Cụ thể, trong đợt thanh tra sau tuyển sinh năm 2012 đối
với 30 trường đại học thì có 21 trường xác định vượt chỉ tiêu tuyển sinh (bao gồm cả công
lập và tư thục). Trong đó, trường ĐH dân lập Ngoại ngữ - Tin học TPHCM không còn
năng lực tuyển sinh nhưng đã tự xác định 2000 chỉ tiêu; ĐH Văn Lang chỉ có năng lực
tuyển 1021 chỉ tiêu nhưng đã tự xác định 2000 chỉ tiêu; ĐH Lương Thế Vinh chỉ có năng
lực 473 chỉ tiêu nhưng đã tự xác định 1800 chỉ tiêu. Đây là 3 trường ĐHTT trên tổng số 30
trường được thanh tra kiểm tra có sai phạm, trên thực tế, con số này chắc chắn cao hơn
nhiều (Tuệ Anh, 2012).
3.2.4 Vấn đề về quyền sở hữu khi chuyển đổi từ loại hình dân lập sang tư thục
Theo Luật Giáo dục 2005, cơ sở giáo dục dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập,
đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động; cơ sở giáo dục tư thục do tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nguồn đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh
phí hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Nghị định 75 hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục năm 2005 được ban hành năm 2006 quy
định đối với GDĐH chỉ có loại hình công lập và tư thục, không tồn tại loại hình dân lập.
Do đó, ngày 29/5/2006, bằng Quyết định 122, Chính phủ đã cụ thể hóa chủ trương chuyển
các trường đại học dân lập sang hoạt động theo mô hình tư thục nhằm làm rõ vấn đề “lợi
chủ sở hữu của khối tài sản tăng lên đó. Nếu khẳng định đây là tài sản của những người
góp vốn ban đầu thì đi ngược lại quy định; nếu cho rằng đây là tài sản thuộc sở hữu chung
thì các cá nhân góp vốn không đồng tình.
Trường hợp tại Trường ĐH Văn Lang, Tiến sĩ Nguyễn Dũng, Hiệu trưởng Trường cho
biết: tháng 11/1999, trường mua khu đất tại cơ sở chính trên đường Nguyễn Khắc Nhu
quận 1 với giá 13.9 tỷ đồng (từ quỹ tích lũy xây dựng CSVC) do nhà nước bán lại theo
Nghị định 60. Khi chuyển sang tư thục thì phải định giá lại tài sản này. Tại thời điểm mua,
công ty thẩm định giá trị đất là 8 tỷ đồng và giá trị nhà là 5.9 tỷ đồng. Nhưng hiện nay, tính
theo giá thị trường thì khu đất rộng 1,200 m
2
của trường có giá 80 triệu đồng/m
2
, tương
đương 96 tỷ đồng. Khối tài sản này không được xác định sở hữu một cách rõ ràng, của
cộng đồng, của tập thể cán bộ nhân viên trường hay của cá nhân góp vốn ban đầu.