LUẬN văn THẠC SĨ - VỀ TỔ CHỨC THỰC TIỄN của cán bộ cấp HUYỆN ở TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Để sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thắng lợi, cần
phải tổ chức thực hiện những mục tiêu mà các nghị quyết của Đảng đã đề
ra. Nghĩa là phải hiện thực hóa những yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu mà sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đòi hỏi. Muốn vậy, phải nâng
cao hơn nữa hiệu quả, năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý nói chung và cấp huyện nói riêng. Đây là vấn đề quyết định
đến sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề đặt ra là có nâng cao được hiệu quả và
năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ thì mới có thể hiện thực hóa
được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước
vào trong đời sống xã hội.
Hơn nữa, thông qua quá trình tổ chức thực hiện chủ trương chính
sách, nghị quyết của Đảng; pháp luật của Nhà nước vào trong cuộc sống, sẽ
không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý nói chung và cán bộ cấp huyện nói riêng.
Vấn đề nâng cao hiệu quả tổ chức thực tiễn không chỉ quan trọng
đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, Trung ương mà còn đối với cán bộ
lãnh đạo, quản lý ở cấp huyện nhất là cấp huyện miền núi. Bởi vì, đối với
miền núi, cấp huyện có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong quá trình tổ
chức, triển khai thực hiện các chủ trương đường lối, nghị quyết của Đảng và
pháp luật của Nhà nước vào trong đời sống ở cơ sở. Vì cơ sở là mắt khâu cuối
cùng để kết nối chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và
pháp luật của Nhà nước thành một chỉnh thể hoàn chỉnh cho sự phát triển.
Đồng thời, cơ sở còn là cấp để kiểm nghiệm tính phù hợp hay chưa phù hợp
của các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.




3

tiễn đó, tác giả lựa chọn: "Vấn đề tổ chức thực tiễn của cán bộ cấp huyện
ở Điện Biên hiện nay", làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Những vấn đề về hoạt động thực tiễn và tổ chức thực tiễn đã được
nhiều tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu từ nhiều góc độ khác
nhau; cụ thể là:
+ C.D. Vi-si-an-ni với tác phẩm: Lãnh đạo quản lý, Nxb Thông tin
Văn hóa, 1980.
+ Giáo sư Nguyễn Đức Bình với tác phẩm: Mấy vấn đề về tổ chức
thực tiễn, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983.
+ PGS.TS Nguyễn Hải Khoát với bài: Năng lực tổ chức thực tiễn
và việc rèn luyện năng lực tổ chức, Tạp chí Cộng sản, số 4, 1983.
+ V.G.Apha-na-xép: Lao động của Người quản lý lãnh đạo, Nxb Thông
tin Văn hóa, 1991.
+ PGS.TS Hồ Văn Vĩnh với bài: Nâng cao trình độ năng lực quản
lý của cán bộ chủ chốt hiện nay, Tạp chí Lý luận, số 1, 1994.
+ TS. Trần Văn Phòng với bài: Nâng cao năng lực tổng kết thực
tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, Tạp chí Lý luận chính,
số 3, 2002.
- Đặc biệt là tác giả: Phạm Văn Hai với luận văn thạc sĩ: Nâng cao
năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (qua thực
tế Long An), 1997 và tác giả Phạm Văn Liên với luận văn thạc sĩ: Vấn đề tổ
chức thực tiễn của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở Ninh Thuận hiện
nay (năm 2002). Các tác giả trên đã đề cập đến nhiều vấn đề tổ chức thực
tiễn và nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở ở Long An và Ninh Thuận một cách tương đối có hệ thống và mang



5

dựng Đảng, khoa học tâm lý, khoa học chính trị hay ở một bộ môn khoa
học khác. Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề tổ chức thực tiễn của đội ngũ
cán bộ cấp huyện ở Điện Biên, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan
điểm, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng về vấn đề cán bộ và vai
trò tổ chức thực tiễn của người cán bộ nói chung, người cán bộ cấp huyện
nói riêng. Đồng thời luận văn kế thừa, vận dụng có chọn lọc những kết quả
của các tác giả đi trước về vấn đề này.
- Luận văn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Phương
pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học.
5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Luận văn bước đầu góp phần nhỏ bé vào việc làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn của vấn đề tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp huyện ở
Điện Biên trong giai đoạn hiện nay. Luận văn tập trung vào phân tích kết
cấu, vai trò và tầm quan trọng của tổ chức thực tiễn đối với cán bộ cấp
huyện trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kinh tế - chính trị
- xã hội ở địa phương. Đồng thời thông qua đó, luận văn đã từng bước làm
rõ được thực trạng tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp huyện ở Điện
Biên. Trên cơ sở đó luận văn bước đầu mạnh dạn đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp huyện ở
tỉnh Điện Biên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Qua kết quả nghiên cứu của tác giả, luận văn có thể phần nào

nghiệm khoa học... C.Mác đã chỉ rõ, nhược điểm căn bản của chủ nghĩa
duy vật cũ đó là chủ nghĩa duy vật trực quan.
Các nhà triết học duy tâm đã thấy vai trò tích cực, sáng tạo của con
người nhưng chỉ giới hạn tính tích cực, sáng tạo đó trong lĩnh vực hoạt
động tinh thần. Theo Hêghen, nhà duy tâm khách quan thì thực tiễn là hoạt
động có ý chí của tư tưởng.
Những nhà duy tâm chủ quan lại cho rằng, hoạt động thực tiễn bị
chế định bởi ý chí, bản năng hoặc những nhân tố tiềm thức. Chẳng hạn, nhà
triết học người Mỹ W. James coi kinh nghiệm tôn giáo là thực tiễn tức là
những hoạt động tinh thần thuần túy. Như vậy, hạn chế lớn nhất của chủ
nghĩa duy tâm về thực tiễn là ở chỗ, nó tuyệt đối hóa những hoạt động tinh
thần, tư tưởng, hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần thuần túy. Như
vậy, về thực chất họ đã gạt bỏ vai trò của thực tiễn.


8

Theo C.Mác quan hệ khởi nguyên, đầu tiên của con người đối với
giới tự nhiên là quan hệ thực tiễn. Ông viết: "Con người hoàn toàn không
bắt đầu từ chỗ ở trong quan hệ lý luận đối với những vật của thế giới bên
ngoài... mà tích cực hoạt động" [21, tr. 538]. Như vậy, C.Mác đã khẳng
định rằng, con người không ngừng tác động vào thế giới xung quanh, mọi
hoạt động của con người, xét đến cùng đều dựa trên cơ sở trao đổi chất và
trao đổi năng lượng với thế giới xung quanh. Sự khác biệt căn bản giữa con
người với các thực thể tự nhiên là ở chỗ, con người có khả năng nhận thức
các quá trình của thế giới khách quan và không ngừng tác động vào thế giới
đó để biến đổi, cải tạo nó theo nhu cầu của mình. Sự tác động vào thế giới
bên ngoài đòi hỏi phải có sự nhận thức, tức là sự phản ánh tích cực và sáng
tạo thế giới đó. Bởi vì, nhận thức là một hoạt động đặc trưng của con người
nhưng sự xuất hiện và bản chất của nó chỉ có thể hiểu một cách đúng đắn

tinh thần, tri thức và tình cảm, truyền thống và thời đại, trong
nước và quốc tế... thành một hệ thống, một chỉnh thể hoạt động
nhịp nhàng, cân đối có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu đã
xác định [7, tr. 6].
Ý kiến khác lại cho rằng:
Tổ chức thực tiễn là quá trình bao gồm sự liên kết, phối
hợp các nhân tố khách quan và chủ quan, các yếu tố vật chất và
tinh thần; truyền thống và thời đại; con người; xã hội và tự
nhiên; sức lao động, tư liệu lao động, hoàn cảnh, điều kiện
trong nước và quốc tế thành một hệ thống, một chỉnh thể hoạt
động nhịp nhàng cân đối, có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu
xác định [27, tr. 64].
Nhìn chung các quan điểm trên có những nhân tố hợp lý nhất định ở
chỗ đã đề cập được những nội dung cơ bản của tổ chức thực tiễn. Dựa trên
những nhân tố hợp lý đó, cũng như mục đích nghiên cứu của luận văn,
chúng tôi cho rằng: Tổ chức thực tiễn là quá trình liên kết, phối hợp giữa


10

các nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, các yếu tố vật chất và tinh
thần, thành một chỉnh thể thống nhất trong hoạt động cải tạo tự nhiên và
xã hội theo mục tiêu đã xác định.
Như vậy, tổ chức thực tiễn là phạm trù rộng, song trong khuôn khổ
của luận văn, tác giả mạnh rạn tập trung đi vào nghiên cứu vấn đề tổ chức
thực tiễn với tính chất là một hệ thống khép kín của các khâu, các quá trình
của việc ra quyết định, việc tổ chức thực hiện quyết định, việc kiểm tra
thực hiện quyết định và việc tổng kết thực hiện quyết định. Đây là quá trình
lôi cuốn hàng triệu người lao động tham gia một cách tự giác và tuân theo
những mục tiêu đã định. Tổ chức thực tiễn không chỉ đơn thuần là tổ chức

Vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX
nước ta đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội khá trầm trọng, mọi
mặt của đời sống xã hội hết sức khó khăn, sản xuất thì đình đốn, lạm phát
tăng nhanh, đất nước bị bao vây cấm vận kinh tế... lòng tin của nhân dân
đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước bị giảm sút,
đất nước đặt trong tình thế lâm nguy. Tình hình đó có nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan khác nhau. Một trong những nguyên nhân đó là
chúng ta chưa tổ chức thực hiện tốt những chủ trương, đường lối, chính
sách đúng đắn trên thực tế. Chưa tổng kết được những thành công và thất bại
trong tổ chức thực hiện để bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính
sách. Nhưng cũng từ những yếu kém ấy, Đảng và Nhà nước ta đã tăng
cường tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Xuất phát
từ thực tiễn cũng như thông qua tổ chức thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đã
nắm bắt những sáng tạo của quần chúng nhân dân. Trên cơ sở đó từng bước
đổi mới tư duy lý luận và đã đề ra được những chính sách phù hợp với thực
tế của nước ta. Qua đó từng bước hình thành tư tưởng và đường lối đổi mới
đúng đắn ở nước ta như: Chỉ thị 10-CT/BCT của Bộ Chính trị, chỉ thị 100CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa IV về khoán sản phẩm đến người
lao động trong nông nghiệp đã thực sự trở thành đòn bẩy khuyến khích


12

người nông dân tham gia sản xuất, nó được ví như là luồng gió mới thổi
vào sản xuất nông nghiệp của nước ta.
Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng, diễn ra trong điều kiện mới có rất nhiều thuận lợi và khó khăn. Khi
mà cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, trong
xu thế hội nhập quốc tế, khu vực hóa, toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ và
sâu sắc đến từng quốc gia, dân tộc. Bên cạnh đó, những diễn biến về kinh
tế, chính trị trên thế giới vẫn hết sức phức tạp, khó lường. Đất nước ta lại

lý. Do đó, hiệu quả của tổ chức thực tiễn là thước đo năng lực lãnh đạo,
quản lý, của người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để hiểu rõ vai trò to lớn của tổ
chức thực tiễn với công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ cấp huyện thì ta
phải tập trung làm rõ quá trình tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ này.
Bất kỳ một quá trình tổ chức thực tiễn nào của người cán bộ lãnh
đạo, quản lý cũng bao hàm các khâu, các quá trình ra quyết định; tổ chức
thực hiện quyết định; kiểm tra việc thực hiện quyết định; tổng kết việc thực
hiện quyết định.
1.1.2. Quá trình tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện trong công tác lãnh đạo, quản lý
Muốn hiểu được quá trình tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp huyện, thì trước hết phải hiểu được thực chất hoạt động lãnh đạo,
quản lý của người cán bộ cấp huyện là gì. Để làm rõ vấn đề này chúng ta
cần phải hiểu cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện. Khi bàn về khái niệm
cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho
rằng: "Người cán bộ lãnh đạo trước hết phải là người tiêu biểu cho lý tưởng
cách mạng, cho lẽ sống; là người có tri thức toàn diện uyên thâm của thời
đại mình" [39, tr. 13]. Hay "cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những người cán
bộ lãnh đạo nhưng lãnh đạo toàn diện, có trọng trách nặng nề nhất, có
quyền thay mặt tập thể lãnh đạo giải quyết các vấn đề và chịu trách nhiệm


14

trước tập thể" [39, tr. 139]. Hai quan điểm trên đã đề cập đến những vấn đề
cơ bản nhất của người lãnh đạo nhưng chưa thật đầy đủ chưa chỉ ra được
những tiêu chí cụ thể.
Một số quan điểm khác lại cho rằng:
Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những người đứng đầu quan
trọng nhất, có chức vụ quan trọng nhất trong một tập thể, có quyền

cấp cơ sở chứ không phải là ở cấp huyện. Song, trên thực tế thì đôi khi cấp
huyện cũng là cấp trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức thực tiễn - khi
mà cấp cơ sở còn yếu kém, nhất là ở các tỉnh miền núi của nước ta. Đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở Điện Biên càng phải thực hiện chức
năng tổ chức thực tiễn.
Vậy cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện là ai? Tại sao họ lại có vai
trò to lớn như vậy. Để trả lời cho vấn đề này trước hết ta phải hiểu cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp huyện là những người có chức vụ quan trọng trong
cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chuyên trách ở cấp huyện (Bao gồm
các chức danh Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân; Trưởng, Phó phòng ban, ngành, đoàn thể và
tương đương của cấp huyện). Người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện
đóng vai trò là khâu trung gian, là cầu nối trong quá trình lãnh đạo, quản lý
từ cấp tỉnh xuống cấp cơ sở. Với vị trí, vai trò như vậy hoạt động lãnh đạo,
quản lý của người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện vừa mang tính chất
định hướng chung ở địa bàn cấp huyện vừa mang tính thực tiễn cụ thể ở địa
bàn cấp xã, phường, thị trấn thuộc huyện.
Chúng ta đều rõ sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước
được thể hiện qua chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật và các biện
pháp lớn. Những chủ trương, đường lối, chính sách ấy tác động đến tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những chủ trương, đường lối, chính sách
đó chỉ trở thành hiện thực khi gắn nó với phong trào cách mạng của quần
chúng nhân dân ở cơ sở. Để hiểu rõ bản chất của đường lối, chính sách của


16

Đảng và Nhà nước và ý thức thực hiện của các địa phương ở cơ sở thì
không thể thiếu được vai trò của cấp tỉnh. Không giống như cấp huyện, cấp
tỉnh là khâu trung gian giữa cấp Trung ương và cấp huyện nên hoạt động

Thực tiễn luôn vận động, phát triển và nảy sinh những vấn đề mới
đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải có những biện pháp giải quyết kịp thời.
Quá trình đó phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người lãnh đạo, quản lý, mà
trước hết là phụ thuộc vào các quyết định của họ. Vì các quyết định này tác
động trực tiếp đến mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội ở địa
phương. Quyết định của người lãnh đạo, quản lý có thể tác động theo khuynh
hướng thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Để có một quyết định đúng đắn, yêu cầu đặt ra đối với người lãnh
đạo, quản lý nói chung là phải bám sát vào thực tiễn địa phương. Chỉ có
dựa trên cơ sở tình hình thực tiễn của địa phương thì các quyết định của
người cán bộ lãnh đạo, quản lý mới sát hợp, kịp thời và không rơi vào giáo
điều. Để quá trình ra quyết định mang tính khách quan và chính xác đòi hỏi
người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có khả năng thu thập thông tin, phân
tích và xử lý thông tin một cách nhanh nhạy, kịp thời, chính xác những vấn
đề nảy sinh có liên quan đến các mặt đời sống kinh tế - xã hội của địa
phương. Khi nắm chắc được thông tin thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý
mới tổng hợp, phân tích, đánh giá đúng tình hình ở địa phương, lĩnh vực
mình phụ trách để tìm đúng nguyên nhân, những khả năng và hạn chế của
chúng. Từ đó mới đề ra được các giải pháp để giải quyết vấn đề có hiệu
quả. Như vậy, nắm bắt và xử lý thông tin chính xác ảnh hưởng đến chất
lượng ra quyết định của người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nhờ đó mà quá
trình cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào địa phương được cụ thể hơn
và kịp thời hơn. Vấn đề đặt ra là các quyết định đưa ra phải phù hợp với


18

nhu cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện thực hiện quyết định; phù hợp với
điều kiện, môi trường của địa phương. Quyết định của người lãnh đạo,

có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình tổ chức thực tiễn. Nó quyết
định đến tính khách quan, khoa học của vấn đề tổ chức thực tiễn. Mặt khác,
nó bảo đảm tính định hướng, tính hiệu quả của quá trình thực hiện quyết
định. Đồng thời nó góp phần hạn chế được những khiếm khuyết, sai lầm có
thể xảy ra trong quá trình tổ chức thực hiện quyết định.
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định là một mắt xích
không thể thiếu trong quá trình tổ chức thực tiễn. Đây là nhiệm vụ tất yếu,
thường xuyên của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình tổ chức
thực tiễn. Đảng ta đã chỉ rõ: "Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như
không có lãnh đạo" [3, tr. 123]. Vì vậy, chỉ có thông qua kiểm tra, bằng
kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quyết định người lãnh đạo, quản lý mới
nắm bắt, đánh giá được bản chất, mức độ, phạm vi của vấn đề mà mình đã
quyết định. Trên cơ sở đó kịp thời đôn đốc thực hiện, điều chỉnh những sai
lệch, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình tiến hành triển
khai, thực hiện để hoàn thành được mục tiêu đã đặt ra. Khi quyết định đã
được thông qua, bộ máy và con người đã được bố trí thì trọng tâm của tổ chức
thực tiễn được chuyển sang kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, tổ chức thực hiện.
Như V.I. Lênin đã nói: kiểm tra là kiểm tra người và kiểm tra việc, kiểm tra
là một việc tất yếu thường xuyên liên tục, kể từ khi chuẩn bị ra quyết định.
* Tổng kết việc thực hiện quyết định
Quá trình tổng kết rút kinh nghiệm việc tổ chức thực hiện các quyết
định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện là vòng khâu cuối cùng của
một chu trình tổ chức thực tiễn. Đồng thời, nó cũng là sự mở đầu vòng
khâu mới của chu trình tổ chức thực tiễn tiếp theo. Có tổng kết rút kinh
nghiệm việc thực hiện các quyết định thì người lãnh đạo, quản lý mới có
cái nhìn tổng thể từ việc ra quyết định đến việc tổ chức thực hiện các quyết
định một cách hoàn chỉnh. Qua đó mới đánh giá được toàn diện những


20

lượng hóa quá trình đó qua sơ đồ sau:

Tổ chức bộ
máy thực hiện
các quyết định

Kiểm tra việc
thực hiện các
quyết định


21

Ra
quyết

Tổng kết rút
kinh nghiệm
việc thực hiện
quyết định

định
Phân tích
tình hình
thực tế địa
phương...

Hình 1.1: Chu trình tổ chức thực tiễn của người lãnh đạo, quản lý
Các khâu trong quá trình tổ chức thực tiễn không tách rời nhau mà
quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau.

trong sự thống nhất giữa những khả năng riêng biệt của người đó với chức
năng xã hội do người đó thực hiện. Theo quan điểm của chủ nghĩa MácLênin thì con người là sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội. Ở
đây mặt sinh học của con người thể hiện ở chỗ con người phụ thuộc vào
những qui luật của tự nhiên: tính di truyền, các nhân tố sinh vật, sức khỏe...
bản tính tự nhiên này được thể hiện ra bên ngoài là các nhu cầu tất yếu
khách quan như: ăn, ở, mặc,... Đặc biệt là các yếu tố này ảnh hưởng trực
tiếp đến các tố chất phát triển con người nói chung về mặt trí lực, trí tuệ.
Do đó, hiệu quả tổ chức thực tiễn cũng như năng lực tổ chức thực tiễn cũng
phụ thuộc vào những yếu tố sinh học bẩm sinh của bản thân người cán bộ
lãnh đạo, quản lý.
- Trình độ lý luận, tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp huyện Điện Biên
Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao tri thức như trình độ chuyên môn
nghiệp vụ là điều kiện quan trọng trong sự hình thành và phát triển tri thức
của con người, là nhân tố quyết định đến năng lực, trí tuệ, phẩm chất của
người cán bộ. Đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngoài trình độ
chuyên môn nghiệp vụ còn phải giỏi về trình độ lý luận, đặc biệt là tư duy


23

lý luận. Bởi vì, trình độ lý luận cũng như tư duy lý luận là kết quả của đào
tạo, bồi dưỡng, rèn luyện của chủ thể mà có. Trình độ lý luận và tư duy lý
luận ảnh hưởng tới tất cả các bước trong chu trình tổ chức thực tiễn của
người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là khâu ra quyết định và tổng kết rút
kinh nghiệm thực tiễn. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Điện Biên còn hạn
chế về trình độ lý luận và tư duy lý luận. Điều này đã ảnh hưởng tới hiệu
quả tổ chức thực tiễn của họ.
- Kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo, quản lý của bản thân người cán bộ
Thông qua hoạt động thực tiễn, bằng hoạt động thực tiễn mà người

người lãnh đạo, quản lý phải có phương pháp làm việc khoa học, sâu sát
quần chúng. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Điện Biên mặc dù đã sâu sát
đời sống nhân dân nhưng phương pháp làm việc còn chưa thực sự khoa
học. Do đó, hiệu quả tổ chức thực tiễn còn hạn chế.
- Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội là một trong những nhân tố ảnh hưởng
to lớn cho việc tổ chức thực tiễn. Môi trường là điều kiện hết sức cần thiết
cho hoạt động thực tiễn. Môi trường là cơ sở xuất phát, là điều kiện, tiền đề
vật chất cho tổ chức thực tiễn. Cho nên hiệu quả tổ chức thực tiễn tùy thuộc
rất lớn vào môi trường kinh tế - xã hội của địa phương.
Điện Biên là một tỉnh nghèo, địa hình chủ yếu là đồi, núi; điều kiện
để phát triển kinh tế - xã hội gặp rất nhiều khó khăn, cơ cấu kinh tế chủ yếu
là nông nghiệp và lâm nghiệp, sản xuất vẫn mang tính tự cung tự cấp, thủ
công là chủ yếu... là tỉnh xa các trung tâm kinh tế lớn của cả nước cho nên
việc đi lại và trao đổi về kinh tế, văn hóa... gặp rất nhiều khó khăn, dân trí lại
thấp. Thu ngân sách địa phương thấp mỗi năm đạt từ 50 - 60 tỷ đồng/năm,
chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách Trung ương cấp (khoảng 90%).


25

Trong khi đó các huyện ở Điện Biên hầu hết là vùng sâu, vùng xa,
vùng cao, vùng biên giới; các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
của các huyện qui mô vẫn còn nhỏ và kém phát triển, kinh tế - xã hội còn
chậm phát triển, giao thông đi lại từ huyện xuống xã cực kỳ khó khăn, các
xã lại ở xa trung tâm huyện, không tập trung mà lại phân tán trải dài, nhiều
xã còn chưa có đường ôtô vào, chưa có điện lưới quốc gia, chưa có điện
thoại, chưa được phủ sóng phát thanh, truyền hình. Đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, phường, thị trấn của các huyện vừa yếu về năng lực lại thiếu
về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ dân trí thấp phát triển không đồng đều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status