DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Chính trị quốc gia
CTQG
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Đoàn Thanh niên Cộng sản
ĐTNCS
Hệ thống chính trị
HTCT
Hệ thống chính trị cơ sở
HTCTCS
Hội Cựu chiến binh
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH
BẮC GIANG HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề lý luận về vai trò của hệ thống chính trị
13
cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang
1.2. Thực trạng thực hiện vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
13
trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang hiện
nay và nguyên nhân của thực trạng
Chương 2 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT
35
Nhà nước và các kế hoạch kinh tế - xã hội của địa phương; đặc biệt đối với
thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM. Việt Nam là
một nước nông nghiệp trình độ sản xuất nhỏ lẻ lạc hậu, sau khi giành được
độc lập dân tộc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua phát triển chế độ tư
bản chủ nghĩa. Số lượng nông dân chiếm đa số trong dân cư, cho nên việc
xây dựng NTM để thu hẹp dần sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn là
một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là
trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Nhận thức được vai trò, tầm
quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan
tâm, chăm lo đến vấn đề này. Điều đó được thể hiện thông qua các chỉ thị,
nghị quyết của Đảng đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn mà
tiêu biểu là Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 tại Hội nghị lần thứ
bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Hiện thực hóa Nghị quyết Trung ương, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04-6-2010 phê duyệt Chương trình mục
tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM ở tỉnh Bắc
Giang phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều lực lượng tham gia thì mới đạt kết quả,
trong đó hệ thống chính trị cấp cơ sở có vai trò quyết định tổ chức thực hiện
mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể của chương trình đề ra. Hệ thống chính trị cơ sở ở
Bắc Giang cũng như ở các địa phương khác trên cả nước là cấp cuối cùng và
gần dân, trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, mục
tiêu kinh tế - xã hội ở địa phương. Tính đặc thù của tỉnh Bắc Giang là một tỉnh
đặc thù có cả đồng bằng, trung du và cả núi cao, sản xuất nông nghiệp là chủ
3
yếu, dân số gần 1,6 triệu người với 90,4 % dân cư sinh sống ở vùng nông thôn.
4
* Nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở
Bùi Tiến Quý (2000), Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta", Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Ở công trình này, Tác giả đã trình bày khá rõ cơ cấu tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ, vai trò của các bộ phận trong bộ máy chính quyền cấp cơ sở, qua đó cho
thấy hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ở địa trong giai đoạn hiện nay.
Hoàng Chí Bảo (2005), “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta
hiện nay”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Công trình này đã đi sâu phân tích
đặc điểm của cấp cơ sở, thực trạng cơ cấu tổ chức và của hệ thống chính trị ở
cơ sở nông thôn, từ đó đề ra những quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục đổi
mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn…
Nguyễn Cúc, “Khảo sát tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam 2001 - 2002” , Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh. Đề tài này đã khảo sát, phân tích về tình hình thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở tại các tỉnh phía Bắc nước ta.
Nguyễn Ngọc Hiến (2001), "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành
chính ở Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách tập hợp các
bải tham luận của các nhà khoa học và quản lý Nhà nước trình bày trong Hội
thảo khoa học về kiến nghị các giải pháp cải cách hành chính giai đoạn 20012005 của Học viện Hành chính quốc gia. Đồng thời, cuốn sách cũng đã phân
tích các tiến trình cải cách hành chính ở nước ta những năm qua, nguyên
nhân, những hạn chế, kiến nghị một số giải pháp cơ bản thúc đẩy cải cách
hành chính của Việt Nam trong thời gian tới.
Nguyễn Quốc Phẩm (2000), “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ
hóa đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền
núi phía Bắc nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đề tài khoa học cấp
Bộ này đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những thành tựu, hạn chế của hệ thống
chính trị các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
việc xây dựng nông thôn mới ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
Đặng Kim Sơn (2008), “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt
Nam hôm nay và mai sau”. Công trình này nêu bật thực trạng của của các
vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng
như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, xuất phát từ thực tiễn đó tác giả
6
đã đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp,
nông thôn ngày một phát triển.
Nguyễn Hữu Tiến (2008),“Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở
Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp. Cuốn sách là tập hợp các công trình nghiên
cứu của tác giả trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Nguyễn Từ (2008), “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với
phát triển nông nghiệp Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Công
trình này không chỉ đề cập đến những vấn đề khái quát về hội nhập kinh tế
quốc tế, các hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu liên quan đến nông
nghiệp nói chung và đến ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng, những ảnh
hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến nông nghiệp Việt Nam trong thời
gian qua, mà còn nêu lên quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm phát
triển nền nông nghiệp nước ta trong thời gian tới.
Nguyễn Văn Khánh (2001), công trình “Biến đổi cơ cấu ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (qua
khảo sát một số làng xã)”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Công trình này
đã đi sâu nghiên cứu những biến đổi của nông thôn châu thổ sông Hồng nhìn
từ góc độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp. Đồng thời, phân tích những tác
động của chính sách đổi mới về nông nghiệp đối với tình hình kinh tế - xã hội
ở một số làng xã vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Vũ Văn Phúc chủ biên (2012), “Xây dựng nông thôn mới những vấn đề
Bài viết của tác giả Nguyễn Tất Đạt đăng trên tạp chí Nông thôn mới
số 326 (kỳ 1, tháng 9/2012) với tiêu đề: “Dân chủ cơ sở gắn với xây dựng
nông thôn mới”. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu bàn về việc thực hiện
pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị trong việc
thực hiện dân chủ, khẳng định việc thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ góp phần
quan trọng trong việc xây dựng NTM.
Bài viết của tác giả Hồng Chương đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số
3/2011 với tiêu đề: “Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ xã trong việc quy hoạch
xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình”. Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu
phân tích vai trò của Đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong việc quy
hoạch xây dựng NTM …
8
Những chủ đề liên quan đế vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân
và ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn góp phần xây dựng NTM cũng là đề
tài thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả. Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sĩ Chính trị học về “Đảm bảo an ninh nông thôn vùng
Đồng bằng sông Hồng trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác
giả Đặng Thị Thanh Hoa, Hà Nội, năm 2009. Công trình nghiên cứu này đã tập
trung phân tích thực trạng an ninh nông thôn và công tác đảm bảo an ninh nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ đó đưa ra một số quan điểm, giải pháp và kiến nghị để đảm bảo an ninh nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng trước yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
Phạm Xuân Nguyên, luận văn thạc sĩ Chính trị học về “Điểm nóng
khiếu kiện liên quan đến đất đai ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Hà Nội, năm 2009. Công trình nghiên cứu
này đã đưa ra một số nhận thức về “điểm nóng”, giải quyết “điểm nóng”
kinh tế nông thôn tỉnh Hà Bắc, Luận án khoa học Kinh tế, Hà Nội; Nguyễn
Văn Năng (2010), "Bắc Giang chung sức xây dựng nông thôn mới", Cổng
thông tin điện tử, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang; Lại Thanh Sơn
(2012), Triển khai kết quả bước đầu và những kiến nghị, đề xuất đối với công
tác xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bắc Giang, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội; Văn phòng huyện ủy Lạng Giang (2012), "Một số kinh nghiệm
bước đầu trong xây dựng nông thôn mới ở Lạng Giang", Cổng thông tin điện
tử huyện Lạng Giang - Bắc Giang, ngày 25 tháng 4; Lương Hương (2014),
"Yên Dũng đẩy nhanh tiến độ dồn điền, đổi thửa", Cổng thông tin điện tử tỉnh
Bắc Giang, ngày 23 tháng 3; Việt Hương (2014), "Bắc Giang phấn đấu 34 xã
đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2014", Cổng thông tin điện tử Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn, ngày 2 tháng 3.
Những công trình nghiên cứu và bài viết trên đây đã đề cập khá
phong phú các vấn đề như chỉ ra những định hướng; một số kết quả trong
việc chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn dưới góc độ kinh tế chính trị hay xã hội học mà chưa có một
công trình nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống về vai trò của hệ thống
10
chính trị cơ sở xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2016 dưới
góc độ chính trị - xã hội. Đề tài nghiên cứu về: “Vai trò của hệ thống chính
trị cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở Bắc Giang hiện nay”, mà tác giả
lựa chọn và thực hiện là vấn đề nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với
các công trình đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của
HTCTCS trong xây dựng nông thôn mới ở Bắc Giang, đề xuất một số yêu
Việt Nam về vai trò của chính quyền, vai trò của HTCT; về vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn...
* Cơ sở thực tiễn
Từ khảo sát thực tế của tác giả về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh
Bắc Giang trong xây dựng NTM, báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng NTM của các xã, huyện và cơ quan chức năng của tỉnh
và kế thừa kết quả nghiên cứu của công trình nghiên cứu có liên quan...
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, kết hợp
phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, phân tích, so sánh, tổng hợp,
thống kê và điều tra xã hội học...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ lý luận về vai trò của HTCTCS trong xây
dựng NTM ở Việt Nam hiện nay.
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
học tập, nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đến hệ thống chính
trị cơ sở; đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ cơ sở
trong hoạt động xây dựng NTM ở các địa phương.
7. Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo; nội dung chính
của luận văn gồm 2 chương và 4 tiết.
12
Chương 1
VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
địa phương, là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị cấp cơ sở, nơi giáo dục,
rèn luyện đảng viên và phát triển Đảng, là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng
và là chỗ dựa đáng tin cậy của quần chúng nhân dân ở cơ sở.
Tổ chức cơ sở đảng có các nhiệm vụ: Thứ nhất, chấp hành đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương nhiệm vụ
chính trị của Đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả. Thứ hai, xây
dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức;
thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt
Đảng; thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn
kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục và quản lý cán bộ, đảng
viên nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến
thức, năng lực công tác, làm công tác phát triển đảng viên. Thứ ba, lãnh đạo
xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc
phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp
hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thứ tư, liên hệ
mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ chính
đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiên đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Để thực hiện các nhiệm vụ
lãnh đạo của Đảng, các tổ chức đảng ở cơ sở giới thiệu các đảng viên ứng cử
vào Hội đồng nhân dân, tham gia chính quyền cơ sở, tham gia các cương vị
lãnh đạo các đoàn thể chính trị- xã hội...
Chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn, được bầu ra theo Hiến pháp và pháp luật. Đối với
Hội đồng nhân dân: Ở Chương IX, Hiến pháp 2013 quy định: Hội đồng nhân
dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu
trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội
đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát
việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị
thôn mới giai đoạn 2010-2020”. Theo đó, Chính phủ đã triển khai thực hiện
xây dựng 11 xã điểm ở các vùng, miền khác nhau, trên cơ sở đó rút kinh
nghiệm, nhân rộng mô hình trong cả nước, đồng thời phát động phong trào
thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”. Theo 19 tiêu chí trên
Chính Phủ xác định phấn đấu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chí nông
thôn mới, đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới...
Về mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay biểu hiện trên
các nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng
17
hiện đại; thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng
hóa; thứ ba, đời sống và vật chất tinh thần của người dân ở nông thôn được
nâng cao; thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; thứ
năm, xã hội nông thôn an ninh tốt, dân chủ được phát huy.
Về lực lượng tham gia xây dựng NTM, phát huy vai trò chủ thể của
cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng
các tiêu chí, quy chuẩn, đề ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn
cách thức tiến hành cho các địa phương. Các hoạt động cụ thể do chính
chính quyền cơ sở, cộng đồng người dân ở mỗi thôn, bàn bàn bạc dân chủ
để quyết định tổ chức và thực hiện. Xây dựng NTM là nhiệm vụ của của cả
hệ thống chính trị và toàn thể xã hội; trong đó cấp ủy Đảng, chính quyền
địa phương đóng vai trò trực tiếp chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng
quy hoạch, kế hoạch tổ chức thực hiện. Hình thức là cuộc vận động “Toàn
dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì cùng
các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai
trò chủ thể trong việc xây dựng NTM.
Về nguyên tắc chỉ đạo xây dựng NTM: Thứ nhất, các nội dung, các
hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực
mỗi địa phương, trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các bộ chuyên
ngành ban hành. Các bước tiến hành xây dựng nông thôn mới, gồm các bước:
Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện; Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực
hiện chương trình xây dựng NTM (Được thực hiện trong suốt quá trình triển
khai thực hiện); Khảo sát, đánh giá thực trạng nông thôn theo các tiêu chí mà
Nhà nước ban hành; Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã; Lập, phê duyệt
đề án xây dựng NTM của xã; Tổ chức thực hiện đề án; Giám sát, đánh giá và
báo cáo về tình hình thực hiện chương trình.
Qua việc nhận thức về mô hình nông thôn mới và tầm quan trọng của
việc xây dựng nông thôn mới, có thể thấy khẳng định xây dựng nông thôn mới
là nhiệm vụ không chỉ của cá nhân, hay một đoàn thể nào, mà là nhiệm vụ của
cả HTCT và toàn xã hội. Trong đó, cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ
đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực
hiện; MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội có vai trò đoàn kết, vận động quần
19
chúng nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới.
1.1.2. Nội dung và biểu hiện vai trò của hệ thống
chính trị cơ sở tỉnh Bắc Giang trong xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn hiện nay
* Khái quát về hệ thống chính trị cơ sở của tỉnh Bắc Giang hiện nay
Khái lược sự hình thành tỉnh Bắc Giang: Trong lịch sử, thời các Vua
Hùng, Bắc Giang thuộc bộ Vũ Ninh của nước Văn Lang, dưới triều Đinh (968 980), Tiền Lê (980 - 1009) thuộc huyện Long Biên, thời Lý - Trần thuôc lộ Bắc
Giang, thời Hậu Lê thuộc thừa tuyên Kinh Bắc, sau đổi thành trấn Kinh Bắc,
trấn Bắc Ninh. Dưới đời vua Minh Mạng (năm thứ 2, 1821), Bắc Giang thuộc
thiên phủ Thiên Phúc, năm 1831, đổi tên thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 10/10/1895
toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hai
phủ Đa Phúc, Lạng Giang tách ra từ tỉnh Bắc Ninh. Ngày 27/10/1962, tỉnh Bắc
(0,004%). Dân số toàn tỉnh tính đến hết năm 2011 là 1.567.557 người, mật độ
dân số bình quân là 408,1 người/km2, cao hơn so với bình quân của khu vực
và cả nước. Đặc điểm phân bố dân cư không đồng đều, phần lớn tập trung ở
các khu vực trung du, thành phố Bắc Giang, bình quân 2.186 người/km2;
huyện Hiệp Hòa bình quân 1.045 người/ km2; huyện Việt Yên bình quân
936,9 người/ km2; huyện Tân Yên bình quân 774,7 người/ km2; huyện Lạng
Giang bình quân 802,7 người/ km2; huyện Yên Dũng bình quân 739,9 người/
km2. Các huyện miền núi dân cư sống ít hơn, huyện Sơn Động bình quân
82,2 người/km2; huyện Yên Dũng bình quân 739,9 người/km2; huyện Yên
Thế bình quân 313,8 người/km2; huyện Lục Nam bình quân 335 người/km2.
Về tình hình phát triển kinh tế, theo Báo cáo kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang
năm 2016 tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) ước đạt 9,8%. Cơ cấu kinh tế tiếp
tục chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó
công nghiệp xây dựng ngày càng chiếm tỷ trọng cao.
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên cho
thấy, Bắc Giang vừa có nhiều thuận lợi, vừa có nhiều khó khăn trong quá
trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nông thôn mới.
Về thuận lợi là Tỉnh có bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng và truyền
21
thống văn hóa; Nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất. Các thế
hệ nông dân Bắc Giang đã tạo ra những cánh đồng mầu mỡ suốt từ xuôi lên
miền núi để cấy lúa, trồng hoa mầu và các loại cây ăn quả. Từ quá trình lao
động đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý trong phát triển, thâm canh
nông nghiệp, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung lớn, có
giá trị kinh tế cao như: vải thiều Lục Ngạn, gà đồi Yên Thế, lúa thơm Yên
Dũng... Đó là những điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng nông thôn
mới. Bên cạnh đó Bắc Giang là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư
tác kết nạp đảng viên, quản lý phân công nhiệm vụ của đảng viên luôn được quan
tâm, đa số đảng viên dược đào tạo, bồi dưỡng, trưởng thành từ hoạt động của các
đoàn thể chính trị và các phong trào cơ sở. Chất lượng hoạt động của tổ chức cơ
sở đảng không ngừng được nâng lên. Năm 2016 có 200/226 đảng bộ cấp xã đạt
trong sạch, vững mạnh, không có đảng bộ xếp loại yếu kém.
Về chính quyền cơ sở , Mặt trận và các tổ chức chính trị- xã hội cấp cơ
sở trên địa bàn: Các đơn vị hành chính ở Bắc Giang đều có trụ sở riêng và có
cơ sở vật chất khá đồng đều theo tiêu chí của Bộ xây dựng. Đội ngũ cán bộ,
công chức của tỉnh Bắc Giang những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích
cực về các yếu tố như: Trình độ văn hóa, trình độ, quản lý nhà nước, độ tuổi,
giới tính. Về cơ cấu độ tuổi, đội ngũ cán bộ chủ trì là chủ tịch, bí thư, chủ
nhiệm hợp tác xã, chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc, chủ tịch Hội nông dân
có tuổi đời phổ biến từ 48 tuổi đến 52 tuổi; bộ phận cán bộ không chuyên
trách có tuổi đời từ 30 đến 35 tuổi. Nhìn vào cơ cấu độ tuổi thấy rằng cán bộ
ngày càng được trẻ hóa, tuy nhiên sự trẻ hóa này thường diễn ra ở một số xã,
phường gần trung tâm hơn vì họ có tư tưởng tân tiến hơn. Việc trẻ hóa đội
ngũ cán bộ đồng nghĩa với việc trình độ học vấn và năng lực quản lý cao hơn
đội ngũ cán bộ thế hệ trước. Một tỉnh thuần nông như bắc Giang muốn phát
triển cần phải có nhiều tư duy mới, nhiều sáng tạo. Vì vậy trong những năm
gần đây Tỉnh đã và đang cố gắng thay đổi cơ cấu nguồn cán bộ trẻ nhằm phát
huy hơn nữa, tích cực hơn nữa đối với việc phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh
nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.
23
Về thành phần dân tộc, cán bộ các ban ngành của hệ thống chính trị
cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Giang hiện nay có tỷ lệ là người dân tộc thiểu số chiếm
khoảng 10%. Về trình độ học vấn và chuyên môn, đội ngũ cán bộ trong hệ
thống chính trị cơ sở tỉnh Bắc Giang hiện nay có 95% đã tốt nghiệp phổ
Thành tựu trong xây dựng nông thôn tỉnh Bắc Giang trước năm 2008 được
thể hiện rõ trong phần đánh giá khái quát của Chương trình hành động số 47CTr/TU ngày 3 tháng 10 năm 2008 của Tỉnh ủy Bắc Giang về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn.Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2001-2007 đạt
7,75%/năm; tỷ trọng trồng trọt đã giảm 6,2% còn 59,9%, chăn nuôi tăng 6,6%
so với năm 2001 lên 37%; đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa như:
vải thiều, lạc, lúa thâm canh cao và lúa thơm hàng hóa, rau quả chế biến,
nguyên liệu gỗ; đàn gia cầm của tỉnh gần 12 triệu con; đàn lợn đạt 1 triệu con,
an ninh lương thực được đảm bảo. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
ngành nghề, dịch vụ nông thôn được khôi phục và phát triển, tạo việc làm trên
2,1 vạn hộ gia đình. Các thành phần kinh tế được tạo điều kiện phát triển; đã
có thêm 2.549 trang trại so với năm 2001, đã xuất hiện một số mô hình chăn
nuôi bán công nghiệp và công nghiệp; các hợp tác xã nông nghiệp được
chuyển đổi và hoạt động có hiệu quả hơn; đến nay cơ bản hoàn thành việc sắp
xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp;
công nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản đang có chiều hướng phát triển
mạnh. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở nông thôn được tăng cường, bộ mặt nông
thôn có nhiều thay đổi; đời sống vật chất và tinh thần của nông dân ở hầu hết các
vùng nông thôn ngày càng được cải thiện. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết
quả khá, tỷ lệ hộ nghèo đến hết năm 2007 còn 21,28%, tỷ lệ sử dụng thời gian sử
dụng lao động ở khu vực nông thôn tăng từ 82% lên 87%. Hệ thống chính trị ở
nông thôn được củng cố và tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì nông thôn Bắc Giang còn tồn tại
những hạn chế: Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hợp lý.
Trong nông nghiệp chủ yếu vẫn là trồng trọt; tỷ lệ giá trị của ngành chăn nuôi
trong nông nghiệp chưa cao; giá trị dịch vụ nông nghiệp, nông thôn nhỏ bé.
Diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tăng
trưởng kinh tế của địa phương còn rất nhỏ. Ruộng đất ở nông thôn bị chia
25