TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ths. Võ Duy Nam
Trƣơng Ngọc Oanh
Bộ môn Luật Hành Chính
MSSV: S120060
Lớp: Luật VB2-ĐT
Cần Thơ, Tháng Năm 2014
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
vi phạm .................................................................................................................................................20
1.3. PHÂN BIỆT PHÒNG CÔNG CHỨNG VÀ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG ... 21
1.4. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG CHỨNG .......................... 24
CHƢƠNG 2 ...................................................................................................................... 28
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG ........................................................... 28
2.1 TỔ CHỨC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG ............................................................ 28
2.1.1 Địa vị pháp lý của văn phòng công chứng......................................................... 28
2.1.2 Tên gọi của văn phòng công chứng .................................................................... 29
2.1.3 Bổ nhiệm công chứng viên đối với văn phòng công chứng .............................. 29
2.1.4 Miễn nhiệm công chứng viên .............................................................................. 31
2.1.5 Mua trách nhiệm bảo hiểm nghề nghiệp cho công chứng viên ....................... 32
2.1.6. Điều kiện, hồ sơ thành lập văn phòng công chứng .......................................... 34
2.1.7 Nguồn tài chính của phòng công chứng ............................................................ 35
2.2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG ...................... 36
2.2.1. Hoạt động của Văn phòng công chứng ............................................................. 36
2.2.2. Hoạt động của Công chứng viên ....................................................................... 39
2.2.3 Hình thức của văn bản công chứng .................................................................. 44
2.2.4 Thủ tục chung công chứng hợp đồng giao dịch ............................................... 48
Công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản ................................................................... 50
Công chứng di chúc ........................................................................................................... 50
Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản ............................................................ 51
Công chứng văn bản khai nhận di sản .............................................................................. 51
Nhận lưu giữ di chúc .......................................................................................................... 52
2.2.5. Hồ sơ công chứng và chế độ lƣu trữ ................................................................. 52
2.2.6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo ............................................................................... 55
CHƢƠNG 3 ...................................................................................................................... 58
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI VĂN PHÒNG
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa đã làm cho
các mối quan hệ trong xã hội ngày càng phát triển, nhất là mối quan hệ giao dịch. Các
quan hệ giao dịch không có sự hướng dẫn, quản lý của Nhà nước bằng pháp luật sẽ trở
nên lộn xộn, các tranh chấp, vi phạm sẽ xảy ra ngày càng nhiều, gây khó khăn thiệt hại
cho công dân, cơ quan, tổ chức hoặc nhà nước.
Trong cuộc sống đời thường cũng như trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương
mại, khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự thường có xu hướng tìm kiếm những chứng
cứ để bênh vực cho lý lẽ của mình hoặc bác bỏ lập luận của đối phương. Điều đó đòi hỏi
Nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu để quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế
cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, công dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội. Và hơn
hết, chính bản thân những người tham gia vào giao dịch dân sự, bản thân họ cũng mong
muốn có thể phòng ngừa và đảm bảo pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế thương
mại mà chính họ tham gia, họ cần đến chứng cứ có giá trị pháp lý hợp pháp, được pháp
luật bảo hộ đó là “chứng cứ công chứng” - loại chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin
cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có chứng cứ xác thực. Chính vì vậy, sự ra đời của
Luật Công chứng đã đánh dấu một bước ngoặc không nhỏ trong lĩnh vực hành chính, nó
là một hoạt động quan trọng. một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp
quyền.
Cùng với sự ra đời của Luật Công chứng là sự xuất hiện của các Văn phòng công
chứng. Điều này đã khắc phục được những hạn chế đáng kể như sự quá tải của các Phòng
công chứng, cũng như việc phân định giữa công chứng và chứng thực, vấn đề phân cấp,
phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng…Sự ra đời của Văn phòng công
chứng đã góp phần chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa hoạt động công chứng được, bước
đột phá trong cải cách hoạt động công chứng ở Việt Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng
và thực tiễn quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng thì luận văn sẽ đề xuất các
giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp hiện nay.
b. Phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở để tác giả dùng để làm phương pháp luận nghiên cứu trong đề tài là phương
pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu khoa học khác
cụ thể như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp đánh giá, phương pháp điều tra, thống kê nhằm mục đích là làm sáng tỏ nội dung
nghiên cứu của đề tài.
4. Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn phòng công chứng và quản lý nhà nước đối với văn
phòng công chứng.
Chương 2: Những quy định của pháp luật về công tác quản lý nhà nước đối với văn
phòng công chứng.
Chương 3: Thực trạng về công tác quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng trên
địa bàn tỉnh Đồng Tháp và kiến nghị.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
1.1.1. Khái niệm văn phòng công chứng
Trong các Nghị định trước đây, cụ thể là ở Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng
2 năm 1991, Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 đều xác định công chứng ở nước ta là Nhà
nƣớc thực hiện công chứng chứ chưa hướng đến việc xã hội hóa các hoạt động về công
công chứng có ít nhất một công chứng viên trở lên thành lập, được tổ chức theo hình
thức Doanh nghiệp tư nhân hoặc là công ty hợp danh, thực hiện các hoạt động công
chứng theo quy định của pháp luật và đặt dưới sự quản lý của nhà nước.
Văn phòng công chứng ra đời đánh dấu một bước phát triển xã hội hóa dịch vụ
công, xóa bỏ độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực công chứng, trở thành bệ phóng cho
Nhà nước dần rút khỏi việc trực tiếp cung ứng dịch vụ công chứng tiến tới chuyển giao
hẳn cho các chủ thể phi nhà nước thực hiện, Nhà nước chỉ đóng vai trò duy nhất là chủ
thể quản lý nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm của văn phòng công chứng1
- Về tổ chức của văn phòng công chứng
Theo quy định tại Điều 26 của Luật Công chứng, Văn phòng công chứng là tổ
chức dịch vụ công do một hoặc một số công chứng viên hành nghề tự do thành lập, Văn
phòng công chứng do một Công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo mô
hình Doanh nghiệp tư nhân; do hai công chứng viên trở lên thành lập thì hoạt động theo
mô hình công ty hợp danh. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là
trưởng phòng công chứng. Trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên. VPCC có
trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng
nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công
chứng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác.
1
Quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội, http://luanvan.net.vn/luanvan/luan-van-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-cac-van-phong-cong-chung-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-34428/ [ngày
truy cập 12-8-2014]
- Về hoạt động của Văn phòng công chứng
Hoạt động của Văn phòng công chứng vừa mang tính công quyền (nhân danh nhà
nước vì lợi ích nhà nước), vừa mang tính dịch vụ công (nhằm mục đích phục vụ ngày
càng tốt hơn cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng, trên cơ sở phù
hợp với lợi ích của xã hội). Tính chất dịch vụ công của công chứng hướng đến ba lợi ích:
1.2.1.1 Khái niệm về công tác quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng2
Từ khi ra đời Văn phòng công chứng thì hoạt động công chứng được biết đến như
một hoạt động dịch vụ pháp lý để đảm bảo cho các giao dịch, nếu nhà nước không có
những chính sách quản lý phù hợp thì vô hình chung hoạt động văn phòng công chứng có
thể trở thành công cụ tiếp sức cho các hành vi vi phạm pháp luật, thực tế thì sau khi các
văn phòng công chứng được thành lập một cách ồ ạt không có quy hoạch tổng thể, bản
thân đây là lĩnh vực mới gần như quản lý nhà nước đang bỏ ngỏ, vì thế thời gian qua đã
có những hậu quả vô cùng to lớn.
Quản lý Nhà nước với Văn phòng công chứng là việc Nhà nước dùng các biện
pháp, công cụ có được tác động vào lĩnh vực công chứng để hệ thống văn phòng công
chứng hoạt động đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước mong muốn.
Trong thời gian qua, hoạt động của văn phòng công chứng ở nước ta có những
đóng góp tích cực cho sự phát triển cho nền kinh tế - xã hội cho đất nước, khẳng định
ngày càng rõ hơn vị trí vai trò quan trọng của công chứng trong đời sống xã hội, đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng về công chứng của nhân dân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là công cụ đắc lực phục vụ quản lý nhà nước có hiệu
quả, đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, góp phần tích cực vào việc phòng ngừa
các tranh chấp có thể xảy ra bất cứ lúc nào, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.2.1.2. Đặc điểm về quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng
- Quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng nhằm đảm bảo sự ổn định và
phát triển của các văn phòng công chứng theo hướng xã hội hóa
Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề công chứng
phải mang tính ổn định và bền vững rất cao. Không giống như sự phát triển của các mô
hình dịch vụ công khác, sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng cần có sự
điều tiết, phân bổ và kiểm soát trong một quy hoạch, nhất là sau khi hoạt động công
chứng đã được xã hội hóa. Chính vì vậy, rất cần thiết có quy hoạch phát triển các mạng
lưới tổ chức hành nghề công chứng, cũng như thực hiện quản lý nhà nước về công chứng
trên địa bàn tỉnh Đồn Tháp để đảm bảo các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập
và phân bố một cách hợp lý, khoa học, đáp ứng các yêu cầu công chứng của người dân
một cách đầy đủ và thuận tiện.
giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất cho các chủ thể…). Ngoài ra,
công chứng còn có vai trò tư vấn: Công chứng viên tư vấn cho người yêu cầu công chứng
về các thủ tục pháp lý trong hoạt động công chứng.
Có thể nói, công chứng có mặt trong hầu hết các lĩnh vực, đời sống của cá nhân,
của con người từ lúc sinh ra đến lúc mất đi, đảm bảo cho mọi hoạt động cũa xã hội được
phát triển bền vững, an toàn.
Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp
luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro, tranh chấp xảy ra các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền căn cứ vào văn bản công chứng để giải quyết các vụ việc tranh chấp.
Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và Công chứng viên là người được nhà nước bổ
nhiệm, chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những giao dịch, hợp đồng mà mình
chứng nhận, vì thế, nó có giá trị hiệu lực đối với các bên.
- Quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt động
của Văn phòng công chứng đúng phạm vi quy định của pháp luật, không trái đạo đức
pháp luật và đạo đức xã hội
Quản lý nhà nước có vai trò định hướng sự phát triển của ngành theo lĩnh vực
công chứng, xuất phát từ bản chất của hoạt động công chứng là một hoạt động công
quyền của nhà nước, công chứng là hoạt động được nhà nước ủy quyền để chứng nhận
tính hợp pháp, tính xác thực của hợp đồng, giao dịch. Vì thế, việc xác định phạm vi, ranh
giới các việc công chứng, nói cách khác là xác định thẩm quyền của văn phòng công
chứng được làm những việc gì có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà nước trong quản lý
đối với Văn phòng công chứng, nhằm phòng ngừa những vi phạm rất dễ xảy ra trong lĩnh
vực này.
Sự ra đời của các văn bản quy định về công chứng không ngừng thay đổi và hoàn
thiện đã cho thấy hoạt động công chứng ở nước ta ngày càng phát triển, có thể nhận thấy
rằng do sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho các mối quan hệ kinh
tế và thương mại ngày càng phong phú, mặt khác trình độ dân trí ngày càng cao kéo theo
cho hoạt động công chứng tránh rủi ro nhưng pháp luật về quản lý nhà nước vẫn chưa
thật sự sát sao trong việc quy định về chế định mua bảo hiểm cho công chứng viên. Luật
Công chứng chỉ quy định việc mua bảo hiểm chỉ dành riêng cho công chứng viên của văn
phòng công chứng chứ không quy định việc mua bảo hiểm cho công chứng viên của
phòng công chứng. Điều này đặt ra một câu hỏi cho người yêu cầu công chứng: Có phải
chỉ công chứng viên ở văn phòng công chứng mới có sai sót, còn công chứng viên ở
phòng công chứng thì không? Hay, chỉ những văn bản do công chứng viên của văn phòng
công chứng công chứng thì mới được đảm bảo và bồi thường khi có rủi ra xảy ra còn văn
bản do công chứng viên phòng công chứng công chứng thì không, nếu có xảy ra rủi ro thì
sẽ không được bồi thường? Nhưng trên thực tế, việc mua bảo hiểm như thế nào, và đền
bù ra sao khi các công chứng viên thực hiện công chứng sai quy định của pháp luật thì
gần như trong các văn bản quản lý nhà nước đều chưa tiên liệu được điều này.
Thiết nghĩ, Nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu hơn, quy định chi tiết
hơn, luật và các nghị định phải quy định đồng nhất tránh tình trạng không biết làm thế
nào cho đúng vì dù thế nào đi nữa thì cuối cùng những bên tham gia giao dịch không
được đảm bảo sẽ phải hứng chịu.
1.3.1. Các nguyên tắc quản lý nhà nƣớc đối với văn phòng công chứng
1.3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo sự quản lý nhà nước đối với văn phòng công
chứng từ TW đến địa phương
Ở nước ta, pháp luật về công chứng xác định công chứng là một tổ chức, là một bộ
phận thuộc các cơ quan hỗ trợ tư pháp, Văn phòng công chứng có tư cách pháp nhân, có
trụ sở riêng, có tài khoản riêng và có con dấu theo quy định của pháp luật. Văn phòng
công chứng có Trưởng phòng, công chứng viên, chuyên viên và các nhân viên hành
chính khác. Với những đặc điểm vừa nói trên thì Văn phòng công chứng đủ điều kiện là
một tổ chức. Văn phòng công chứng hiện nay không phải là cơ quan quản lý nhà nước,
không phải là đơn vị sản xuất kinh doanh cũng không phải là cơ quan tư pháp.
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chổ, Chính phủ thống nhất quản lý nhà
nước về văn phòng công chứng; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc
luật về công chứng, đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thi hành nghiêm minh.
3
Quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội, http://luanvan.net.vn/luanvan/luan-van-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-cac-van-phong-cong-chung-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-34428/ [ngày
truy cập 12-8-2014]
Mọi công dân, tổ chức đều có quyền đến cơ quan công chứng để yêu cầu thực hiện
công chứng trong khuôn khổ pháp luật quy định, đảm bảo sự thống nhất về kỷ cương, trật
tự, hiệu lực quản lý các hoạt động giao dịch, đảm bảo dân chủ và công bằng xã hội, đồng
thời tránh khuynh hướng tùy tiện trong công tác công chứng, chứng thực. Khi thực hiện
công chứng các Văn phòng công chứng phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục
được quy định trong Nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng.
Hoạt động công chứng của Văn phòng công chứng nhằm giúp đỡ pháp lý cho
công dân, tổ chức trong việc thực hiện quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy,
công chứng viên phải có trách nhiệm giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ
quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của họ, cũng như ý nghĩa pháp lý của việc công chứng
mà họ yêu cầu.
1.4.1. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với văn phòng công chứng
Quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng gồm: thành lập, hoạt động, giải
thể, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm về công chứng, có
thể chia làm ba nội dung chính.
1.4.1.1. Quản lý văn phòng công chứng về mặt hình thức
Công tác quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng về mặt hình thức được
thống nhất từ TW đến địa phương và được cụ thể hóa thông qua Luật Công chứng 2006
và các văn bản khác như:
- Thông tư 11/2011/TT-BTP ngày 27 tháng 6 năm 2011 về việc “Hướng dẫn thực
hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà
nước về công chứng”.
các hợp đồng giao dịch thông qua hoạt động của văn phòng công chứng
Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, bắt đầu có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/7/2007 đến nay đã và đang thực sự đi vào đời sống xã hội. Hiện nay,
ngoài loại hình Phòng công chứng (trước đây là Phòng công chứng nhà nước) thì loại
hình Văn phòng công đang phát triển khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương, nhất là ở các
tỉnh, thành phố lớn. Hoạt động của các Văn phòng công chứng này giúp giảm thiểu sự
quá tải tại các Phòng công chứng Nhà nước trước đây, góp phần vô cùng quan trọng
trong việc bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các
quan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN, có
thể nói sự ra đời của văn phòng công chứng chính là sự “san sẻ” một phần quyền lực của
nhà nước cho các Công chứng viên. Vai trò của các Công chứng viên bây giờ giống như
một “thẩm phán phòng ngừa”. Chính vì vậy, việc thẩm định kỹ càng các văn bản trước
khi công chứng là việc vô cùng quan trọng của các văn phòng này. Bởi nếu việc chứng
thực không chính xác sẽ mang lại nhiều rủi ro cho khách hàng, gây thiệt hại lớn thì công
chứng viên phải bồi thường bằng tài sản của mình hoặc khách hàng có thể kiện công
chứng viên, văn phòng công chứng ra tòa.
Tại Điều 2 Luật Công chứng quy định:
“Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp
của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công
chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Tuy nhiên, sau một thời gian dài áp dụng Luật Công chứng, hoạt động của các Văn
phòng công chứng đã bộc lộ khá nhiều bất cập. Trong đó đáng kể là sự non kém về
nghiệp vụ và kinh nghiệm của không ít công chứng viên dẫn đến tình trạng công chứng
ẩu, ký xác thực công chứng mà không đọc kỹ văn bản, không thẩm định, xác minh tài
sản, nhân thân của người ký hợp đồng giao dịch. Kết quả là có nhiều bản công chứng bị
cơ quan chức năng trả lại, không chấp thuận. Đã có trường hợp Văn phòng công chứng
chứng nhận giấy ủy quyền ra tòa để giải quyết vụ việc, nhưng lại bị tòa án trả lại vì trong
giấy ủy quyền đó, người được ủy quyền chưa ký mà công chứng viên đã ký xác nhận rồi
nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng và có thẩm
quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng. Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương và
có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công
chứng trong phạm vi địa phương mình (Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn giúp UBND
cấp tỉnh thực hiện các quyền này).
Thanh tra, kiểm tra về công chứng nhằm mục đích đưa hoạt động công chứng đạt
được các mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra. Qua thanh tra, kiểm tra sẽ đánh giá được thực
trạng về tổ chức, biên chế; nắm bắt được những vướng mắc về nghiệp vụ cũng như phát
hiện được những vi phạm pháp luật trong hoạt động công chứng, từ đó có kết luận, kiến
nghị cụ thể để cấp có thẩm quyền kịp thời xem xét, có biện pháp chấn chỉnh (về tổ chức,
biên chế), giải quyết kịp thời những vướng mắc về nghiệp vụ, xử lý nghiêm minh những
hành vi vi phạm pháp luật, từng bước đưa công tác công chứng vào nề nếp.
Khi đó, để thực hiện tốt được nhiệm vụ, công tác thanh tra trong ngành tư pháp
(Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở) đòi hỏi phải được kiện toàn về tổ chức bộ máy, tăng cường
biên chế; nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thanh tra, tăng cường sự
phối hợp giữa Thanh tra Bộ với Thanh tra Sở các địa phương trong toàn quốc nhằm tạo ra
sức mạnh đồng bộ đưa công tác thanh tra của ngành hoạt động có hiệu quả, phục vụ tốt
công tác quản lý và điều hành của lãnh đạo.
Chính vì vây, quản lý nhà nước không thể thiếu hoạt động thanh tra, kiểm tra. Đây
là nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo. Từ trước đến nay, Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác kiểm tra, đó cũng là một bộ phận rất
quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.
Do đó, có thể nói quản lý nhà nước về công chứng giai đoạn hiện nay phải cần
được tăng cường hơn nữa, trong đó thanh tra với vai trò là một khâu thiết yếu trong quản
lý hành chính nhà nước cũng cần phải được tăng cường.Thanh tra về công chứng nhằm
mục đích đưa hoạt động công chứng đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra. Qua
thanh tra sẽ đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật đối
với các văn phòng công chứng, ở các ngành hoặc ở những cơ quan được thanh tra, kiểm
tra với những nhận xét ưu, khuyết điểm, thiếu sót sẽ nắm bắt được những bất cập, mâu
Tiêu chí
Tính chất
Công chứng là hoạt động mang Hoạt động chứng thực là hành vi
tính chất dịch vụ công do công mang tính chất hành chính của các
chứng viên thực hiện
cơ quan hành chính công quyền.
Đối tượng
Đối tượng của hoạt động công
chứng là các hợp đồng, giao
dịch về dân sự, kinh tế, thương
mại v.v.
Thẩm quyền
Đối tượng của hoạt động chứng
thực là các giấy tờ, tài liệu. Ví dụ:
chứng thực sao y giấy tờ, văn
bằng, chứng chỉ v.v.
Trưởng, Phó phòng Tư pháp, Chủ
tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp
Công chứng viên
xã,Viên chức lãnh sự, viên chức
ngoại giao của Cơ quan đại diện
công chứng do công chứng viên lựa chọn”. Nhưng, “không được trùng hoặc gây nhầm
lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu
vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc” 4
4
Khoản 3, Điều 2 Luật Công chứng 2006
Đối với Phòng công chứng: Do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập,
được quy định là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp. Trưởng Phòng công chứng phải là
công chứng viên và do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức. Tên gọi của Phòng công chứng theo số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập5.
Việc thành lập Phòng công chứng do Sở Tư pháp xây dựng Đề án trên cơ sở xét
thấy nhu cầu công chứng của địa phương. Đề án thành lập quy định cần nêu rõ các vấn đề
như sự cần thiết thành lập Phòng công chứng, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa
điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện. Sau khi xây dựng
đầy đủ Đề án, Sở Tư pháp trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Khi có
quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Phòng công chứng thì trong thời hạn
ba mươi ngày, kể từ ngày có quyết định thành lập Phòng công chứng, Sở Tư pháp phải
đăng báo trung ương hoặc báo địa phương nơi quyết định thành lập Phòng công chứng
đó. Nội dung đăng báo cần phải có đầy đủ các quy định như: tên gọi, địa chỉ trụ sở của
phòng; số ngày, tháng, năm quyết định thành lập và ngày bắt đầu hoạt động của Phòng
công chứng. Trường hợp Uỷ ban nhân dân tỉnh thay đổi tên gọi hoặc trụ sở của Phòng
công chứng thì Sở Tư pháp có nhiệm vụ phải đăng báo những nội dung thay đổi đó để cá
nhân, tổ chức được biết. 6
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản của hai hình thức này là: Phòng công chứng do
Nhà nước thành lập, công chứng viên và một số nhân viên là viên chức nhà nước, Nhà
nước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Phòng công chứng nếu không tự
thành lập, quyết định và cho chỉ tiêu biên chế vv.... Mô hình Văn phòng công chứng là
một hình thức mới của tổ chức hành nghề công chứng. Về lâu dài hình thức Văn phòng
công chứng sẽ là hình thức phổ biến của tổ chức hành nghề công chứng ở nước ta.
1.5. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động công chứng ở Việt Nam 7
- Thời kỳ Pháp thuộc đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực dân Pháp
xâm lược nước ta. Hoạt động công chứng ở nước ta ở giai đoạn này đều áp dụng theo mô
hình của Pháp, chủ yếu là phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói
chung và Việt Nam nói riêng. Tiêu biểu là Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng
thống Cộng hòa Pháp về Tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết
định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P. Pasquies). Theo đó,
người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống
Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời. Công chứng viên hoạt động với tư cách là người
thi hành công vụ, hoạt động mang tính chất của người hành nghề tự do. Khi đó, ở Việt
Nam chỉ có một văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba phòng công chứng ở Sài Gòn, ngoài
ra còn có ở Thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng thì việc công chứng cho Chánh
lục sự Tòa án sở thẩm kiêm nhiệm.
- Thời kỳ sao Cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1991
Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, ngày 1 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trong Khánh đã ký quyết định
về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức công chứng viên
người Pháp tên Deroche tại văn phòng công chứng, bổ nhiệm một công chứng viên người
Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ đang là luật sư tập sự tại Tòa thượng thẩm Hà Nội thay thế
7
Bài tập luật “Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam”,
http://www.hlu.edu.vn/baitapluat.blog.com/2014/05/lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cong-chung-chung-thuc-oVietnam.html [ngày truy cập 31-7-2014]
cho công chứng viên người Pháp tại Hà Nội, những quy định cũ về công chứng của Pháp
nhất thực hiện công chứng là phòng công chứng. Căn cứ vào những văn bản này thì các
tỉnh thành trên cả nước đã lập ra các phòng công chứng dần dần hình thành mạng lưới
các phòng công chứng trên cả nước.