LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG xây DỰNG NÔNG THÔN mới ở TỈNH bắc GIANG HIỆN NAY - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt đầy đủ
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Cơ cấu kinh tế
Hợp tác xã

Chữ viết tắt
CNH, HĐH
CCKT
HTX

Khoa học - công nghệ

KH - CN

Kinh tế nông nghiệp
Kinh tế - xã hội
Nông thôn mới

KTNN
KT - XH
NTM

Phát triển nông nghiệp
Quốc phòng an ninh

PTNN
QPAN



tỉnh Bắc Giang
2.2. Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra

28

từ thực trạng về phát triển nông nghiệp trong xây dựng
nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang

33

Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI Ở TỈNH BẮC GIANG THỜI GIAN TỚI

58

3.1. Quan điểm cơ bản phát triển nông nghiệp trong xây dựng
nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang thời gian tới
3.2. Giải pháp chủ yếu phát triển nông nghiệp trong xây dựng
nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

58
64
88
90
95


Luận văn dựa vào cơ sở lý luận về KTNN để đi sâu vào phân tích, đánh
giá thực trạng PTNN của tỉnh Bắc Giang trong xây dựng NTM: những mặt

3


đạt được, kết quả, hạn chế và các nguyên nhân của hạn chế đó. Trên cơ sở kết
hợp lý luận và thực tiễn, các chủ trương của Đảng, Nhà nước, đồng thời tham
khảo kinh nghiệm của một số địa phương trong nước, đưa ra các quan điểm
và đề ra các giải pháp chủ yếu PTNN trong xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Giang.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và xây dựng NTM ở nước ta là vấn đề
lớn và quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Có nhiều nhà khoa học, nhiều
công trình, đề tài, hội thảo, bài viết đăng tải trên các sách báo, tạp chí đề cập,
lý giải tiêu biểu là:
* Các sách tham khảo, chuyên khảo có liên quan đến đề tài
Nguyễn Sinh Cúc (1983), Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1995, Nhà
xuất bản Thống kê, Hà Nội. Trong cuốn sách tác giả đã tập trung nghiên cứu
và chỉ ra những thuận lợi, khó khăn thực hiện đường lối đổi mới, nhất là lĩnh
vực nông nghiệp đã phân tích làm sâu sắc thực trạng, thông tin toàn diện và
tổng hợp về nông nghiệp Việt Nam từ điều kiện sản xuất, quan hệ sản xuất,
lực lượng sản xuất, kết quả, hiệu quả kinh tế từng vùng, từng địa phương và
cả nước; từ đó đề ra chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà Nước ta về
PTNN, nông thôn theo hướng hiện đại hóa.
Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang (1994), Đổi mới quản lý nông
nghiệp: Thành tựu, vấn đề và triển vọng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Trong cuốn sách tác giả chỉ rõ thực hiện đường lối đổi mới kinh tế nước
ta đã đạt được những thành tựu quan trọng; nông nghiệp đã khẳng định vai trò
của mình trong phát triển KT - XH, nông nghiệp là một ngành có đầy tiềm
năng, lợi thế đã và đang tạo ra tiền đề đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Nhóm

toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất,
chất lượng hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm vững chắc an ninh
lượng thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.
Lê Đình Thắng (2000), Chính sách phát triển nông nghiệp và nông
thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Tác giả đã phân tích thành tựu nông nghiệp sau đổi mới, đặc biệt là chỉ

5


ra vai trò lãnh đạo của Đảng đã đi đúng hướng, khắc phục những hạn chế của
cơ chế cũ, qua đó xác định rõ vị trí, tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp
và phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH. Từ đó
đưa ra các phương hướng, giải pháp để tiếp tục đổi mới PTNN, nông thôn ở
nước ta trong thời gian tới.
Chu Tiến Quang (2001), Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong cuốn sách tác giả đã làm rõ
vấn đề việc làm ở nông thôn Việt Nam hiện nay đã có thất nghiệp; đây là vấn
đề đặt ra khi hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; vấn đề thất nghiệp là một
trong những vấn đề toàn cầu; từ đó đánh giá đúng thực trạng lao động, việc làm
ở nông thôn; đề ra những giải pháp, chính sách, tạo công ăn việc làm cho cư
dân nông thôn.
Nguyễn Đình Phan (2002), Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã trình bày những vấn đề
lý luận cơ bản, vai trò của CNH, HĐH tác động đến nông nghiệp, nông thôn;
sự cần thiết phải chuyển dịch CCKT nông nghiệp cho phù hợp với điều kiện
sản xuất; phân tích tình hình tăng trưởng của KTNN, sự phát triển các ngành
tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ sản xuất nông nghiệp, quá trình ứng dụng các
thành tựu khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp; tác động của quá

trình bày sâu sắc cơ sở cần thiết chuyển dịch CCKT nông nghiệp nói chung
và đối với vùng lãnh thổ đồng bằng sông Hồng nói riêng; từ những đặc điểm
sản xuất nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng tác giả đề xuất các quan
điểm, giải pháp cho sự chuyển dịch CCKT nông nghiệp phù hợp cả trước mắt
và lâu dài bền vững.
Nguyễn Thị Yến (2012), “Phát triển nông nghiệp, nông thôn với giảm
nghèo ở tỉnh Thái Nguyên”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện quốc gia Hồ Chí
Minh, tác giả của luận án chỉ rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò của sản xuất
nông nghiệp, xây dựng nông thôn là nhằm nâng cao đời sống và giảm nghèo ở
nông thôn; từ đó đề ra các quan điểm, giải pháp nhằm PTNN, nông thôn để
giảm nghèo ở Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.

7


Đồng Thị Hạnh (2012), “Phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Đồng
Nai”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị, Hà Nội. Tác giả luận văn
đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KTNN nói chung, vị trí vai
trò của phát triển KTNN ở Đồng Nai nói riêng; nội dung, thực trạng KTNN,
các nhóm nhân tố tác động đến KTNN. Từ đó, tác giả đưa ra các quan điểm,
giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTNN ở tỉnh Đồng Nai.
Các đề tài, luận án, luận văn trên đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về
phát triển KTNN. Đưa ra quan điểm, phương hướng và các giải pháp phát
triển KTNN ở địa phương, khu vực; các tác giả đã đưa ra nhiều các nhóm giải
pháp nhằm phát triển KTNN và xây dựng NTM; nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho cư dân nông thôn.
* Các báo cáo, tham luận, bài báo khoa học:
Võ Tòng Xuân, “Nông dân và nông nghiệp Việt Nam nhìn từ sản xuất thị trường”, Tạp chí Cộng sản, số 812, 6/2010. Trên cơ sở phân tích đánh giá
tình hình nông dân, nông nghiệp nước ta. Tác giả đã luận giải, làm rõ những
vấn đề nông dân, nông nghiệp một cách khá sâu sắc trong quá trình sản xuất,

thực trầm trọng nhưng dưới sự lãnh đạo của đảng đã đề ra các chủ trương,
biện pháp đúng đối với nông nghiệp và trở thành một nước xuất khẩu gạo
đứng thứ hai trên thế giới; phát triển KTNN gắn với xây dựng NTM là một
yêu cầu quan trọng đối với các địa phương hiện nay. Đây là những tài liệu
quan trọng mà tác giả có thể tham khảo, kế thừa và phát triển.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nghiên cứu một cách
hoàn chỉnh và hệ thống vể “Phát triển nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới ở
tỉnh Bắc Giang” được công bố. Vì vậy, đề tài luận văn không trùng lặp với các công
trình khoa học nào đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn PTNN trong quá trình xây dựng
NTM ở tỉnh Bắc Giang; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp
chủ yếu PTNN trong xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Giang thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về PTNN trong xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Giang.
- Phân tích, đánh giá thực trạng PTNN trong quá trình xây dựng NTM ở

9


Bắc Giang thời gian qua, xác định nguyên nhân và những vấn đề cần tiếp tục
giải quyết trong thời gian tới.
- Đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu PTNN trong xây
dựng NTM ở tỉnh Bắc Giang thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
PTNN trong xây dựng NTM dưới góc độ kinh tế chính trị học.
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung và không gian: Đề tài nghiên cứu về PTNN trong xây

1.1. Một số vấn đề chung về phát triển nông nghiệp và xây dựng nông
thôn mới
1.1.1. Quan niệm về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp
* Quan niệm về nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội được xuất
hiện từ rất sớm gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài
người. Theo thông thường có hai cách hiểu khác nhau về nông nghiệp: Nông
nghiệp theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và dịch vụ
trong nông nghiệp. Trong trồng trọt bao gồm: trồng cây lượng thực, cây công
nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức ăn cho chăn nuôi, cây rau củ quả;
chăn nuôi bao gồm: chăn nuôi gia súc, gia cầm… Các sản phẩm nông nghiệp
tạo ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của
cây trồng, vật nuôi tạo ra sản phẩm lương thực, thực phẩm để thỏa mãn các
nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày của con người và làm nguyên liệu cho sản
xuất công nghiệp. Còn nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả trồng trọt,
chăn nuôi, lâm nghiệp và ngành thủy sản.
Khi chủ nghĩa tư bản chưa ra đời, nông nghiệp được coi là một ngành
sản xuất truyền thống chủ yếu và là nguồn thu nhập chính của các quốc gia.
Thế kỷ XX nông nghiệp có bước phát triển tiến bộ vượt bậc, chuyển từ giai
đoạn sản xuất truyền thống sang giai đoạn hiện đại hóa, nhờ vậy mà hiệu quả
sản xuất cao hơn, thu nhập và đời sống người dân được nâng lên. Sang thế kỷ
XXI, với những thách thức về an ninh lương thực của các quốc gia trên thế
giới, thách thức về môi trường sinh thái, nông nghiệp đã được dự báo tiếp tục
đóng vai trò quan trọng với mọi quốc gia dân tộc. Đặc biệt, hiện nay với sự
chuyển biến nhanh chóng của xu thế trên thế giới như toàn cầu hóa kinh tế, sự

11


bùng nổ của công nghệ thông tin, kinh tế tri thức ra đời, nhận thức về nông


Khi nghiên cứu sơ đồ quá trình tái sản xuất của chủ nghĩa tư bản trong
sản xuất nông nghiệp, C.Mác đã chỉ ra mối quan hệ giữa con người với con
người trong sản xuất, chỉ ra bản chất bóc lột sâu xa của chủ nghĩa tư bản, xã
hội tư bản đó không phải là mục tiêu giải phóng người lao động, cho nên đây
là cơ sở để các đảng cộng sản và giai cấp công nhân có thể vận dụng vào giải
quyết vấn đề sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
V.I.Lênin là người kế thừa và phát triển học thuyết Mác trong điều kiện
lịch sử mới, khi nghiên cứu quá trình chuyển biến KTNN nước Nga sau cải cách
nông nô 1861, chỉ ra mối quan hệ xã hội chặt chẽ giữa tầng lớp nông dân và
nông thôn trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế tiểu nông, truyền thống
chuyển sang nền sản xuất hàng hóa thành nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ
nghĩa, chỉ ra những vấn đề mang tính quy luật của quá trình PTNN và vận
dụng cho mọi nền nông nghiệp trong phát triển KT-XH.
Xuất phát điểm phát triển kinh tế của nước ta là một nước nông nghiệp,
trước khi đổi mới trong đường lối phát triển kinh tế, có thời điểm ta chỉ chú
trọng vào công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng, mà nông nghiệp lại ít
quan tâm nên dẫn đến tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng, đời
sống nhân dân vô cùng khó khăn. Nhận thức về vấn đề này Chủ tịch Hồ Chí
Minh lúc sinh thời đã căn dặn: “Nếu muốn công nghiệp hóa gấp thì là chủ
quan; cho nên trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp… Ta cho nông
nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi đến thủ công nghiệp, sau mới đến công
nghiệp nặng” [27, tr.572].
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến nông nghiệp và nhấn mạnh: “Nông nghiệp
không phát triển thì công nghiệp không phát triển được”. Người đã chỉ ra: Công
nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Nông nghiệp phải phát triển
mạnh để cung cấp lương thực cho nhân dân; cung cấp nguyên liệu cho nhà máy;
cung cấp nông sản cho xuất khẩu. Công nghiệp phải phát triển mạnh mẽ để cung
cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là nông dân; cung cấp



14


Từ những vấn đề trên, có thể rút ra kết luận rằng: Nông nghiệp là một
bộ phận của nền kinh tế quốc dân, gắn bó chặt chẽ với kinh tế nông thôn và
người nông dân. Muốn xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp thì phải
gắn bó mật thiết giữa phát triển nông nghiệp với nông thôn và người nông
dân hiệu quả, bền vững.
*Quan niệm phát triển nông nghiệp
Phát triển, hiểu theo cách cơ bản là một quá trình vận động, biến đổi từ
ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện
đến ngày càng hoàn thiện, hay đó là sự thay đổi tăng tiến cả về quy mô số
lượng và chất lượng. Phát triển trong kinh tế học đã được các nhà nghiên cứu
kinh tế luận giải làm rõ trong quá trình gắn với nền kinh tế quốc dân trong
một thời gian. Đó là sự thay đổi cấu trúc kinh tế từ thấp đến cao trong sự tăng
trưởng và liên quan đến nó là sự chuyển biến của tất cả các lĩnh vực KT-XH;
phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế của một nước, nó được biểu hiện ở
tốc độ gia tăng của nền kinh tế (sự tăng lên của GDP hoặc GNP bình quân
đầu người hàng năm; các địa phương là GRDP).
PTNN là quá trình biến đổi lâu dài của ngành nông nghiệp trong quá
trình phát triển KT-XH; PTNN không chỉ đơn thuần tăng lên về mặt số lượng,
cơ cấu mà điều quan trọng là tăng lên về mặt chất lượng, trong quá trình phát
sinh, phát triển của nó. Như vậy, PTNN là phải từng bước khắc phục tình
trạng nông nghiệp lạc hậu, năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất thấp
chuyển sang nền KTNN hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế
cao. Để thực hiện được thì nông nghiệp phải được ứng dụng KH-CN trong
sản xuất không ngừng tăng lên.
KH-CN hiện nay đã trực tiếp tác động to lớn đến PTNN như: đưa cơ giới
hóa, thủy lợi hóa, công nghệ tạo giống, canh tác, phân bón, thuốc trừ sâu, thu

bàn cư trú của các dòng họ có phong tục tập quán chung, có quan hệ “tình
làng, nghĩa xóm” khăng khít, nhưng có khác nhau ở các làng, xã về phong
tục tập quán. Nông thôn là địa bàn lưu giữ, duy trì và phát triển bản sắc văn

16


hóa dân tộc và đặc trưng của mỗi vùng miền. Hiện nay, giao lưu văn hóa giữa
các địa bàn, vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa văn hóa hiện đại và
văn hóa truyền thống, văn hóa khu vực nông thôn có nhiều biến đổi, tuy nhiên
những nét đặc trưng văn hóa truyền thống ở nông thôn vẫn còn được bảo tồn,
duy trì và phát triển.
Nông thôn là địa bàn sống thanh bình và an toàn, những vấn đề tiêu
cực, tệ nạn xã hội tuy có tác động đến địa bàn nông thôn, nhưng ít hơn so với
địa bàn thành thị. Điều đó do đặc trưng văn hóa nông thôn, văn hóa làng, xã,
tính cộng đồng cao trong dân cư nông thôn đóng vai trò quan trọng, chính
cộng đồng là yếu tố quan trọng nhất để đề kháng các yếu tố tác động từ bên
ngoài. Lịch sử hình thành các cộng đồng tộc người ở tất cả các quốc gia trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều bắt nguồn từ nông thôn nên cái
hồn cốt văn hóa làng quê là bản sắc văn hóa dân tộc, vừa đa dạng vừa mang
bản sắc riêng của quốc gia dân tộc.
Để xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì nông nghiệp
và khu vực nông thôn không thể nghèo nàn, lạc hậu, cư dân nông thôn có đời sống
vật chất và văn hóa tinh thần thấp kém. Việt Nam là một nước nông nghiệp, cư
dân sống chủ yếu ở vùng nông thôn. Chính vì vậy, những năm qua Đảng và Nhà
nước ta đã có nhiều chủ trương đúng đắn đưa nông nghiệp, nông thôn thoát khỏi
tình trạng nghèo nàn, lạc hậu; kết quả của nông nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích
cho các hộ nông dân; đời sống có được nâng lên. Tuy nhiên, cho đến nay trên
nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, đời sống nhân dân còn gặp
nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, tệ nạn xã hội

nghiệp phát triển phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có của con người với thiên
nhiên thì sản xuất nông nghiệp lại có chức năng phục hồi hệ thống sinh thái,
làm cho con người gần gũi, thân thiện với môi trường thiên nhiên hơn.
Từ năm 2001 đến năm 2006 Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành triển
khai thí điểm đề án xây dựng NTM cấp xã theo hướng CNH, HĐH, dân chủ
hóa. Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành TW Đảng (khóa X) đã ban hành

18


Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông
dân, nông thôn, Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng NTM đến năm
2020. Đến Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nông thôn mới theo
hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nông dân” [8, tr.39].
Đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bài viết nghiên cứu về xây dựng
NTM. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chuẩn về
NTM, sự hình dung chung về mô hình NTM là kiểu mẫu cộng đồng theo bộ
tiêu chí mới, tiếp thu thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại, đời sống vật
chất dân cư nông thôn được nâng lên, song vẫn giữ những nét đặc trưng, tính
cách Việt Nam trong cuộc sống văn hóa, tinh thần. Mô hình NTM được quy
định bởi các tiêu chí, tính chất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, có sự đổi mới
về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ;
chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dung chung trên cả
nước.
Từ đó tác giả cho rằng: Nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu
trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng các yêu
cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn
khác so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt như: làng, xã

nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang
* Quan niệm PTNN trong xây dựng NTM ở Bắc Giang
Nước ta là một nước nông nghiệp, hiện nay có trên 70% dân số sống ở vùng
nông thôn, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Do vậy, để phát triển
đất nước, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp PTNN coi đây là
một ngành có nhiều tiềm năng và thế mạnh của nước ta; thực tế cho thấy sản xuất
nông nghiệp thuần nông là kém hiệu quả; trước thời kỳ đổi mới với cơ chế tập trung
bao cấp đã làm cho nước ta rơi vào khủng hoảng KT-XH; trước tình hình đó Đảng ta
đã kịp thời đề ra đường lối đổi mới mà trọng tâm là đổi mới về kinh tế; một điều quan
trọng là chúng ta đã nhận thức đúng vai trò của nông nghiệp trong điều kiện và đặc

20


điểm của nước ta. Sau “khoán 100”, ngày 5-4-1988 Bộ Chính trị khóa VI đã ra Nghị
quyết 10-NQ/TW “khoán 10” về đổi mới quản lý KTNN với mục tiêu là giải phóng
sức sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, các vùng, các
ngành chuyển biến nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hóa. Từ đó đến nay
sản xuất nông nghiệp đã đóng góp vai trò quan trọng vào phát triển KT-XH đất nước,
không chỉ xóa đói, giảm nghèo mà đã là một nước xuất khẩu gạo lớn đứng thứ hai
trên thế giới; các ngành sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp đã phát triển cả về qui
mô số lượng, chất lượng; đời sống cư dân nông thôn ngày càng được cải thiện.
Xây dựng NTM với Bộ tiêu chí Quốc gia được Thủ tướng Chính phủ
quy định và lồng ghép các chương trình, mục tiêu dự án khác đang triển khai
ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các
thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư. Được thực
hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH, đảm bảo QPAN của
mỗi địa phương từ xã, huyện, tỉnh, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát
triển theo quy hoạch. Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp
uỷ Đảng, chính quyền các cấp đóng vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quá trình

quyền địa phương, các sở, ban, ngành chức năng. Trong đó Ủy ban nhân dân
Tỉnh là cơ quan quản lý cao nhất có vai trò định hướng, đưa ra các chủ trương,
chính sách PTNN và xây dựng NTM; Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo chương trình xây dựng NTM tổ chức thực
hiện các nội dung chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp và chỉ tiêu xây dựng NTM của
địa phương.
Lực lượng tham gia vào PTNN trong xây dựng NTM là chính quyền
nhân dân tỉnh Bắc Giang, các doanh nghiệp, các cá nhân, các thành phần kinh
tế tham gia vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông nghiệp,
trong đó người nông dân là lực lượng nòng cốt đông đảo và trực tiếp tham gia
vào quá trình này.
Phương thức tiến hành quá trình PTNN trong xây dựng NTM là
phương thức kế hoạch hóa và thị trường. Phương thức kế hoạch hóa được
thực hiện ở cơ quan quản lý các cấp. Trong đó Sở Nông nghiệp và phát triển
nông thôn có kế hoạch định hướng phát triển sản xuất phù hợp với lợi từng

22


vùng trong tỉnh. Phương thức thị trường được sử dụng thông qua đầu tư về
vốn, công nghệ, giống, các dịch vụ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp, các cá nhân, các thành phần kinh tế thực hiện theo
cơ chế thị trường phát huy được hiệu quả.
* Nội dung phát triển nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới
PTNN nói chung và với riêng tỉnh Bắc Giang là nhằm thực hiện thắng lợi
chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng NTM
hiện nay. Nội dung cơ bản của PTNN trong xây dựng NTM ở Bắc Giang là:
Thứ nhất, PTNN gắn với tăng trưởng và phát triển một nền nông
nghiệp hiệu quả bền vững; sản xuất nông nghiệp tăng về cả qui mô, số lượng,
chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ nông nghiệp theo hướng phát triển

phần tích cực vào củng cố QPAN và phong trào xây dựng NTM.
1.2.2. Vai trò của phát triển nông nghiệp trong xây dựng nông thôn
mới ở tỉnh Bắc Giang
Một là, PTNN góp phần tạo tiền đề quan trọng đẩy nhanh tiến trình CNH,
HĐH phát triển KT-XH của Tỉnh
Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất
kỹ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thiết lập nhưng chưa hoàn thiện.
Trước đổi mới điều này tồn tại trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế
và nông nghiệp cũng vậy, sản xuất nông nghiệp rất lạc hậu, năng suất lao động
thấp, sản xuất manh mún, tự phát, lao động thủ công vẫn chiếm phần lớn, thu
nhập thấp. Đến nay Bắc Giang đang đẩy mạnh CNH, HĐH trên các ngành, các
lĩnh vực nhằm tăng trưởng kinh tế để sớm trở thành địa phương có công nghiệp
hiện đại. Thực hiện Chương trình xây dựng NTM ở Bắc Giang, sản xuất nông
nghiệp góp phần trực tiếp hoàn thành các tiêu chí ở nông thôn nhanh hơn.
Hai là, PTNN nhằm đảm bảo an ninh lương thực và để Bắc Giang thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH
Nhu cầu ăn là nhu cầu cơ bản hàng đầu của con người. Xã hội có thể
thiếu nhiều loại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm cho
24


xã hội. Khi nghiên cứu về sản xuất nông nghiệp Ph. Ăngghen cho rằng:
“Trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở và mặc nghĩa là phải lao động,
trước khi có thể đấu tranh giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động
chính trị, tôn giáo, triết học” [20, tr.166]. Do đó việc thỏa mãn các nhu cầu về
lương thực, thực phẩm trở thành điều kiện khá quan trọng để ổn định kinh tế,
là cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống KT-XH.
Ba là, PTNN góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời
sống nông dân, thực hiện xóa đói giảm nghèo và chương trình xây dựng NTM.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status