Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________

LÊ TRƯỜNG CỬU

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG TÔN GIÁO Ở TỈNH LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 60.31.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN LƯƠNG BẰNG

Nghệ An, 2015
LỜI CẢM ƠN


2

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp tác giả
đã được các thầy cô giáo và cán bộ, nhân viên của trường Đại học Vinh tạo
điều kiện, giúp đỡ rất nhiệt tình. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
nhà trường, các thầy cô giáo và đặc biệt là PGS, TS.Nguyễn Lương Bằng,
người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
này.
Với những kiến thức đã được học tại trường và theo mong muốn

2.3. Bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra về quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN
GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
3.1. Phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo ở Long An
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo ở Long An
3.3. KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một thực thể xã
hội ra đời từ hàng ngàn năm lịch sử và là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Trong
quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống
chính trị, văn hóa xã hội, tâm lý, lối sống, phong tục tập quán và an ninh
trật tự của nhiều quốc gia dân tộc. Do vậy, cũng như các hoạt động khác
trong xã hội có nhà nước, tôn giáo tất yếu chịu sự quản lý của nhà nước.

01
08
08
18
28
39
39

ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân do Đảng lãnh đạo. Nhà nước là
người đại diện cho lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có đồng bào tôn
giáo. Về bản chất, quan hệ nhà nước - giáo hội ở nước ta hiện nay là không
có mâu thuẫn đối kháng về lợi ích. Chủ thể quản lý và khách thể quản lý
ngày càng xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ mỗi bên, hướng đến đích
chung là xây dựng nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, nhờ đó, xu hướng
“đồng hành với dân tộc” đang thể hiện rõ trên lĩnh vực pháp lý là các hoạt
động tôn giáo ngày càng vận hành đúng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật của nhà nước. Năm 1990, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác


5
tôn giáo, xác định “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có
nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.
Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo có phần phát triển, nhà thờ,
đình chùa, miếu mạo, thánh thất được tu sửa và tôn tạo,… Số người tham
gia các hoạt động tôn giáo gia tăng. Bên cạnh xu hướng hành đạo cùng dân
tộc, thuần túy tôn giáo, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, đã xuất hiện hoạt
động tôn giáo không bình thường, vi phạm một số quy định chung của Nhà
nước, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, việc biến
gia thành tự. Ngoài ra, một số người lợi dụng tự do tín ngưỡng tiến hành
hoạt động chống đối chính quyền, kích động tín đồ tạo điểm nóng tôn giáo
gây mất ổn định chính trị. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta xác
định phải tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo, một
mặt vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, mặt khác phải cảnh giác
chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch.
Long An nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, có 190 xã,
phường, thị trấn; 15 huyện, thị xã, thành phố. Có 05 huyện biên giới giáp
với Campuchia, 02 huyện giáp cửa sông Soài Rạp ra Biển Đông; là cửa ngỏ

Trước những yêu cầu cấp bách đó, bản thân là người trực tiếp tham
gia công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở địa phương, tác
giả chọn vấn đề “Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo ở tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay ” làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành chính trị học với mong muốn đóng góp làm giàu thêm lý luận


7
thông qua kinh nghiệm thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo ở tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong lịch sử, từ trước tới nay có nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong
nước và ngoài nước sưu tầm, biên soạn. Những công trình nghiên cứu có
thể tạm chia thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất: Các công trình khoa học chuyên ngành
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này như:
GS Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở
Việt Nam, Nxb CTQG; GS.TS Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo
trong cách mạng Việt Nam- lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị;
Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo; Lê
Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003), tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo; PGS. TS Ngô Hữu Thảo - chủ nhiệm
đề tài (1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng
giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ; PGS. TS Hoàng Minh
Đô- Chủ nhiệm đề tài (2002), Đạo tin lành ở Việt Nam- Thực trạng, xu
hướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác lãnh đạo,
quản lý, thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước,…
Nhóm thứ hai: Các đề tài nghiên cứu liên quan
Liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn


9
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động
tôn giáo trên địa bàn tỉnh Long An, luận văn đề xuất một số giải pháp và
các kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động tôn
giáo ở tại tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo hiện nay.
- Công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Long
An, những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo ở địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên
địa bàn tỉnh Long An hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Long An, từ năm 2008 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối
với tôn giáo.


10

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong đời sống tinh thần của
con người, nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa hoàn chỉnh. Tôn giáo
phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống
v.v. và phụ thuộc vào nhận thức của mỗi dân tộc, mỗi nhóm người và của
từng cá nhân nên khó có định nghĩa chính xác về tôn giáo. Trong các từ
điển thông dụng thường định nghĩa tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng
của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với
thần linh. Chẳng hạn: “Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành
nhờ vào lòng tin và sùng bái Thượng đế, thần linh’’ [38, tr.239] ; “Tôn giáo
là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng
bái những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận con người” [37, tr.1011].
Một số tác giả khác lại quan niệm: “Tôn giáo bao gồm hệ thống hoàn
chỉnh các quan niệm, ý thức tín ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình
cảm tôn giáo hành vi và hoạt động tôn giáo.Tôn giáo là hình thức tín
ngưỡng có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và Giáo hội, được tổ chức chặt chẽ ”


12
[19, tr.8] hay “Tôn giáo là tín ngưỡng của những người cùng chung một tổ
chức có hệ thống giáo lý, giáo luật và lễ nghi” [48, tr.8].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, tôn giáo không
chỉ là hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội. Với tư cách là
hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh một cách hoang đường, hư ảo
hiện thực khách quan. Trong tác phẩm chống “Đuy - rinh”, Ph.Ăngghen đã

những lý lẽ về nguồn gốc, sự ra đời, luật lệ của tổ chức tôn giáo. Truyền
đạo là một đặc tính của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin
tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo của tín đồ được thực
hiện. Đối với những người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp
họ hiểu, tin theo tôn giáo và thông qua hoạt động truyền đạo để phát triển
thêm số lượng tín đồ.
Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín
đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn
đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ.
Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực
hiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn
giáo, đảm bảo duy trì trật tự hoạt động trong tổ chức tôn giáo.
Như vậy, hoạt động tôn giáo là hình thức biểu hiện bên ngoài cụ thể
nhất của nội dung tôn giáo. Bất kỳ một tôn giáo nào khi tồn tại trong xã hội
đều được biết đến bằng các hoạt động cụ thể. Hoạt động tôn giáo chỉ do các


14
cá nhân, tổ chức tôn giáo thực hiện. Thông qua hoạt động tôn giáo để duy
trì sự tồn tại và phát triển của tôn giáo trong đời sống hiện thực.
Khái niệm công tác tôn giáo
Hiện tại vẫn còn có ý kiến khác nhau về công tác tôn giáo. Có quan
niệm cho rằng đó là hoạt động riêng có của cơ quan nhà nước nhằm đấu
tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo. Có quan niệm cho rằng đó chính là
hoạt động vận động quần chúng tín đồ của Mặt trận, các đoàn thể, tổ chức
xã hội. Các quan niệm trên là không đầy đủ. Trong thực tế, công tác tôn
giáo bao gồm rất nhiều nội dung:
- Công tác vận động quần chúng tín đồ.
- Công tác tranh thủ hàng ngũ chức sắc tôn giáo.
- Công tác đối ngoại về tôn giáo.

nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng v.v. nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp
pháp của nhân dân.
Quản lý của nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là sự tác động, điều
hành, điều chỉnh, đối với tôn giáo và hành vi, hoạt động tôn giáo của tổ
chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật, đạt được mục
tiêu của chủ thể quản lý.


16
Nói đến quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là nói đến sự tác
động của chủ thể quản lý nhà nước đối với chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra
tác động quản lý trong mọi quá trình hoạt động. Đối tượng với đối tượng
quản lý (tín đồ, nhà tu hành, chức sắc và các tổ chức tôn giáo). Trong đó,
chủ quản lý tiếp nhận sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý. Sự tác động
này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục
đích rõ ràng. Còn mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời
điểm do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực
hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý phù
hợp.
1.1.2.2. Đặc điểm đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Đối tượng quản lý của nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm: tín
đồ, nhà tu hành, chức sắc và các tổ chức tôn giáo. Đây là đối tượng quản lý
có tính đặc thù, họ vừa là công dân Việt Nam nhưng đồng thời là người có
niềm tin và tình cảm tôn giáo ở những mức độ khác nhau, chịu sự chi phối
của giáo lý, giáo luật, nghi lễ của tôn giáo.
- Tín đồ tôn giáo
Theo khoản 8 điều 3 Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004: “Tín
đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận’’. Như
vậy, tín đồ tôn giáo là người có đức tin tôn giáo, họ coi niềm tin tôn giáo rất

nước đối với hoạt động tôn giáo cần phải phát huy được những nhân tố tích
cực, khơi dậy những truyền thống quý báu trong đồng bào có đạo - phải coi
đây là một yếu tố quan trọng góp phần phát huy nội lực để xây dựng đất
nước.


18
Bên cạnh đại đa số đồng bào có tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc,
một số tín đồ do nhiều nguyên nhân khác nhau trong hoạt động tôn giáo còn
chưa tuân thủ pháp luật, bị các phần tử cơ hội lôi kéo, lợi dụng chống lại
chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, gây mất ổn định trong xã
hội.
Từ đặc điểm này đòi hỏi quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
một mặt phải tôn trọng và bảo đảm nhu cầu Tín ngưỡng Tôn giáo của các
tín đồ; giải quyết hài hòa giữa mặt công dân và mặt tín đồ; phải nhận thức
được đâu là nhu cầu, nguyện vọng Tôn giáo chính đáng của quần chúng và
đâu là yếu tố lợi dụng tôn giáo. Điều này quyết định đến sự thành công của
quản lý của nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, góp phần làm cho đạo và
đời, Tôn giáo và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn bó, hài hòa với
nhau.
- Nhà tu hành
Theo khoản 9 điều 3 Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 thì
nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo
giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo. Như vậy, khái niệm nhà tu
hành dùng để chỉ những người tu hành chuyên nghiệp của các tôn giáo, kể
cả trong tổ chức Giáo hội, dòng tu, tu viện, các trường đào tạo của tôn giáo
hoặc có thể ngoài đời (tu tại gia) không phân biệt chức vị và phẩm hàm tôn
giáo của họ. Trong đạo Phật, nhà tu hành bao gồm các vị: Hòa thượng,
Thượng tọa, Đại đức, Ni trưởng, Ni sư, Sư cô và các vị Tăng ni sinh đang
học trong các trường trung cấp, cao đẳng và Học viện Phật giáo. Các vị xuất

quan trọng và cần thiết trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.


20
- Tổ chức tôn giáo
Theo khoản 3 điều 3 Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004: “Tổ
chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý,
giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước công
nhận’’.
Cơ cấu tổ chức của tôn giáo được quy định theo Hiến chương, điều lệ
của tổ chức tôn giáo và được nhà nước công nhận. Trong mỗi tôn giáo tổ
chức bộ máy được sắp xếp khác nhau, có tôn giáo được tổ chức thành một
hệ thống từ Trung ương tới cơ sở như Giáo hội Công giáo Việt Nam, Giáo
hội Phật giáo Việt Nam v.v. nhưng cũng có những tôn giáo trong quá trình
phát triển do nhiều nguyên nhân bị tách ra thành nhiều hệ phái khác nhau,
mỗi hệ phái tạo thành một tổ chức độc lập như đạo Tin lành, đạo Cao đài.
Trong mối quan hệ nội bộ của tổ chức tôn giáo, có tổ chức có mối quan hệ
hành chính đạo rất chặt chẽ, cấp dưới phục tùng cấp trên, như Công giáo.
Ngược lại, có tổ chức hành chính đạo lại rất lỏng lẻo, như đạo Phật, Phật
giáo Hòa hảo v.v..
Trong mối quan hệ với nhà nước và xã hội, Giáo hội là tổ chức đại
diện cho tổ chức tôn giáo để giải quyết các công việc có liên quan đến tôn
giáo. Giáo hội là cơ cấu tổ chức, bộ máy hành chính của tôn giáo và cũng là
cơ quan quyền lực của tôn giáo. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính
phủ, hiện nay ở nước ta có 13 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo đã được nhà
nước cấp đăng ký hoặc công nhận về tổ chức và 1 pháp môn tu hành.
- Đồ dùng việc đạo phục vụ cho việc sinh hoạt tôn giáo (đồ dùng
việc đạo) bao gồm: Kinh, sách , tượng, bài vị, tranh ảnh, cờ trống, kèn,
chuông, mõ, v.v… Đồ dùng phục vụ sinh hoạt tôn giáo có sự thống nhất


có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn hình thức, phương pháp quản lý
phù hợp vừa đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước đối với các hoạt động
tôn giáo vừa đảm bảo thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng và nhà
nước ta.
1.2. Quan điểm về tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của
các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin
Định nghĩa kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, gần
đây được nhiều học giả thừa nhận, là tư tưởng của Ph. Ăngghen nêu trong
tác phẩm Chống Đuyrinh,: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản
ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài
chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những
lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”. [24,
Tr.437].
Trong quan niệm thường ngày, tôn giáo là một khái niệm dùng để
khái quát toàn bộ các hình thức tôn giáo cụ thể khác nhau đang tồn tại trong
xã hội như: Ki tô giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo, Cao đài,
Hòa hảo…. Tôn giáo đã có một thời gian dài hình thành, phát triển và tồn
tại hàng ngàn năm cùng với sự biến thiên của lịch sử. Giữa các tôn giáo cụ
thể, sự sùng bái, thờ cúng, các hình thức lễ nghi, cách tổ chức,… có sự khác
nhau, rất đa dạng, phức tạp.
Các hình thức tôn giáo nguyên thủy tôn thờ một dạng vật chất nào đó
mà con người cảm thấy có sự thần bí, có tính siêu nhiên như: to tem giáo,
bái vật giáo, ma thuật giáo; Khi nhận thức của con người phát triển, xuất
hiện ý niệm “thế giới bên này”, “thế giới bên kia”, tôn giáo chuyển sang
giai đoạn “vật linh giáo”, tôn thờ yếu tố “linh hồn” và hướng tới “thế giới


23
bên kia”. Ý niệm về “thế giới bên kia” - thế giới hư ảo - thế giới siêu linh,
đã làm cơ sở cho nhiều tôn giáo tiếp theo sau xuất hiện. Một số tôn giáo có

phận của con người cả trong cuộc sống hiện tại và cả khi đã sang “thế giới
bên kia”.
Hai là, hình thành hệ thống biểu tượng, hình thức lễ nghi, phương
tiện để tín đồ giáo tiếp với “Đấng siêu nhiên”, bao gồm; nhà thờ, đền đài,
thánh thất, biểu tượng kiến trúc tượng đài “Đấng siêu nhiên”, cùng với các
hình thức lễ nghi: cầu nguyện, tâm niệm, tụng kinh, làm lễ, rước sách, nhạc
hát... Đó là những phương tiện để thực hành tôn giáo, để tín đồ chiêm
nghiệm, thể hiện lòng ngưỡng mộ, sự thờ phụng thiêng liêng, biểu thị lòng
tin tưởng cũng như cầu xin được ban phước lành, được hưởng ân huệ may
mắn, được siêu thoát linh hồn..., chính vì vậy, mỗi tôn giáo đều chú trọng
xây dựng hình thành hệ thống biểu tượng, hình thức lễ nghi tôn giáo của
mình mang tính thiêng liêng, tôn nghiêm, thuyết phục và thu hút tín đồ.
Ba là, có hệ thống giáo thuyết phản ánh thế giới quan, nhân sinh
quan, các quan niệm về đạo đức, luân lý của tôn giáo. Hệ thống giáo thuyết
bao gồm: các quan niệm, truyền thuyết, giáo lý, giáo luật kinh thánh... của
tôn giáo. Hệ thống giáo thuyết làm cơ sở để xây dựng tôn giáo, hướng cuộc
sống và hoạt động của những người tu hành và các tin đồ theo các chuẩn
mực, mục đích mà các tôn giáo đã xác định. Trong thực tế, giáo thuyết tôn
giáo không phải bất biến mà sự bổ sung, biến đổi để thích nghi với điều
kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, phong tục tập quán, truyền thống đạo


25
đức... của dân tộc, quốc gia, thời đại. Khi tôn giáo bị lợi dụng, trở thành
công cụ của giai cấp thống trị thì giáo thuyết tôn giáo sẽ phục vụ cho mục
đích chính trị.
Bốn là, có tổ chức quản lý, hình thành cộng đồng tôn giáo. Tôn giáo
nào hình thành, tồn tại cũng thường phải có những người chuyên hành đạo
và hệ thống tín đồ theo tôn giáo của mình. Với cộng đồng đó, nhất định phải
có tổ chức quản lý. Mỗi tôn giáo có hình thức tổ chức quản lý và mối quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status