LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN lực CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY - Pdf 38

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1:

1.1.
1.2.

Chương 2:

2.1.

2.2.

Chương 3:

3.1.

3.2.

3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH
NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI BÌNH
Những vấn đề chung về nguồn nhân lực nông nghiệp
và nguồn nhân lực chất lượng cao ngành nông nghiệp
Quan niệm, nội dung và những nhân tố tác động đến
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành nông
nghiệp ở tỉnh Thái Bình
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH NÔNG

37

52

62

62

69
91
93
97


1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng đối với nước ta. Theo quan
điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát triển nông nghiệp được coi là gốc, là
mặt trận chính, mặt trận hàng đầu và là việc quan trọng nhất… Người cho
rằng: Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế lấy canh nông
làm gốc, do vậy: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì
nước ta thịnh” [26, tr.215].
Đảng ta xác định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược
trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực
lượng quan trọng để phát triển KT-XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị,
đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Để phát triển một nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền
vững, trong điều kiện KH, CN, đặc biệt là công nghệ sinh học phát triển như vũ
bão thì việc phát triển NNLCLC ngành nông nghiệp là một yêu cầu tất yếu
khách quan, là khâu đột phá quyết định thành công quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện hoạt động sản xuất nông nghiệp từ thủ công, nhỏ lẻ, mạnh mún là chủ

và tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Vì vậy tác giả chọn nội dung phát triển
NNLCLC ngành nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình làm đề tài của luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong thời đại ngày nay, cùng với KH, CN, phát triển NNLCLC được
xem là nguồn gốc, sức mạnh của mỗi quốc gia khi hội nhập quốc tế. Vì vậy,
đây là vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả và
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Tiêu biểu có một số công trình
nghiên cứu sau đây.
* Nhóm công trình nghiên cứu đề cập về phát triển nguồn nhân lực,
nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Lê Thị Hồng Điệp (2005), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để
hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị,

4


Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia, Hà
Nội. Luận án trình bày những khái niệm cơ bản như: NNL, NNLCLC, đặc
điểm NNLCLC của nước ta, vấn đề phát triển NNLCLC; phân tích những
vấn đề gia tăng dân số, cơ cấu NNL, tỷ lệ nhân lực KH, CN, đặc điểm, yêu
cầu của kinh tế tri thức đối với NNLCLC; đề xuất những giải pháp cơ bản
nhằm phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Phạm Thành Nghị, (2007), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về
NNL và quản lý NNL; phân tích hiệu quả quản lý NNL và những yếu tố tác
động đến quản lý NNL nước ta trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
Phạm Minh Hạc (2008), Phát triển con người, nguồn nhân lực-quan niệm
và chính sách, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đây là bài tham luận
được biên tập trong cuốn Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình

ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trình bày một số khái niệm cơ bản về nhân lực,
NNL, phân tích đặc điểm của NNL Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát
triển NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Đây là cuốn
sách có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và trong chỉ đạo thực tiễn phát
triển nguồn nhân lực nước ta hiện nay.
Đường Vĩnh Sường (2012), “Giáo dục, đào tạo với phát triển nguồn
nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Cộng
sản, (833); Bài báo phân tích vai trò của NNLCLC, đánh giá thực trạng
NNL và NNLCLC ở nước ta, phân tích một số hạn chế, yếu kém của NNL
nước ta so với một số nước khác trong khu vực và thế giới, đưa ra những
giải pháp chính về giáo dục và đào tạo để phát triển NNLCLC phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã cho
thấy bức tranh khá đầy đủ và toàn diện cả lý luận và thực tiễn về NNL,
NNLCLC, về phát triển NNLCLC cho phát triển KT-XH ở nước ta.

6


Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định NNLCLC là vấn đề có tầm
quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển của các quốc gia, là động lực
phát triển KT-XH. Nhiều công trình khẳng định, mỗi giai đoạn khác nhau thì
yêu cầu về NNLCLC đặt ra có sự khác nhau, mỗi loại nhân lực chất lượng
cao có yêu cầu cụ thể riêng về tiêu chí chất lượng, phẩm chất, năng lực, phù
hợp với đặc điểm, tính chất, chức năng, nhiệm vụ của từng loại NNL. Nhiều
công trình khẳng định tính tất yếu của việc phát triển NNLCLC đáp ứng
nhiệm vụ phát triển KT-XH trong thời kỳ mới, chỉ rõ yêu cầu đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi bức thiết phải có NNLCLC
đủ sức, đủ tầm thực hiện thắng lợi sự nghiệp ấy.

Tuy nhiên luận văn chưa đi sâu phân tích làm rõ về NNL nông nghiệp cũng chưa
đưa ra những quan điểm và giải pháp cụ thể để phát triển NNL nông nghiệp.
Phí Thị Hằng (2014), Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở Thái
Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án tập trung làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ
cấu lao động theo ngành ở tỉnh Thái Bình trong thời gian qua, chỉ ra được
nguyên nhân và đề xuất một số định hướng, dự báo về chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành tại địa phương đến năm 2020 cùng các giải pháp thực hiện.
Như vậy, xét cả về đối tượng và phạm vi địa phương, các công trình
nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về NNL cho sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói chung, chưa có đề tài và công
trình nghiên cứu nào về phát triển NNLCLC ngành nông nghiệp. Vì vậy
đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu hoàn toàn không trùng lặp với
các công trình, đề tài đã được công bố trước đó và đây cũng là nội dung
mới, một đòi hỏi cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn đối với tỉnh Thái
Bình hiện nay trong sự nghiệp phát triển ngành nông nghiệp theo hướng
hiện đại, công nghệ cao.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển NNLCLC ngành nông nghiệp
ở tỉnh Thái Bình, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển
NNLCLC ngành nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh thời gian tới.

8


* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển NNLCLC ngành nông nghiệp ở tỉnh
Thái Bình.
Đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC ngành nông nghiệp ở tỉnh Thái

hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài, góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực
tiễn phát triển NNLCLC ngành nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình hiện nay, đồng
thời cung cấp những cứ liệu khoa học để các cấp lãnh đạo, các cơ quan chức
năng tham khảo, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển NNLCLC cho
phát triển ngành nông nghiệp, đáp ứng với yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp của
Tỉnh trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn kinh tế chính trị.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, đề tài kết cấu gồm 3 chương; 6 tiết, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục.

10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI BÌNH
1.1. Những vấn đề chung về nguồn nhân lực nông nghiệp và nguồn
nhân lực chất lượng cao ngành nông nghiệp
1.1.1. Nguồn nhân lực nông nghiệp
* Nguồn nhân lực
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tài liệu đưa ra những
quan niệm khác nhau về NNL.
Quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin: Tiếp cận NNL ở góc độ vai trò
của con người (lực lượng lao động) trong LLSX. C.Mác cho rằng, chỉ có lao
động của con người mới tạo ra giá trị, nguồn gốc duy nhất của mọi của cải
trong xã hội.

người lao động. Về số lượng bao gồm những người trong độ tuổi (nam từ 15
đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55) và những người trên và dưới độ tuổi nói trên
tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp [14, tr.95].
Như vậy, về lượng của NNL nông nghiệp khác ở chỗ, nó không chỉ bao
gồm những người trong độ tuổi mà bao gồm cả những người trên và dưới độ
tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động. Về chất lượng bao gồm thể lực
và trí lực của người lao động, cụ thể là sức khoẻ, trình độ nhận thức, trình độ
chính trị, văn hoá, nghiệp vụ và tay nghề của người lao động.
Theo PGS, TS Trần Xuân Cầu, quan niệm về NNL nông nghiệp dưới
góc độ của kinh tế nguồn nhân lực: NNL nông nghiệp là những người
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có
việc làm hay không và những người ngoài độ tuổi lao động có thể cần hay
trong tương lai sẽ tham gia vào lực lượng sản xuất nông nghiệp với tất cả
những kiến thức, kỹ năng và năng lực về chuyên môn nông nghiệp có liên
quan đến sự phát triển xã hội, ngoài ra nó còn đề cập đến vấn đề thể chất,
trình độ văn hóa...[2, tr.76].

12


- Quan niệm về NNL nông nghiệp
Kế thừa những quan niệm trên và tiếp cận ở góc độ kinh tế chính trị, luận
văn đưa ra quan niệm về NNL nông nghiệp như sau:
NNL nông nghiệp là một bộ phận nằm trong NNL của một quốc gia hay
một địa phương, bao gồm tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực và phẩm chất
đạo đức của lực lượng lao động đang trực tiếp hoặc có khả năng sẵn sàng
tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp để tạo ra của cải vật
chất và tinh thần phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH.
Từ quan niệm trên, NNL nông nghiệp được hiểu là một bộ phận nằm
trong tổng thể NNL của một quốc gia hay một địa phương, bao gồm cả những

mô và số lượng ngày càng giảm thì yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ
thuật đối với NNL nông nghiệp ngày càng cao, do khoa học kỹ thuật phát
triển và được ứng dụng rộng rãi và nhu cầu phát triển NNLCLC ngành nông
nghiệp đang trở nên bức thiết hơn bao giờ hết trong quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH ngành nông nghiệp.
NNL nông nghiệp chất lượng còn thấp cả về trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, kỹ thuật và thể lực
Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của NNL nông nghiệp
còn thấp thể hiện qua tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền
kinh tế đã qua đào tạo chia theo ngành kinh tế của ngành nông nghiệp năm
2013 chỉ chiếm 3,5% so với 17,9% của cả nước và tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở
lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo chia theo thành thị và nông
thôn, năm 2013 khu vực nông thôn chỉ chiếm 11,2% so với 33,7% ở khu vực
thành thị, phần lớn lao động khu vực nông thôn không có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật, tỷ lệ này chiểm tới 88,5% so với 66,1% ở khu vực đô thị [41, tr.125].
Ngoài ra, thể lực và tầm vóc của NNL nói chung và NNL nông nghiệp
nói riêng trong những năm đã được cải thiện và từng bước được nâng cao, tuy
nhiên so với các nước trong khu vực (Nhật Bản, Thái Lan, Xinh-ga-po, Trung
Quốc,…) nói chung thấp hơn cả về chiều cao trung bình, sức bền, sức dẻo dai.

14


Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, khéo léo, cần cù, tuy nhiên
ý thức kỷ luật, năng lực làm việc theo nhóm,… còn nhiều hạn chế.
NNL nông nghiệp phân bố chưa hợp lý giữa các vùng, miền lãnh thổ
trong cả nước và giữa các tiểu ngành trong ngành nông nghiệp
Điểm nổi bật của NNL nông nghiệp là địa bàn phân bố chủ yếu ở khu
vực nông thôn, miền núi nơi có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp. Năm 2014, dân số của nước ta là 90,73 triệu người, thì vẫn có trên 60

Cái tạo nên sự khác biệt, cái giá trị được nhân lên giữa lao động giản
đơn và lao động phức tạp đó chính là giá trị lao động mà hai loại lao động
đó tạo ra “thành thử một lượng lao động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương
với một lượng lao động giản đơn lớn hơn” [24, tr.75].
Ngoài ra, C.Mác còn chỉ rõ: “Muốn nâng sản xuất công nghiệp và
nông nghiệp lên đến mức độ cao… mà chỉ có phương tiện cơ giới và hóa
học phụ trợ thì không đủ. Còn cần phải phát triển một cách tương xứng
năng lực của con người sử dụng những phương tiện đó nữa” [25, tr.474].
Khi đề cập đến vai trò của NNL đặc biệt là NNL có chất lượng để xây
dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản V.I.Lênin xác định cần phải có một NNL
chất lượng, NNL đó chính là những con người mới XHCN. Đó là những con
người có tinh thần làm chủ tập thể, có năng lực trình độ, hăng say lao động,
coi trọng sản xuất, có kỷ luật tự giác cao, có tri thức khoa học, có khả năng
tiếp thu những thành tựu mới nhất của nền văn minh hiện đại.
Theo V.I.Lênin: “… việc điện khí hóa không thể do những người mù chữ
thực hiện được, mà chỉ biết chữ không thôi cũng không đủ… Họ phải hiểu
rằng điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và
nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một
nguyện vọng mà thôi” [23, tr.364-365].
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để xây dựng thành công CNXH thì phải
có những con người XHCN, đó là những con người vừa “hồng” vừa
“chuyên”, vừa có đức vừa có tài, những con người phát triển toàn diện về
đức, trí, thể, mỹ.

16


Thuật ngữ NNLCLC lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006), thể hiện trong quyết tâm phấn đấu
để giáo dục và đào tạo cùng với KH, CN thực sự là quốc sách hàng đầu

nghệ sản xuất, có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo
những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất
nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [49, tr.14].
Như vậy, mặc dù các tác giả đứng ở nhiều góc độ khác nhau khi quan
niệm về NNLCLC, song đều đi đến thống nhất trên các nội dung cơ bản đó
là: NNLCLC là bộ phận lao động ưu tú, tiêu biểu nhất trong NNL, đã qua
đào tạo, có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật cao, có kỹ năng nghề
nghiệp thành thạo, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt, thích ứng nhanh
với yêu cầu của công việc và KH, CN, vận dụng tốt kiến thức đã học vào
quá trình lao động, tạo ra năng suất, chất lượng cao. Trong số các quan niệm
về NNLCLC đã nêu, quan niệm của tác giả Trần Mai Ước là đầy đủ và toàn
diện hơn cả và tác giả không đưa ra quan niệm riêng về NNLCLC mà thừa
nhận đó là quan niệm của luận văn.
* Quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao ngành nông nghiệp
Cho đến nay chưa có quan niệm cụ thể nào về NNLCLC ngành nông
nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế lực lượng lao động này đã tồn tại và có những
đóng góp to lớn cho nông nghiệp nước nhà, hiện nay đang phát triển nhanh về
số lượng, chất lượng cũng như cơ cấu ngày càng đa dạng cùng với quá trình
đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và phát triển nông
nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, bền vững.
Trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH, CN trên các lĩnh vực
cơ khí, hóa học, sinh học, mà trực tiếp là cuộc cách mạng xanh trong nông
nghiệp đã làm biến đổi toàn diện về chất các yếu tố trong LLSX nông nghiệp,
đòi hỏi lực lượng lao động trong nông nghiệp với tư cách là những chủ thể
sáng tạo và sử dụng công cụ lao động, phương tiện lao động, nhân tố xét đến

18


cùng quyết định sự vận động, phát triển của ngành nông nghiệp theo hướng


* Tiêu chí đáng giá NNLCLC ngành nông nghiệp
Tiêu chí đánh giá NNLCLC nói chung đã được nhiều công trình khoa học,
nhiều luận án, đề án nghiên cứu công bố, đánh giá toàn diện bộ trên các mặt về
trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức,
thể chất…. NNLCLC ngành nông nghiệp là một bộ phận nằm trong NNLCLC
của cả nước và mỗi địa phương, khi đánh giá cũng phải trên cơ sở các tiêu chung
như đã xác định. Tuy nhiên, trên cơ sở các tiêu chí chung, nội dung các tiêu chí
đánh giá chất lượng NNLCLC ngành nông nghiệp phải phù hợp với các văn bản
quy phạm pháp luật được Nhà nước, Bộ NN&PTNT, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động,
Thương binh và xã hội thông qua về NNL, về quản lý, đánh giá chất lượng cán
bộ, công chức, viên chức về người lao động trong ngành nông nghiệp…; phản ánh
được tính chất đặc thù của lao động trong ngành nông nghiệp, đáp ứng được yêu
cầu công tác tuyển dụng lao động của các cơ quan, đơn vị sử dụng NNLCLC
trong lĩnh vực nông nghiệp và từ yêu cầu của quá trình hội nhập và sự phát triển
của KH, CN đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Nội dung các tiêu chí cụ thể:
- Có trình độ học vấn cao
NNLCLC ngành nông nghiệp phải là những người lao động lành nghề,
có trình độ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên. Đây là tiêu chí đầu
tiên phản ánh chất lượng về NNLCLC ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, mỗi
giai đoạn khác nhau và mỗi đối tượng lao động cụ thể thì yêu cầu về trình độ
học vấn có sự khác nhau.
Cụ thể, đối với bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thuộc biên chế Nhà
nước phải là những người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên. Ngoài ra, lực
lượng này còn phải đáp ứng được những tiêu chí cơ bản về trình độ học vấn
theo quy định của Luật cán bộ, công chức, viên chức đã quy định.
Đối với bộ phận ngoài biên chế, phải là những người lao động đã qua đào
tạo, đáp ứng được những tiêu chí về trình độ học vấn do nhà tuyển dụng đặt ra
và phải là lao động lành nghề, có trình độ từ trung cấp trở lên.


có tình trạng sức khoẻ, tầm vóc tốt và được phản ánh bằng một hệ thống các

21


chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ như: Chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về
tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện về bảo vệ và
chăm sóc sức khoẻ. Có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên
tục, kéo dài và luôn tỉnh táo, sảng khoái về tinh thần.
- Tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức và ý chí, nghị lực vượt khó vươn lên
thực hiện nhiệm vụ: NNLCLC ngành nông nghiệp phải là những người tiêu
biểu về nhân cách, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, có phương pháp, tác
phong công tác tốt, có kỷ luật lao động, ý thức tự giác cao, có niềm say mê
nghề nghiệp, lối sống đúng mực, hòa đồng. Ngoài ra, NNLCLC ngành nông
nghiệp phải có ý chí bền bỉ, dẻo dai, có nghị lực tiêu biểu, có tinh thần chủ
động khắc phục khó khăn để vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Tiêu biểu về chất lượng, hiệu quả công việc: NNLCLC ngành nông nghiệp
phải là những người tiêu biểu về kết quả hoàn thành nhiệm vụ so với lực lượng
còn lại. Đây là tiêu chí quan trọng nhất trong đánh giá NNLCLC ngành nông
nghiệp, vì xét đến cùng tất cả những yếu tố về thể lực, trí lực và phẩm chất
đạo đức, kỹ năng lao động và ý chí vượt khó của NNLCLC ngành nông
nghiệp đều hướng đến mục đích là tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh
tế cao, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng, phát triển của cơ quan, đơn vị
sử dụng lao động và toàn xã hội.
Chất lượng, hiệu quả công việc của NNLCLC ngành nông nghiệp được thể
hiện thông qua kết quả phân loại, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, viên
chức hằng năm ở các mức hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đối
với cán bộ kết quả hoàn thành nhiệm vụ của bản thân còn phải gắn với kết
quả hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, đơn vị mình phụ trách; kết quả đánh giá
và bình chọn công nhân, nông dân (chủ trang trại, gia trại) lao động, sản xuất

Liên hiệp quốc thì nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển NNL theo nghĩa
rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy
phát triển KT-XH và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo PGS, TS Vũ Văn Phúc phát triển NNL là sự biến đổi về số lượng
và chất lượng trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng và tinh thần cùng với quá

23


trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nhân lực. Nói một cách khái quát
nhất, phát triển NNL chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện
của con người, vì sự tiến bộ KT-XH [28, tr.12].
Như vậy, mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, song các quan niệm đều
cho rằng phát triển NNL là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức
nhằm tạo ra sự biến đổi về số lượng, chất lượng và tạo ra cơ cấu theo
hướng tiến bộ, hợp lý. Nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để
tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển KT-XH.
* Quan niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành nông
nghiệp ở tỉnh Thái Bình
Thái Bình là một trong 3 tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất vùng
Đồng bằng sông Hồng, có ưu thế lớn trong phát triển trồng trọt, chăn nuôi quy
mô lớn và được xác định là Tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm, vựa lúa của
Đồng bằng sông Hồng và của cả nước.
Không chỉ có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp,
Thái Bình còn là tỉnh có dân số đông, NNL nông nghiệp dồi dào. Người lao
động Thái Bình cần cù, chịu khó, có khả năng tiếp thu, tiếp cận nhanh với tiến
bộ khoa học- kỹ thuật, nguồn lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh cao
so với cả nước vì đây là mảnh đất của nghề trồng lúa nước và các sản phẩm
chăn nuôi. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đang tăng dần qua các năm, NNLCLC
ngành nông nghiệp ngày càng phát triển tạo lợi thế cơ bản cho phát triển nông

bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các cơ quan thuộc biên chế
Nhà nước ở cấp tỉnh, thành phố, huyện và cấp xã, phường, thị trấn; ngoài
ra, họ còn là những cán bộ quản lý nông nghiệp ở những đơn vị sự nghiệp
ngoài biên chế Nhà nước, những hợp tác xã, tổng công ty và công ty sản
xuất nông nghiệp trong Tỉnh.

25


Lực lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, kỹ thuật nông
nghiệp gồm: Những nhà khoa học, chuyên gia, giáo viên, kỹ sư, kỹ thuật viên
nông nghiệp thuộc biên chế và ngoài biên chế.
Phát triển lực lượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp: Lực lượng này bao
gồm những công nhân nông nghiệp ở những tổng công ty, công ty sản xuất
nông nghiệp, những chủ gia trại, trang trại.
Ngoài ra, với tư cách là chủ thể chi phối sức lao động của chính bản thân
mình, người lao động hoàn toàn tự do sở hữu năng lực lao động và thân thể của
mình, vì vậy bản thân người lao động vừa là chủ thể đồng thời cũng là đối tượng
của quá trình tự phát triển để trở thành NNLCLC ngành nông nghiệp, thông qua
việc tự giác học tập, nghiên cứu, lao động sản xuất, tích lũy kinh nghiệm nâng
cao trình độ, vươn lên trở thành những người lao động có chất lượng cao.
Phương thức phát triển: Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển,
trong đó đặc biệt quan tâm về cơ chế, chính sách, tín dụng, cơ sở vật chất,
thời gian… Lấy lợi ích kinh tế và sự thăng tiến trong sự nghiệp làm động
lực để phát triển NNLCLC ngành nông nghiệp.
Cách thức và biện pháp được sử dụng để phát triển NNLCLC ngành
nông nghiệp phải phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng đối tượng.
Cụ thể: Thông qua các hình thức giáo dục, đào tạo, đào tạo lại (với nhiều
loại hình khác nhau như đào tạo chính quy, tại chức, từ xa, chuyên tu, tại chỗ,
liên kết đào tạo trong và ngoài nước, thăm quan, học hỏi kinh nghiệm từ các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status