Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Kiên Giang hiện nay - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trên thế giới du lịch trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội
(KT-XH) phổ biến, là cầu nối tình hữu nghị, là phương tiện gìn giữ hòa bình
và hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc. Ở nhiều quốc gia, du lịch là một trong
những ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, đem lại những lợi
ích về KT-XH trong phát triển.
Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới ngành du lịch đã có nhiều khởi
sắc, thay đổi diện mạo và từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong nền
kinh tế quốc dân, góp phần phát triển KT-XH, thúc đẩy giao lưu văn hóa làm
cho nhân dân thế giới hiểu biết thêm về đất nước con người Việt Nam, tranh
thủ được sự thiện cảm và sự đồng tình ủng hộ quốc tế trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc; đóng góp tích cực hơn cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Hoạt động du lịch (HĐDL)tăng cả
bề rộng lẫn chiều sâu. Có thể nói rằng không có ngành kinh tế nào đi tắt đón
đầu đuổi kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực, rút ngắn khoảng
cách và chống tụt hậu về kinh tế nhanh bằng ngành du lịch. Chính vì vậy,
những năm qua Đảng và Nhà nước ta có sự quan tâm đặc biệt đến ngành
"công nghiệp không khói" này. Công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với
ngành du lịch luôn được tăng cường, đổi mới, từng bước hoàn thiện để phù
hợp với điều kiện phát triển du lịch trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước và hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới.
Kiên Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc, thuộc vùng đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có tiềm năng phát triển du lịch rất phong phú
và đa dạng. Điều kiện tự nhiên đã tạo cho Kiên Giang những cảnh quan thiên
nhiên độc đáo, nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp về hang động, sông, suối,
bãi biển, rừng nguyên sinh, Bên cạnh đó, Kiên Giang còn có các di tích văn
hóa, lịch sử mang đậm nét đặc trưng của đất và người Kiên Giang tập trung ở
1
các địa bàn như: TP Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện Phú Quốc, Kiên Lương,
Hòn Đất và U Minh Thượng. Đặc biệt, Phú Quốc là một huyện đảo có nhiều

vật chất - kỹ thuật (CSVC-KT) du lịch còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng
thừa, thiếu cục bộ ở nhiều khu, điểm du lịch.
Những hạn chế nêu trên là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc
chưa tận dụng được lợi thế, tiềm năng sẵn có của tỉnh để phát triển du lịch
cũng như những bất cập trong HĐDL ở tỉnh Kiên Giang thời gian qua.
Mặt khác, trước những yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay, nhất là
sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), công tác QLNN đối với HĐDL ở tỉnh Kiên
Giang cần được đổi mới một cách toàn diện, để vừa đáp ứng yêu cầu phát
triển KT-XH của tỉnh, vừa góp phần tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững
của ngành du lịch tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới.
Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động du
lịch ở tỉnh Kiên Giang hiện nay” làm luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý
nhằm góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề QLNN đối với HĐDL ở phạm vi cả nước nói chung và của
từng địa phương nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa
học, các nhà lãnh đạo và quản lý kinh tế. Một số công trình khoa học tiêu biểu
như sau:
- Nguyễn Minh Đức (2007), “Quản lý nhà nước đối với hoạt động
thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình CNH, HĐH”, Luận án tiến sĩ
kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là một công trình
nghiên cứu QLNN đối với hoạt động thương mại, du lịch ở một địa phương
cụ thể. Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức
năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và
3
nâng cao trình độ QLNN về thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, tác
giả chỉ nghiên cứu QLNN đối với hoạt động thương mại, du lịch thuộc khu
vực Tây Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh miền núi, trong đó có tỉnh Sơn La, có điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, tiềm năng phát triển du lịch khác nhiều

- Vũ Khoan (2005), “Đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
vào năm 2010”, Tạp chí Du lịch, số 11.
- Trịnh Đăng Thanh (2004), “Một số suy nghĩ về công tác quản lý nhà
nước đối với ngành du lịch”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 98.
- Võ Thị Thắng (2001), "Tăng cường quản lý nhà nước để du lịch Việt Nam
phát huy vai trò ngành kinh tế mũi nhọn", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 7(66).
- Hoàng Anh Tuấn (2007), “Du lịch Việt Nam - Thành tựu và phát
triển”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 133.
- Trần Nguyễn Tuyên (2005), “Du lịch Việt Nam phát triển theo hướng
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 114.
Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu sâu và toàn diện
về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Kiên Giang hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với HĐDL ở
tỉnh Kiên Giang nhằm thúc đẩy hoạt động này phát triển nhanh và bền vững,
đóng góp tích cực vào quá trình phát triển KT-XH chung của tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phân tích về mặt lý luận đặc điểm, vai trò, ý nghĩa KT-XH của HĐDL
và vai trò, chức năng, nhiệm vụ QLNN đối với HĐDL nói chung và ở cấp
tỉnh nói riêng.
- Nghiên cứu kinh nghiệm QLNN về du lịch của một số tỉnh thuộc khu
vực ĐBSCL trong thời gian gần đây.
5
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với HĐDL ở tỉnh Kiên Giang
trong thời gian qua. Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng, các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm hoàn
thiện QLNN đối với HĐDL ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian từ nay đến năm

khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.

7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động du lịch và các loại hình hoạt
động kinh doanh du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch và hoạt động du lịch
- Khái niệm du lịch:
Thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòng
quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người đi dạo chơi. Trong tiếng Anh
“to tour” có nghĩa là đi dã ngoại đến một nơi nào đó. Mặt khác, “du lịch” là từ
Hán-Việt, có thể coi là từ ghép giữa “du” là đi chơi với “lịch” là sự lịch lãm,
hiểu biết.
Vậy du lịch là gì?
Có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch, đầu tiên du lịch được hiểu là
việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình
trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí
hay chữa bệnh. Ngày nay, khi du lịch phát triển mạnh trở thành lĩnh vực
không thể thiếu trong đời sống con người (từ giữa thế kỷ XX đến nay), người
ta đưa ra những khái niệm cụ thể hơn về du lịch.
Có quan niệm cho rằng:
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi
liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú
thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh
thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo
việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa [67, tr.15].
Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa - Canada (6/1991)

hoạt động không thể thiếu được trong cuộc sống bình thường của mỗi người
9
dân. Ở các chuyến du lịch trong và ngoài nước, con người không chỉ dừng lại
ở việc nghỉ ngơi, giải trí, mà còn thỏa mãn cả những nhu cầu to lớn về mặt
tinh thần.
Ở khía cạnh thứ hai, du lịch là một hiện tượng KT-XH thu hút hàng tỷ
người trên thế giới. Bản chất kinh tế của nó là ở chỗ sản xuất và cung cấp
hàng hóa phục vụ việc thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của khách du lịch.
- Khái niệm hoạt động du lịch:
Cũng như khái niệm du lịch, cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau về
hoạt động du lịch. Trước đây, người ta chỉ quan niệm hoạt động du lịch là một
hoạt động mang tính chất văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí và những
nhu cầu hiểu biết của con người, hoạt động du lịch không được coi là hoạt động
kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít được đầu tư phát triển. Ngày nay,
khi du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới xem là một ngành kinh tế quan
trọng thì quan niệm về hoạt động du lịch được hiểu một cách đầy đủ hơn.
Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch ở Việt Nam
thời gian một vài thập kỷ gần đây, Luật Du lịch do Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14-6-
2005 đưa ra khái niệm hoạt động du lịch như sau: "Hoạt động du lịch là hoạt
động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân
cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch" [36, tr.9].
Với cách tiếp cận này, hoạt động du lịch được nhìn nhận ở ba khía
cạnh: Thứ nhất, “hoạt động của khách du lịch” nghĩa là việc di chuyển và lưu
trú tạm thời của người đi du lịch đến một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên
của họ để tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, nghệ
thuật Thứ hai, “tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch”, tức là những người
hoạt động tổ chức lưu trú, phục vụ ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận
chuyển đưa đón du khách, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khác nhằm
mục tiêu lợi nhuận. Thứ ba, “cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân

trở thành không thể thiếu, bởi vì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm và lý
trí, du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao
động của con người.
Ba là, việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng
một thời gian và không gian.
Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa (thức ăn, đồ uống chế
biến tại chỗ ) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản
xuất ra chúng. Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ
và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến
nơi có dịch vụ, hàng hóa. Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến
quảng bá du lịch là hết sức quan trọng, đồng thời việc quản lý thị trường du
lịch cũng cần có những đặc thù riêng.
Bốn là, HĐDL mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội
cho nước làm du lịch và người làm du lịch.
Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới du lịch không những đem lại lợi
ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn hóa, xã
hội Tuy nhiên, sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích
kinh tế. Vì vậy, ở nhiều nước đã đưa ngành du lịch phát triển với tốc độ cao
và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại
nguồn thu nhập lớn trong tổng sản phẩm xã hội. Do đó, dịch vụ du lịch ngoài
việc thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch còn phải đảm bảo
mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gia làm du lịch và
cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động du lịch.
Năm là, HĐDL chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định.
Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội.
Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ
hữu nghị giữa các dân tộc. Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các hoạt động du
lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình
du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên. Hòa bình là đòn bẩy đẩy
12

HĐDL có tác động tích cực đến nền kinh tế của một đất nước, một
vùng, một địa phương thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch. Thông qua
tiêu dùng, du lịch tác động mạnh lên lĩnh vực lưu thông và do đó gây ảnh
hưởng lớn lên những lĩnh vực khác của quá trình tái sản xuất xã hội. Đồng
thời, thông qua lĩnh vực lưu thông mà du lịch có ảnh hưởng tích cực lên sự
phát triển của nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp (như công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp gỗ, công nghiệp
dệt, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi ). Du lịch luôn đòi hỏi hàng hóa có
chất lượng cao, phong phú về chủng loại, mỹ thuật và hình thức. Do đó, du
lịch góp phần định hướng cho sự phát triển của các ngành ấy trên các mặt: số
lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm và việc chuyên môn hóa của các xí
nghiệp trong sản xuất, kinh doanh.
Mặt khác, thị trường du lịch rất rộng lớn với nhu cầu hàng hóa, dịch vụ
rất đa dạng và khả năng thanh toán của khách hàng khá cao. Thị trường du
lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ như thị trường nội địa, nhưng ở thị
trường này lại có khả năng “xuất khẩu tại chỗ” thu vào ngoại tệ, cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế, thực hiện việc tái phân chia nguồn thu nhập giữa các
tầng lớp dân cư và giữa các vùng, miền, địa phương trong nước, tạo ra nhiều
việc làm cho người dân, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của một quốc gia, một
vùng, một địa phương phát triển nhanh.
Thứ hai, về chính trị:
Du lịch góp phần củng cố và mở rộng các quan hệ đối ngoại, tăng
cường sự hiểu biết về đất nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, về
các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của các nước mà du khách đến thăm. Du lịch
quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại
gần nhau. Năm 1979, Đại hội của UNWTO đã thông qua Hiến chương du lịch
và chọn ngày 27/9 làm ngày du lịch thế giới với các chủ đề cho từng năm,
như “Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi
14
người”,“Du lịch là giấy thông hành của hòa bình” , kêu gọi hàng triệu triệu

quanh, bởi vì chính môi trường này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các
hoạt động của con người. Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng
mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định lại đòi hỏi phải tối ưu hóa
quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Đến lượt mình, quá trình này
kích thích việc tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử
dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý.
Việc làm quen với các danh thắng và môi trường thiên nhiên bao quanh
có ý nghĩa không nhỏ đối với khách du lịch. Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết
sâu sắc các tri thức về tự nhiên, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự
nhiên, góp phần giáo dục cho khách du lịch về mặt sinh thái học. Giữa xã hội
và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt, xã
hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo
vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của dòng khách du lịch và của
việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Du lịch - bảo vệ môi trường là
những hoạt động gần gũi và liên quan với nhau.
1.1.3. Các yếu tố tác động tới hoạt động du lịch
1.1.3.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một
vùng, một địa phương
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa
phương như địa hình, rừng, biển, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thực vật,
động vật có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành các trung tâm,
khu, điểm đến du lịch và tính bền vững của các sản phẩm du lịch. Thực tiễn
cho thấy, một quốc gia, một vùng, một địa phương nếu có nhiều cảnh đẹp tự
nhiên, có khí hậu ấm áp, có rừng, biển, động vật, thực vật phong phú… cộng
với nằm ở vị trí có hệ thống giao thông thuận lợi thì ở nơi đó chắc chắn sẽ có
sức hấp dẫn lớn thu hút khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu. Đồng thời,
nơi đó cũng sẽ có khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhiều loại hình du lịch
với các đối tượng khác nhau góp phần thúc đẩy mạnh HĐDL phát triển.
16
1.1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia, một vùng, một

người có thể di chuyển một cách nhanh chóng, thuận tiện bằng phương tiện
giao thông hiện đại: tàu hỏa, tàu biển, tàu sông cao tốc, tàu chạy trên đệm từ,
máy bay phản lực, Điều đó làm giảm thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ
ngơi và du lịch.
Ngoài ra, cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành
kinh tế, cuộc các mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ là nhân tố trực tiếp
làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch. Cuộc cách mạng này đã khuấy
động mọi ngành sản xuất, đem lại năng suất lao động và hiệu quả cao. Đó là
tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, tăng thêm khả năng thực tế
tham gia hoạt động nghỉ ngơi du lịch, hoàn thiện KCHT và tạo cho du lịch có
bước phát triển nhanh và bền vững.
- Dân cư và lao động:
Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội. Cùng với hoạt
động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch. Số lượng lao động
và học sinh tăng lên sẽ làm gia tăng nhu cầu tham gia vào các loại hình du
lịch khác nhau. Số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế du lịch. Số dân, thành phần dân
tộc, đặc điểm nhân khẩu, cấu trúc, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất
lớn đối với sự phát triển du lịch. Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào
đặc điểm xã hội, nhân khẩu của dân cư. Việc nghiên cứu, phân tích kết cấu
dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch có ý
nghĩa quan trọng để phát triển du lịch.
- Điều kiện sống của dân cư:
Điều kiện sống của dân cư là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch.
Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh
hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hóa,
giáo dục
18
Đồng thời, du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống (vật chất, tinh
thần) của con người đạt tới trình độ nhất định. Một trong những nhân tố then

Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt
động nhằm hồi phục và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người.
Một cách đầy đủ nhất, có thể hiểu thời gian rỗi là thời gian cần thiết
cho việc hồi phục sức lực của con người đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm nào
đấy trong điều kiện bình thường của sản xuất… và cả thời gian cần thiết cho
việc phục hồi mở rộng để đảm bảo tiếp tục nâng cao năng suất lao động.
Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian rỗi là giảm độ dài của tuần
làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ. Nhiều nước đã thực hiện chế
độ tuần làm việc 5 ngày (trong đó có Việt Nam).
1.1.3.3. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa, lịch sử cùng các
thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho
việc sản xuất dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục và phát triển thể lực
và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ.
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt.
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du
lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh
tế của HĐDL.
Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác
nhau của cảnh quan tự nhiên cùng cảnh quan nhân văn (văn hóa) có thể sử
dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham
quan hay du lịch. Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên,
các đối tượng văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh
hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch.
Xét về cơ cấu, tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm: Tài nguyên
thiên nhiên và tài nguyên nhân văn.
20
Các tài nguyên thiên nhiên gồm: địa hình, khí hậu, suối nước khoáng,
biển, sông, hồ, thực vật, động vật, rừng, núi, Tài nguyên nhân văn: các tượng
đài kiến trúc, công trình văn hóa (viện bảo tàng, triển lãm trưng bày nghệ thuật,

và CSVC-KT du lịch thuận lợi.
1.1.3.5. Yếu tố thị trường
Thị trường là một phạm trù của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa,
trong đó phản ánh toàn bộ quan hệ giữa cung - cầu và các mối quan hệ như
thông tin kinh tế, kỹ thuật, nảy sinh từ các mối quan hệ đó.
Thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành của thị trường chung, một
phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch. Các mối quan
hệ và cơ chế kinh tế này được hình thành trên cơ sở yêu cầu của các quy luật
sản xuất và lưu thông hàng hóa, tồn tại trong các hình thái KT-XH nhất định.
Ngày nay, thị trường du lịch đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, phát
triển năng động với tốc độ nhanh, hội tụ các yếu tố văn minh của nhân loại.
Do đó, thị trường du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế du
lịch. Thực tế cho thấy các quốc gia phát triển là các quốc gia có nền công
nghiệp du lịch phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và cơ
cấu nền kinh tế quốc dân hợp lý và hiện đại.
1.1.3.6. Yếu tố quản lý nhà nước
Quá trình phát triển HĐDL chịu sự tác động của quy luật khách quan
trong nền sản xuất xã hội. Song, HĐDL không thể thiếu vắng sự quản lý của
nhà nước. Bởi vì, nhà nước là chủ thể đặc biệt trong các mối quan hệ xã hội,
đảm bảo cho các quan hệ xã hội được thực hiện theo hướng ngày một tự do,
bình đẳng hơn. Khi nói đến du lịch là nói đến con người đi tìm cái "chân,
thiện, mỹ" để hưởng thụ, bảo vệ và tái tạo những sản phẩm, tài nguyên du
lịch. Để đảm bảo cho việc tìm kiếm, hưởng thụ, bảo vệ và tái tạo những tài
nguyên này, nhà nước phải điều phối các thành viên, các nhóm xã hội khác
22
nhau để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia HĐDL với tư
cách là một chủ thể (người bán, người mua và người trung gian).
Ngoài ra, bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du
lịch cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch. Thực tiễn cho thấy, nếu
một quốc gia, một vùng, một địa phương nào đó xây dựng được đội ngũ cán

Như vậy, nói đến QLNN đối với HĐDL là nói đến cơ chế quản lý. Cơ
chế đó, một mặt, phải tuân thủ các yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan;
mặt khác, phải có một hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, quy hoạch,
kế hoạch thích hợp để quản lý HĐDL. Quan niệm này bao hàm những nội
dung cơ bản như: các cơ quan nhà nước có chức năng QLNN về du lịch từ trung
ương đến địa phương là chủ thể quản lý; các quan hệ xã hội vận động và phát
triển trong lĩnh vực du lịch là đối tượng quản lý và hệ thống pháp luật, chính
sách, quy hoạch, kế hoạch, là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý.
Với tư cách là đối tượng quản lý, HĐDL phải được tổ chức và vận
động trên cở sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, giám sát của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Với tư cách là cơ sở và là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý,
pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, phải được xây dựng trên cơ sở
chính xác, đầy đủ, thống nhất là những chuẩn mực để đối tượng quản lý dựa
vào đó vận động, phát triển và để chủ thể quản lý thực hiện sự kiểm tra, giám
sát đối tượng quản lý.
QLNN đối với HĐDL là tạo môi trường thông thoáng, ổn định, định
hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các HĐDL phát triển nhưng có trật tự nhằm giải
quyết hài hòa các lợi ích. Thực hiện kiểm tra, giám sát HĐDL nhằm đảm bảo
trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật.
QLNN đối với HĐDL là hiện tượng phổ biến đối với tất cả các nước
trên thế giới, chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ và yêu
cầu quản lý ở mỗi quốc gia có khác nhau và phụ thuộc vào sự phát triển của
24
từng nước, trước hết là sự phát triển của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội cũng như trình độ QLNN và trình độ dân trí của từng quốc gia.
1.2.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các HĐDL diễn ra trong
nền kinh tế thị trường.
Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính phức tạp, năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status