LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của hệ THỐNG CHÍNH TRỊ cơ sở THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH xã hội ở HUYỆN ỨNG hòa, THÀNH PHỐ hà nội HIỆN NAY - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
An sinh xã hội có một vị trí, vai trò rất quan trọng trong đời sống của
mỗi con người và các tổ chức chính trị - xã hội. Ở nước ta, ASXH được hiểu
là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các biện pháp công cộng nhằm giúp
cho các cá nhận, tổ chức và mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi
ro, hiểm nguy do các nguyên nhân kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên
mang đến cho con người, gây ra những hậu quả tiêu cực làm mất an toàn đối
với cuộc sống của họ và sự phát triển bền vững của xã hội. Thực hiện bảo
đảm ngày càng tốt hơn ASXH luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng
và Nhà nước ta, là trách nhiệm cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, thể hiện
bản chất tốt đẹp chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng với sự ổn định chính trị
- xã hội và phát triển bền vững đối với đời sống xã hội.
Hệ thống chính trị bao gồm toàn bộ các tổ chức chính trị, các tổ chức
chính trị - xã hội được lập ra để thực hiện quyền lực chung của xã hội - quyền lực
chính trị. Hệ thống chính trị cả nước nói chung và HTCT cơ sở của huyện Ứng Hòa
nói riêng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong tập hợp, tuyên truyền, động viên nhân
dân tham tham gia thực hiện chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước; huy động
mọi lực lượng, mọi nguồn lực cùng với cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức
chính trị - xã hội, đảm bảo ASXH cho nhân dân, góp phần làm ổn định xã hội, phát
huy tình đoàn kết cộng đồng, phát triển bền vững kinh tế - xã hội.
Ứng Hòa là một huyện thuần nông của tỉnh Hà Tây cũ được sáp nhập vào
Thành phố Hà Nội năm 2008 càng cần phải coi trọng thực hiện ASXH. Trong những
năm qua, cùng với sự cố gắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, đời sống kinh
tế - xã hội của toàn huyện Ứng Hòa đã có những bước phát triển mạnh mẽ tạo điều
kiện vật chất thuận lợi cho việc thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn, góp phần
vào sự ổn định và phát triển của huyện trong thời kỳ mới. Các chương trình xóa đói
giảm nghèo của HTCT cơ sở đã thu hút được những kết quả rất tốt đẹp, được dư luận


thừa nhận và đánh giá cao, nhất là công tác xóa đói giảm nghèo cho nông dân, phát


* Các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ
sở
Vũ Hoàng Công (2002), Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng
và giải pháp, Học viện CTQG, Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Chu Văn Thành (2004), Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một
số giải pháp đổi mớ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Hoàng Chí Bảo (2004), Hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nước ta
hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Duy Quý (2008), Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi
mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Lê Minh Thông (2008), Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb
Chính tri Quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Hữu Đổng (2010), Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Với nhiều cách tiếp cận, các công trình nghiên cứu đã đi sâu vào phân
tích làm rõ những vấn đề lý luận của HTCT, HTCTCS, trong đó luận giải và
làm rõ một số vấn đề cơ bản đó là:
Thứ nhất, các nhà khoa học đã đưa ra những định nghĩa theo
nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp hệ thống chính trị. Những dấu hiệu cơ bản
của khái niệm hệ thống chính trị. Khái niệm HTCT thể hiện sự nhận
thức về HTCT ngày càng sâu sắc, mang tính toàn diện hơn, góp phần
vào chỉ đạo hiệu quả việc đổi mới, hoàn thiện HTCT ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, các nhà khoa học đã tập trung đi sâu vào phân tích đặc điểm,
cấu trúc, các nhân tố tác động và vị trí, vai trò của HTCT trên thế giới nói
chung; những nét đặc thù của HTCT và HTCT cơ sở nước ta nói riêng. Trên
cơ sở đó, giúp chúng ta tiếp thu những giá trị hợp lý về mô hình tổ chức và


chưa đầy đủ, toàn diện, thiếu sự tính liên kết và hỗ trợ nhau giữa các chính
sách, trong một số trường hợp còn chồng chéo. Tính bao phủ của các chính
4


sách ASXH mặc dù tăng nhanh nhưng chưa cao, chỉ tập trung chủ yếu ở các
thành phố lớn, các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội. Hệ thống chính sách
BHXH, trợ giúp việc làm, xóa đói giảm nghèo… chậm được kết nối vào hệ
thống tổng thể về ASXH dẫn tới sự rời rạc, chưa đáp ứng được yêu cầu.
Nguồn lực phục vụ cho ASXH chủ yếu tập trung ở khu vực Nhà nước, việc
huy động đa dạng hóa các nguồn lực từ ngoài còn hạn chế, thiếu chế tài buộc
các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính trong đảm bảo ASXH.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về thực hiện ASXH
Đặng Cảnh Khanh (1994), Vấn đề trợ giúp xã hội trong chính sách bảo
đảm xã hội ở Việt Nam, đề tài KX. 04- 05.
Mai Ngọc Cường (2001), Vấn đề đổi mới bảo hiểm xã hội, Chương VIII.
Sách Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Bùi Văn Hồng (2002), Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia BHXH
đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập, đề tài cấp Bộ năm 2002.
Mai Ngọc Cường (2006), Chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm
CHLB Đức và thực tiễn Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà nội.
Công Tuấn (2008), “Hệ thống ASXH của EU và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội.
Mai Ngọc Anh (2010), ASXH đối với nông dân trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội.
TS Lưu Ngọc Khải (2011), Nội dung, phương thức vận dụng quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về ASXH trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa
học ở Học viện Chính trị hiện nay, Đề tài cấp học viện.
Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thuý Hương (2011), Pháp luật ASXH - Kinh
nghiệm của một số nước đối với Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội.

Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn HTCT cơ sở, đề xuất yêu cầu
và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của HTCT cơ sở thực hiện ASXH
ở huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ:
6


- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của HTCT cơ sở thực hiện ASXH ở
huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đánh giá thực trạng vai trò của HTCT cơ sở thực hiện ASXH ở huyện
Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của
hệ thống chính trị cơ sở thực hiện ASXH ở huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà
Nội hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở thực hiện
ASXH ở huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu tiếp cận ASXH theo chính sách của Nhà nước ta
trên 3 trụ cột chính: BHXH, các loại dịch vụ và trợ giúp xã hội; khảo sát thực
trạng hoạt động của các tổ chức trong HTCT cơ sở huyện Ứng Hòa như: Chính
quyền (HĐND, UBND), tổ chức cơ sở đảng, và các tổ chức chính trị - xã hội
(MTTQ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội
nông dân, Hội cựu chiến binh, Công đoàn) trong thực hiện ASXH, thời gian từ
năm 2012 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về ASXH và vai
trò của HTCT cơ sở trong giải quyết những vấn đề xã hội.

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI
Ở HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

1.1. Một số vấn đề lý luận về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
thực hiện an sinh xã hội ở huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội hiện nay
1.1.1. Quan niệm về an sinh xã hội và an sinh xã hội ở Việt Nam
hiện nay
* Quan niệm về an sinh xã hội
Thuật ngữ ASXH (Social Security) xuất hiện vào khoảng cuối những năm
40, đầu những năm 50 thế kỷ XX. Tuy nhiên, khái niệm ASXH chỉ được chính
thức ra đời đầu tiên trong một đạo luật của Mỹ năm 1935-Luật về An sinh xã
hội. Song đạo Luật này cũng mới chỉ đề cập đến những người gặp rủi ro như:
già yếu cô đơn, chết, tàn tật, thất nghiệp. Năm 1938, khái niệm ASXH được
xuất hiện trong một đạo luật của New Zealand, về đối tượng ASXH giống như
Luật ASXH của Mỹ nhưng có thêm một khoản trợ cấp mới (trợ cấp gia đình).
Trong Công ước số 102, ngày 28 tháng 6 năm 1952 của Tổ chức Lao động quốc
tế (ILO): “Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội” đã sử dụng thuật
ngữ ASXH.
Hiện nay, còn nhiều cách diễn giải về ASXH. Định nghĩa được sử
dụng phổ biến nhất là định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO):
“ASXH là một hình thức bảo trợ xã hội mà xã hội dành cho các thành viên
của mình thông qua nhiều biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu
với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội hoặc làm mất đi hoặc
suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do
lao động, mất sức lao động hay tử vong; những dịch vụ về chăm sóc y tế và
những quy định về hỗ trợ đối với những gia đình có con nhỏ gặp phải khó
khăn trong cuộc sống”[48, tr.4]
9

10


Kế thừa những thành tựu và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học đi trước, tác giả có thể quan niệm: An sinh xã hội là sự bảo vệ, trợ giúp
của Nhà nước và cộng đồng bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho
các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc
gặp rủi ro, bất hạnh, rơi vào tình trạng nghèo đói, hoặc ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu, động
viên và khuyến khích con người tự lực vươn lên giải quyết vấn đề của chính họ
và hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Khái niệm trên cho thấy, về mặt bản chất, ASXH là vấn đề mang tính
cộng đồng, tính xã hội, tính lịch sử và tính nhân văn sâu sắc. Bởi vì, nó
tạo ra sự “an toàn” cho cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội, góp
phần bảo đảm đời sống và thu nhập cho mọi người trong xã hội với
phương thức hoạt động chủ yếu là thông qua các biện pháp công. Về mô
hình của ASXH bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp
ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ
cấp tử tuất. Đây chính là mô hình ASXH đã được hầu hết các quốc gia
trên thế giới trong đó có Việt Nam thừa nhận. Song, việc thực hiện đầy đủ
các chế độ an sinh trên còn tùy thuộc vào nhu cầu điều kiện về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, theo xu hướng chung trên thế giới, ASXH sẽ
được mở rộng dần về số lượng với những cách thức cách tiếp cận khác
nhau của từng nước.
Trong thực tế, ASXH là một lĩnh vực rộng lớn, đa dạng, phức tạp khó có
thể đưa ra một định nghĩa để đáp ứng được tất cả các nội dung trong điều kiện
kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, truyền thống dân tộc, tôn giáo ở mỗi nước
và từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Vì vậy, quan niệm của tác giả chỉ là bước
nghiên cứu ban đầu theo mô hình ASXH ở một số nước phát triển và của Tổ
chức Lao động quốc tế.

trường định hướng XHCN là đảm bảo những điều kiện thực hiện ASXH. Chính
12


vì đó, trong mỗi chính sách phát triển kinh tế phải đảm bảo ASXH; các chính
sách xã hội phải đặt ngang tầm với các chính sách kinh tế, gắn với các chương
trình kinh tế - xã hội vì mục tiêu phát triển con người, phát huy tối đa nguồn
lực con người. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII đã chỉ rõ: “Mục tiêu của
chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy
nhân tố con người, vì con người. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân”[21, tr.219].
Đại hội IX của Đảng chủ trương này trở thành một định hướng chiến lược
để phát triển bền vững đất nước: “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn
hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường…”[23, tr.89]
Đến Đại hội X của Đảng tiếp tục xác định “Xây dựng hệ thống ASXH đa
dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo
hiểm y tế toàn dân”, “Từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống ASXH để đáp
ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã
hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”[24, tr.102].
Đại hội lần thứ XI, quan điểm của Đảng về ASXH đã được bổ sung, phát
triển sâu sắc và hoàn thiện hơn. Đảng xác định giải quyết tốt vấn đề ASXH
một cách toàn diện, có hệ thống, trong từng bước, từng chính sách phát triển,
ở cả phương diện vĩ mô, trên cả nước đến các vấn đề cụ thể, gắn với từng
ngành, từng địa phương. Đặc biệt, tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta xác định
“hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ công cộng thích
ứng với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [26, tr.125]; “hoàn
thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế
với các mục tiêu chính sách xã hội” [26, tr.124] nhằm “đảm bảo ASXH trong

Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro. Đây là
tầng trên cùng của hệ thống ASXH. Với chức năng chính là hướng tới can
thiệp, bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc
làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi
ro. Trụ cột cơ bản của tầng này là những chính sách, chương trình về thị
trường lao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc
làm hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động.
15


Thứ hai, những chính sách, chương trình giảm thiểu rủi ro. Đây là tầng
thứ hai, gồm các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống an sinh xã
hội, có vai trò đặc biệt quan trọng. Nội dung quan trọng nhất trong tầng này là
các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng như: bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, … Nhóm chính sách này rất nhạy cảm, nếu
phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho
nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống. Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp,
người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng.
Thứ ba, những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro, bao gồm các chính
sách, chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội. Đây là tầng cuối cùng của hệ thống
ASXH với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải
rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm,
người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo…
* Vai trò của ASXH đối với sự ổn định và phát triển xã hội nước ta.
Thứ nhất, ASXH góp phần đảm bảo ổn định đời sống kinh tế - xã hội.
Thực hiện ASXH là quá trình tiến hành trên nhiều lĩnh vực, bằng nhiều
biện pháp, trong đó có các chính sách, biện pháp như: giảm nghèo, đào tạo
nghề, giải quyết việc làm, bảo hiểm xã hội, ưu đãi người có công với nước, trợ
giúp xã hội, mở rộng các dịch vụ xã hội công cộng, tạo điều kiện cho người
nghèo, cận nghèo, và các đối tượng chính sách xã hội được tiếp cận thuận lợi

tiêu bảo hiểm y tế toàn dân từ năm 2014, cải thiện hoạt động chăm sóc y tế để
mọi người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng dân tộc, miền núi dễ dàng tiếp cận
với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Mục tiêu 4: Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó kịp
thời với các biến cố, rủi ro. Mở rộng các nhóm đối tượng thụ hưởng đến toàn
bộ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.
Mục tiêu 5: Thực hiện giảm nghèo bền vững, ngăn chặn gia tăng bất
bình đẳng. Kiểm soát bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư, vùng về thu nhập
và cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, hưởng lợi từ các chương trình đầu tư
17


phát triển, giảm nghèo trong từng vùng, từng khu vực. Bảo vệ có hiệu quả các
trẻ em và phụ nữ nghèo, dễ bị tổn thương, bị lạm dụng.
Mục tiêu 6: Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ xã hội tại
các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Tăng cường tiếp cận của
người di dân đến dịch vụ xã hội tại các đô thị.
Thứ hai, ASXH thúc đẩy tính tích cực xã hội trong mỗi con người, xây
dựng tinh thần đoàn kết, nhân ái và tính đồng thuận xã hội.
Tham gia ASXH là đảm bảo cho cuộc sống người lao động nói riêng và
cộng đồng nói chung được chăm sóc, bảo vệ khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn;
giúp cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện cần thiết để khắc
phục những “rủi ro”, có cơ hội để phát triển và hoà nhập với mọi người. An
sinh xã hội với các chức năng chính của mình, thúc đẩy tính tích cực xã hội
trong mỗi con người, xây dựng tinh thần đoàn kết, nhân ái, tạo cho mỗi con
người xích lại gần nhau hơn, hướng hành động của con người tới những điều
cao đẹp trong cuộc sống, gắn kết hoà đồng mọi người không phân biệt dân
tộc, tôn giáo, giới tính... vào một xã hội mang tính nhân ái, công bằng cho
mọi thành viên. ASXH thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp, đoàn kết, giúp đỡ
lẫn nhau, tương thân tương ái giữa những con người trong xã hội.

Qua đó đã góp phần đảm bảo ổn định xã hội, từng bước nâng cao đời sống
của nhân dân, tạo đà cho phát triển bền vững. Nhờ đó, hoạt động đào tạo nghề
tiếp tục được tăng cường cả về quy mô và chất lượng, từng bước đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ các chương trình, dự án trọng điểm
của huyện nhà. Năm 2016, số lao động được tạo việc làm trên địa bàn toàn
huyện là 3.774/3.500 lao động, đạt 107,8% so với kết hoạch; trong đó xuất
khẩu lao động là 162 người. [39, tr.8]
Thứ tư, ASXH đóng một vai trò quan trọng đối với sự ổn định chính trị
- xã hội của đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ổn định, vững mạnh là điều kiện
cho sự ổn định chính trị bền vững. Mặt khác, trong cuộc sống của người lao
19


động thường xuyên bị đe dọa với những thiếu thốn do ốm đau, do thất nghiệp,
do già yếu, do tai nạn... cũng tác động sâu sắc đến tình hình chính trị - xã hội.
Thực tế những “điểm nóng” ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy, một trong
những nguyên nhân dẫn đến biểu tình, thậm chí xung đột xã hội là do chính
phủ không đáp ứng đủ về trợ cấp cho công nhân khi ốm đau, khi bị thất
nghiệp hoặc giảm sút thu nhập. Vì thế, ASXH đóng một vai trò rất quan trọng
trong thúc đẩy tiến bộ xã hội và giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất
nước. Mục tiêu chiến lược phát triển của đất nước ta là nhằm đảm bảo và đem
lại lợi ích cho mọi người. Bằng những biện pháp của mình, ASXH tạo ra mạng
“lưới chắn” với nhiều tầng, nhiều lớp để bảo vệ cho mọi thành viên trong cộng
đồng khi bị giảm, mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều
nguyên nhân khác nhau - gọi chung là những “rủi ro trong xã hội”.
Thực hiện an sinh xã hội không những có ý nghĩa đối với sự ổn định và
phát triển của nước ta mà còn có ý nghĩa mang tính quốc tế. Ngoài quyền con
người, thực hiện tốt các chính sách ASXH còn là sự biểu hiện trình độ văn
minh tiến bộ của mỗi quốc gia và thế giới, ASXH còn là vấn đề mang tính

nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nông, lâm nghiệp ổn định; công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh với tốc độ nhanh. Tuy nhiên,
công nghiệp của huyện chưa có nhiều dự án lớn, song tiểu thủ công nghiệp
đang được đầu tư và phát triển mạnh trong đó tập trung vào các nghề truyền
thống như nghề may, nghề làm Bún, nghề làm đàn, nghề khảm trai, mây tre
đan … Nhờ chọn đúng mục tiêu, xác định bước đi và cách làm phù hợp, chỉ
đạo cụ thể, đồng bộ, kinh tế của huyện đã có nhiều khởi sắc. Diện mạo nông
thôn ngày càng đổi mới.
Về văn hóa - xã hội
Cùng với việc phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của huyện Ứng Hòa
cũng đã có sự phát triển mạnh mẽ. Công tác giáo dục đào tạo ngày càng được
nâng cao, trang thiết bị được đầu tư và nâng cấp, cảnh quan, môi trường của

21


các trường học được đảm bảo. Hiện nay, tính đến năm 2016 trên địa bàn toàn
huyện đã có 50/90 trường đạt chuẩn Quốc gia.
Bên cạnh công tác giáo dục đào tạo, công tác văn hóa - thông tin và
thể thao, y tế… cũng được quan tâm đầu tư phát triển. Công tác đảm bảo
thông tin liên lạc, thể dục thể thao phục vụ nhân dân, đáp ứng nhiệm vụ
phát triển kinh tế xã hội của huyện cũng ngày càng phát triển. Đặc biệt là
công tác ASXH cũng đã được các cấp, các ngành trong huyện quan tâm và
thực hiện ngày càng có hiệu quả, nhất là tổ chức dạy nghề cho nhân dân,
xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ xây, sửa nhà cho hộ nghèo, nhà tình nghĩa cho
người có công, chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số, gia đình và
trẻ em…Những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân huyện Ứng Hòa những năm qua đã tạo ra những
điều kiện vật chất thuận lợi cho việc thực hiện ASXH trên địa bàn, góp
phần vào sự ổn định và phát triển của huyện.

thức chính trị”, “thiết chế xã hội chủ nghĩa và chính quyền”. V.I.Lênin cũng
chưa sử dụng khái niện “hệ thống chính trị” mà dùng khái niệm “hệ thống
chuyên chính vô sản”, các ông nhấn mạnh: trong xã hội có giai cấp bất cứ giai
cấp cầm quyền nào cũng tổ chức ra bộ máy nhà nước để duy trì sự thống trị
của mình đối với xã hội. Khi đó, giai cấp công nhân tiến hành cách mạng vô
sản giành thắng lợi tất yếu, sẽ tổ chức ra hệ thống quyền lực của mình đối với
xã hội đó là hệ thống chuyên chính vô sản. Đối với nước ta, khái niệm
HTCT lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban
Chấp hành Trung ương khoá VI (năm 1990). Trong đó khẳng định: Hệ
thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm toàn bộ những tổ chức chính trị xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các đoàn thể nhân dân), hoạt động hợp pháp cùng với cơ chế chính
trị đảm bảo quyền lực thực tế của nhân dân lao động. Đồng thời chỉ rõ: Hệ
thống chính trị XHCN là toàn bộ những thiết chế, cơ chế của chế độ dân
chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân lao động, do
Đảng cộng sản lãnh đạo thực hiện chức năng cơ bản là xây dựng và từng
23


bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc
về nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
Hiện nay thuật ngữ HTCT đã được sử dụng phổ biến: Hệ thống chính
trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các
thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực
hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính
trị. Hệ thống chính trị trong chủ nghĩa xã hội là một chỉnh thể bao gồm nhiều
tổ chức chính trị, trong đó có nhà nước XHCN (nhà nước chuyên chính vô
sản), đảng cộng sản (có thể một số đảng chính trị khác ủng hộ đảng cộng sản),
cùng các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa các
yếu tố đó nhằm bảo đảm quyền lực của nhân dân.
- Hệ thống chính trị cơ sở huyện Ứng Hòa

Các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, bao gồm: Mặt trận Tổ quốc,
ĐTNCS Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh,…có
vai trò rất quan trọng trong tập hợp, củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân, tạo sự nhất trí về chính trị - tinh thần trong nhân dân; tuyên
truyền vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ thực sự của mình trong
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp và pháp
luật của Nhà nước trên địa bàn; bảo vệ, đại diện cho quyền lợi và ý chí của
quần chúng, đại diện cho họ trong việc tham gia xây dựng và giám sát
đảng, chính quyền, tập hợp những kiến nghị của nhân dân để phản ánh với
đảng và cơ quan nhà nước cấp trên; chăm lo, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ
chính đáng của nhân dân.
Từ sự phân tích về cấu trúc của HTCTCS có thể quan niệm: hệ thống
chính trị cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta, bao gồm: tổ
chức cơ sở đảng (đảng bộ, chi bộ cơ sở), chính quyền cơ sở (HĐND, UBND)
và các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến
binh,... được tổ chức chặt chẽ và gắn bó mật thiết với nhau, hoạt động theo
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status