DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cụm công nghiệp
Doanh nghiệp trung ương
Đầu tư nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Giá trị sản xuất công nghiệp
Khu công nghiệp
Kinh tế trọng điểm
Ngân sách nhà nước
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển bền vững
Phát triển công nghiệp
Sản xuất kinh doanh
Tăng trưởng kinh tế
Chữ viết tắt
CNH,HĐH
CCN
DNTW
ĐTNN
FDI
GO
KCN
KTTĐ
NSNN
NNL
NNLCLC
PTBV
tỉnh Vĩnh Phúc
Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành công nghiệp ở một số tỉnh và bài học rút ra cho
tỉnh Vĩnh Phúc
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
24
32
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH CÔNG
NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC THỜI GIAN QUA
2.1.
Tổng quan về ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.
Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ngành công
nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ
40
40
48
YẾU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH
3.1.
3.2.
VĨNH PHÚC THỜI GIAN TỚI
Quan điểm cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ngành công nghiệp nhằm tạo động lực
thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Song song với đó, quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đã và đang đặt ra yêu cầu
khách quan đối với vấn đề bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao cho đất nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực và chất lượng
nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở tiếp tục
phát triển những quan điểm đúng đắn của các Đại hội trước đây, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá
chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học,
công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế
cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững. Đặc biệt coi trọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ
chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa
3
học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đa dạng,
đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề.
Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động,
cơ sở lao động và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu của
xã hội. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao
đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi
dưỡng, phát huy nhân tài, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ”
[12, tr.13]
Có thể nói, trong các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X và XI
Đảng Cộng sản Việt Nam đều nhất quán quan điểm coi con người là vốn quý
nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu cao nhất của chế độ ta, coi
việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và phát triển nguồn lực to lớn của
nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đây cũng là yêu cầu cấp thiết đặt ra cả về mặt lý luận và thực tiễn. Với ý
nghĩa như vậy, tôi chọn vấn đề: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Kinh tế chính trị Mác-Lênin.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề chất lượng nguồn nhân lực đã được các quốc gia trên thế giới
rất quan tâm, đặc biệt là các quốc gia phát triển. Đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này. Hiện nay, với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, việc
kết hợp phát triển nguồn nội lực bên trong và những cơ hội phát triển từ
nguồn lực bên ngoài là điều khiến nhiều công trình khoa học đi sâu tìm tòi
nghiên cứu, nhằm tìm ra những giải pháp phù hợp nhất để phát huy có hiệu
quả nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước, khắc phục tình
trạng tụt hậu về kinh tế, văn hoá, xã hội.
Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực là vấn đề được nghiên cứu ở những góc độ và mức độ khác
nhau, nhiều công trình đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề nhân
5
tố con người, nguồn lực con người, về giáo dục và đào tạo để nâng cao chất
lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, đáng chú ý là những công trình
nghiên cứu: TS. Phạm Công Nhất: Đổi mới tư duy giáo dục để phát triển
nguồn nhân lực trong điều kiện Việt nam hội nhập quốc tế hiện nay, Tạp chí
Khoa giáo, số 11. Tác giả đã phân tích thực trạng nền giáo dục ở nước ta, từ
đó đề cập những giải pháp đổi mới tư duy giáo dục để phát triển nguồn nhân
lực trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế hiện nay; Trần Văn Tùng, Lê
Ái Lâm, Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước
ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996. Công trình đã phân tích nền kinh tế
Việt Nam trong quá trình đổi mới, đồng thời nêu lên vai trò của nguồn nhân
đưa ra một số đề xuất định hướng giải pháp thực hiện trong giai đoạn mới,
trước mắt đến năm 2020; Phạm Văn Vọng, Xây dựng nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tại Vĩnh Phúc, Tạp chí Cộng sản
số 686, Hà Nội 2015. Trên cương vị là Bí thư tỉnh ủy, tác giả đã khái quát
những điểm đã làm được, những mặt còn hạn chế sau 17 năm tái thành lập
Tỉnh và đưa ra một số giải pháp, quan điểm phát triển của Vĩnh Phúc trong
thời gian tới gắn với nguồn nhân lực chất lượng cao.
Các tác giả đã tập trung nghiên cứu một cách sâu sắc và đề ra những
giải pháp phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả nguồn lực con người Việt Nam.
Nhưng vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc, thì chưa có một công
trình nào đề cập đến một cách có hệ thống. Bởi vậy, trong luận văn này, tác
giả mong muốn được tiếp tục nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng
chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc trong ngành công nghiệp hiện nay.
Nhằm đề xuất những giải pháp cụ thể và thiết thực, phù hợp với điều kiện của
địa phương, giúp cho công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mang lại
hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành sự nghiệp
7
ngành công nghiệp ở Vĩnh Phúc.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển NNLCLC ngành
công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc; đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển
NNLCLC ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển NNLCLC
ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng
6. Ý nghĩa của đề tài
- Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển NNLCLC
ngành công nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC ngành công nghiệp
tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển NNLCLC phục vụ phát triển ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng hoạch định
chính sách phát triển NNLCLC ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc và phục vụ
công tác nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực trên.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 03 chương, 07 tiết
9
Chng 1
C S Lí LUN V PHT TRIN NGUN NHN LC
CHT LNG CAO CHO NGNH CễNG NGHIP TNH VNH PHC
1.1. Khỏi nim v ngun nhõn lc cht lng cao
ngnh cụng nghip
1.1.1. Khỏi nim
* Ngun nhõn lc
Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực con ngời, là nguồn lực quan trọng
nhất của mỗi quốc gia nói chung hay một địa phơng nói riêng, bởi con ngời
vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ngun nhõn lc cũn c hiu l mt yu t tham gia trc tip vo quỏ
trỡnh phỏt trin kinh t - xó hi, l tng th nhng con ngi c th tham gia
vo quỏ trỡnh lao ng, ú l nng lc lao ng ca xó hi, bao gm nhng
vốn cao, bởi vốn nhân lực càng được sử dụng nhiều thì giá trị gia tăng càng
tăng lên và càng tạo ra được nhiều thu nhập. Vốn nhân lực không mang đặc
điểm có tính quy luật như các nguồn vốn khác, đó là so với khấu hao vốn đã
đầu tư vào các tài sản và loại hình vật chất khác, thì đầu tư vốn nhân lực
không gây áp lực về khối lượng vốn lớn cần huy động trong khoảng thời gian
ngắn, do quá trình đầu tư dài và sau khi đã đầu tư thì vốn nhân lực tự duy trì
và phát triển.
Hiệu ứng lan toả của đầu tư vốn vào nhân lực là rất lớn, tạo ra những
đột biến không lường trước được đối với phát triển kinh tế, do đặc điểm của
vốn nhân lực là mang tính sáng tạo, nó tự phát huy tiềm năng mà các nguồn
vốn khác không có.
Từ đó có thể thấy việc chú trọng đầu tư để chất lượng nguồn nhân lực
không ngừng được gia tăng là một hướng phát triển hiệu quả và bền vững của
một nền kinh tế.
Trong lý luận về “vốn người” nguồn nhân lực được xem xét trước hết
11
như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế
xã hội và đến lượt nó, phát triển kinh tế - xã hội lại là phương tiện nhằm đạt
mục đích phát triển nguồn lực con người. Đầu tư cho con người được phân
tích với tính cách là sự “tư bản hoá các phúc lợi” tương tự như đầu tư vào các
nguồn vật chất, có tính đến tổng hiệu quả các đầu tư này, hoặc của thu nhập
mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó. Đây cũng là cách tiếp cận
nguồn nhân lực đang được áp dụng ở hầu hết các quốc gia hiện nay.
Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là
toàn bộ “vốn người” (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,...) mà mỗi cá nhân
sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay một
hoạt động nào đó. Ở đây nguồn nhân lực được coi như một nguồn vốn bên
cạnh các loại vốn vật chất khác như: tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,...
vào cuộc sống lao động vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
* Nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người có trình độ chuyên
môn cao, có vốn tri thức và tay nghề giỏi, có khả năng nhận thức và tiếp thu
nhanh kiến thức mới. Đây là chìa khoá chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa
học kỹ thuật và công nghệ trên con đường phát triển và chống nguy cơ tụt
hậu. Ngoài ra còn một quan niệm cụ thể khác, nguồn nhân lực chất lượng cao
là một khái niệm để chỉ một con người, một lao động cụ thể có trình độ lành
nghề (về chuyên môn, kĩ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức
phân loại lao động về chuyên môn kĩ thuật nhất định.
Ngoài ra còn có những thuật ngữ cụ thể mang ý nghĩa gần gũi và được xã
hội chấp nhận. Những quan niệm này có nội hàm hẹp hơn và để chỉ người lao
động có trình độ cao, làm việc có chất lượng tốt, đạt hiệu quả lao động trong hai
lĩnh vực lao động chủ yếu: trong lĩnh vực sản xuất vật chất như chuyên gia, nghệ
nhân...trong lĩnh vực lao động trí óc, bên cạnh hệ thống học vị, học hàm của Nhà
nước còn có các thuật ngữ như nhà chuyên môn, bác học. Bên cạnh đó, xã hội
13
còn có những thuật ngữ như nhân tài, nguyên khí quốc gia...để tôn vinh những
người tài có cống hiến cho sự phồn thịnh của đất nước.
Do vậy, NNLCLC là một bộ phận đặc biệt, kết tinh những gì tinh tuý nhất
của NNL. Đó là những người lao động có trình độ chuyên môn từ công nhân nghề
bậc 3/7 trở lên đến trên đại học, có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn.
Họ được đặc trưng bởi trình độ học vấn và chuyên môn cao có khả năng nhận
thức tiếp thu nhanh chóng những kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biết vận
dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn. Họ có phẩm chất công dân
tốt, có đạo đức nghề nghiệp và đem lại năng suất, chất lượng hiệu quả lao động
cao hơn hẳn so với NNL lao động phổ thông.
Vậy NNLCLC là: những người lao động có đủ sức khỏe, có trình độ chuyên
nhiều cách phân loại công nghiệp: Theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao
động: Công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ; theo sản phẩm và ngành nghề: công
nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng,…
theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương.
Công nghiệp nặng là lĩnh vực công nghiệp sử dụng nhiều tư bản,
đối ngược với công nghiệp nhẹ là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Công
nghiệp nặng không dễ dàng tái phân bố như công nghiệp nhẹ vì nhiều tác
động đến môi trường và chi phí đầu tư nhiều hơn. Công nghiệp nặng có
thể được hiểu là ngành mà sản phẩm dùng để cung cấp cho các ngành
công nghiệp khác. Ví dụ, đầu ra của các xưởng thép, nhà máy hóa chất là
đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ hoặc bán buôn khác nhiều
hơn là bán lẻ đến tay người tiêu dùng.
Công nghiệp nhẹ là ngành công nghiệp ít tập trung tư bản hơn công
nghiệp nặng, và thiên về cung cấp hàng hóa tiêu dùng hơn là phục vụ các
doanh nghiệp (có nghĩa là sản phẩm được sản xuất cho người tiêu dùng cuối
cùng hơn là sản xuất để làm đầu vào cho một quá trình sản xuất khác). Các cơ
15
sở công nghiệp nhẹ thường ít gây tác động môi trường hơn công nghiệp nặng
và vì thế chúng có thể được bố trí gần khu dân cư.
* Nguồn nhân lực chất lượng cao ngành công nghiệp
Theo phân tích của các nhà Khoa học và từ đặc điểm của ngành công
nghiệp ta có thể đưa ra khái nhiệm nguồn nhân lực chất lượng cao như sau:
Nguồn NLCLC cao ngành công nghiệp gồm đội ngũ các nhà khoa học và
công nghệ, các công trình sư, kỹ sư, các công nhân kĩ thuật có tay nghề cao
hoạt động kinh tế quy mô lớn mà ở đó sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra
trở thành hàng hóa gắn với những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được
một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp.
Xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau nên vẫn còn nhiều cách hiểu khác
ngày một hợp lý hơn, đáp ứng được quá trình CNH, HĐH của Tỉnh.
* Đối tượng phát triển:
Con người vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình phát triển
NNLCLC, là lực lượng trực tiếp tham gia quá trình lao động sản xuất. Lực
lượng tham gia trực tiếp đến kết quả đến quá trình phát triển NNLCLC ngành
công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời, tham gia vào quá trình đào tạo, tiếp
thu khoa học công nghệ, rèn luyện thể lực, trí lực và tâm lực để đáp ứng yêu
cầu phát triển của Tỉnh.
* Cách thức phát triển:
Phát triển NNLCLC ngành công nghiệp là tổng hợp các phương thức,
phương pháp nhằm tạo dựng, phân bổ, sử dụng thông qua việc học tập (tự học
tập hoặc thông qua đào tạo tại trường, thông qua quá trình hội thao, hội thi,
tập huấn...), phân bổ khoa học đúng kế hoạch, sử dụng đúng và có hiệu quả
chuyên môn. Phát triển có thể thông qua đào tạo và phân bổ hoặc qua thị
trường lao động.
Để phát triển NNLCLC ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
cần sử dụng tổng hợp, đồng bộ nhiều biện pháp như: xây dựng kế hoạch dài
hạn, trung hạn về phát triển NNLCLC nói chung và NNLCLC ngành công
nghiệp nói riêng, đổi mới mục tiêu, chương trình đào tạo, có chính sách đãi
17
ngộ và sử dụng nhân tài, đổi mới chính sách thu hút đội ngũ nhân lực chất
lượng cao. Tăng cường hợp tác đào tạo với thế giới, xã hội hóa giáo dục đào
tạo và chăm sóc sức khỏe cộng đồng...
Như vậy, quan niệm về nguồn nhân lực của các nhà khoa học, các công
trình nghiên cứu trong và ngoài nước tuy tiếp cận ở những góc độ khác nhau,
nhưng đều thống nhất với nhau về nội dung căn bản: nguồn nhân lực là lực
lượng dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng hoạt động trong các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội.
thuật cao. Đáp ứng đòi hỏi này chính là điều kiện đầu tiên giúp người lao
động có thể làm chủ được các thiết bị, máy móc trong quá trình sản xuất, từ
đó từng bước nâng cao hiệu quả công việc.
Thực chất, lao động trình độ cao (hay là NNLCLC trong công nghiệp)
là những lao động trực tiếp làm việc tại các vị trí có liên quan mật thiết tới sự
ra đời, phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức...
Đặc điểm này trực tiếp chi phối đến quá trình đào tạo và bố trí, sắp
xếp, sử dụng NNLCLC trong công nghiệp. Ngay cụm từ "NNLCLC" cũng đã
thể hiện khá rõ điều này. Không phải là những người lao động làm việc tại
những vị trí thông thường, NNLCLC trong công nghiệp là những lao động mà
quá trình làm việc sẽ trực tiếp liên quan đến tri thức khoa học, từ việc sáng
tạo, truyền bá và ứng dụng những tri thức khoa học vào hoạt động sản xuất.
Nếu quá trình này được thực hiện có chất lượng trên cơ sở vai trò tích cực
của NNLCLC thì hiệu quả sản xuất trong công nghiệp sẽ cao, và ngược lại.
Do vậy, ngay trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng NNLCLC cần chú ý thường
xuyên đến đặc điểm này.
Hai là, Có khả năng thích ứng làm chủ khoa học công nghệ và quản lý
điều hành các hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp, trong ngành kinh tế
công nghiệp gắn với khoa học kỹ thuật hiện đại...
Đây là đặc điểm phản ánh rõ nét nhất phẩm tính linh hoạt, sáng tạo của
NNLCLC trong công nghiệp. Với tác động của các cuộc cách mạng khoa học kỹ
19
thuật, hiện nay công nghệ sản xuất luôn có sự vận động, phát triển liên tục đòi
hỏi người lao động nói chung, nhất là NNLCLC cần phải hình thành năng lực
làm chủ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những công nghệ sản xuất mới. Vấn
đề này càng có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển ngành công nghiệp của
nước ta hiện nay. Là nước có điểm xuất phát thấp, chịu hậu quả nặng nề của
chiến tranh; công nghệ sản xuất nhìn chung lạc hậu..., nên chỉ khi phát huy tốt
cũng mang tới vô vàn những thách thức với những yêu cầu ngày càng cao về trí
tuệ cũng như tính năng động của con người, đòi hỏi nguồn nhân lực của chúng ta
phải không ngừng vươn lên mới bắt kịp. Mặt khác nền kinh tế thị trường cũng đã
tác động không nhỏ tới nhân cách, phẩm chất của người lao động, thậm trí là
những mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang ảnh hưởng tới tâm lí, lối sống của
một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy việc nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực ngoài việc chú trọng đến phát triển trí tuệ, tình độ, kỹ
năng, thì không thể không tính đến yếu tố phẩm chất đạo đức. Hai yếu tố này
được coi là vừa hồng vừa chuyên, người lao động sống trong một xã hội hiện đại,
văn minh không thể thiếu một trong hai yếu tố đó.
Đối với nước ta, nguồn lực con người được coi là nguồn nội lực căn
bản nhất để thực hiện ngành công nghiệp. Giáo dục - đào tạo là khâu quyết
định chăm lo cho con người, hình thành trí tuệ, kiến thức, kỹ năng, phương
pháp lao động. Đối với cá nhân mỗi người, giáo dục là quá trình hình thành,
phát triển, hoàn thiện nhân cách, thế giới quan với tình cảm đạo đức... Đối với
xã hội, giáo dục là quá trình tích tụ nguồn vốn con người để chuẩn bị và cung
cấp nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục
phổ thông là nền tảng, là cơ sở để đào tạo nguồn nhân lực, giáo dục chuyên
nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cung cấp cho thị trường sức lao động,
những người lao động đáp ứng với những tiêu chuẩn của sự nghiệp đổi mới,
phát triển kinh tế và ngành công nghiệp. Do vậy, để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực thì đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho sự phát triển,
đầu tư trực tiếp vào nguồn lực con người.
21
Có thể nói, ngành công nghiệp là quá trình biến đổi mọi mặt của đời sống
của con người và cộng đồng. Vì vậy công nghiệp hoá chỉ có thể tiến hành thành
công trong một môi trường văn hoá phù hợp. Ngày nay văn hoá đang trở thành
động lực của sự phát triển kinh tế. Văn hoá là những tư tưởng, tình cảm, tập
đại nào cũng vậy, sự tồn vong, hưng thịnh của đất nước phụ thuộc chủ yếu
vào việc giai cấp cầm quyền có phát huy được sức mạnh tổng hợp của con
người Việt Nam hay không. Chính vì vậy, từ ngàn xưa đến nay, dân tộc ta đã
rất coi trọng nguồn tiềm năng sáng tạo của toàn dân, xem đó là nguồn vốn vô
giá cần phải được khơi dậy và phát huy trong quá trình phát triển. Hơn bao
giờ hết, công cuộc đổi mới đất nước và ngành công nghiệp hiện nay càng cần
phải chăm lo, bồi dưỡng, phát triển nguồn lực con người để tạo ra sức mạnh
to lớn thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
Hiện nay cả nước đang tập trung mọi nguồn lực để phấn đấu trở thành
nước công nghiệp vào những năm 2020. Do đó, phát triển ngành công nghiệp là
một công việc tất yếu phải thực hiện để trở thành nước công nghiệp, song ngành
công nghiệp không có một mô hình chung, mà phải do chính con người Việt
Nam tìm tòi, sáng tạo trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm của các nước
đi trước. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta có một NNL vững
mạnh, sáng tạo, chất lượng không ngừng được gia tăng. Vì vậy nâng cao chất
lượng NNL, nhất là NNLCLC thực sự là vấn đề có ý nghĩa chiến lược to lớn đối
với việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu
của sự nghệp ngành công nghiệp đất nước.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2010 - 2015 của nước ta đã
chỉ rõ: con người là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
ngành công nghiệp, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững, trong đó vấn đề phát triển, sử dụng và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đặc biệt là NNLCLC, giải quyết việc làm cho người lao động
được coi là một trong những nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu và là phương hướng
cơ bản để tạo ra một sự phát triển vượt bậc của nguồn lực con người nước ta.
23
Song phát triển nguồn nhân lực là một công việc mang tính xã hội, nên nó đòi
hỏi không chỉ sự đóng góp của Đảng, Nhà nước, mà phải có sự đóng góp của
các khu, cụm công nghiệp trước đây (trước năm 1997 tái lập tỉnh và trước
năm 2008 huyện Mê Linh sáp nhập về Hà Nội), chủ yếu tập chung ở vùng
đồng bằng (huyện Mê Linh), sau khi Mê Linh không còn là địa giới hành
chính của Tỉnh, đồng nghĩa với một số lượng lớn NNLCLC ngành công
nghiệp sụt giảm do đó việc cơ cấu lại NNLCLC ngành công nghiệp là một
yêu cầu cấp thiết và lâu dài.
Việc phát triển NNLCLC trước năm 2008 giữa các vùng miền cũng
chưa được đồng đều do đó các chủ chương, chính sách phát triển của Tỉnh
đều phải tập trung cân đối lại quá trình phát triển NNL này để phù hợp với
thực tiễn phát triển của Tỉnh. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo
vùng, miền là quá trình phát triển ở khu vực miền núi, khu vực trung du, khu
vực thành phố. Đó là quá trình phát triển về số lượng, về chất lượng và làm
thay đổi cơ cấu NNLCLC giữa các vùng miền.
Phát triển về số lượng là quá trình đào tạo, tự đào tạo, thu hút tuyển
dụng những người có trình độ chuyên môn cao về công tác và làm việc tại các
vùng, miền trong tỉnh, nhằm đảm bảo đủ về số lượng nhân lực chất lượng cao,
đáp ứng yêu cầu của các vùng miền.
Phát triển về chất lượng là quá trình phát triển về thể lực, trí lực và đạo
đức, tác phong người lao động, nhằm nâng cao thể lực và trình độ chuyên
môn, kỹ năng làm việc của người lao động trong vùng, miền đó.
Thay đổi về cơ cấu NNLCLC giữa các vùng miền là quá trình phát
triển nhằm làm cân đối số lượng và chất lượng giữa khu vực miền núi với khu
vực trung du và đồng bằng, giữa nông thôn và thành thị.
* Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các thành phần kinh
tế chủ yếu
Hiện nay nguồn thu nhập chính cho ngân sách của tỉnh Vĩnh Phúc là
thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân chiếm
25