LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH với VIỆC xây DỰNG hậu cần QUÂN đội TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 1954) - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1-Tính cấp thiết của đề tài
Hậu cần là một mặt công tác quân sự gồm tổng thể các hoạt động bảo đảm vật chất,
quân nhu, quân y, xăng dầu, vận tải, tài chính...cho các LLVT xây dựng, huấn luyện, SSCĐ và
chiến đấu thắng lợi. Công tác bảo đảm hậu cần có vị trí, vai trò rất quan trọng, tạo ra sức mạnh
vật chất cho các LLVT trong quá trình xây dựng và chiến đấu.
Ngành Hậu cần QĐND Việt Nam ra đời, phát triển gắn liền với quá trình hình thành, xây
dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam anh hùng và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
bảo đảm hậu cần, tạo nên sức mạnh vật chất cho Quân đội góp phần quan trọng vào những thắng lợi
của Quân đội ta trong xây dựng và chiến dấu bảo vệ Tổ quốc sáu mươi năm qua.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta (1945-1954),
ngành Hậu cần Quân đội đã được hình thành,từng bước trưởng thành cả về tổ chức bộ máy, lực
lượng và cơ chế hoạt động, phương thức bảo đảm. Trong quá trình đó, ngành Hậu cần Quân đội
luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng và đặc biệt
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức, thời gian cùng với Trung
ương Đảng chỉ đạo công tác hậu cần và xây dựng ngành Hậu cần Quân đội. Người đã trực tiếp ký
các Sắc lệnh, Quyết định thành lập các tổ chức bộ máy của ngành Hậu cần, cùng với Bộ Quốc
phòng chỉ đạo xác lập cơ chế hoạt động, phương thức bảo đảm hậu cần, xây dựng, giáo dục đội ngũ
cán bộ, nhân viên làm công tác hậu cần...Đặc biệt thông qua các bài viết, sách, báo, tài liệu, thư từ,
bài nói chuyện...của Người với ngành Hậu cần Quân đội , với cán bộ, nhân viên hậu cần các cấp đã
hình thành nên hệ thống quan điểm của Người về công tác hậu cần quân đội nói chung và công tác
bảo đảm hậu cần trong chiến tranh nói riêng. Chính nhờ đó, ngành Hậu cần Quân đội không ngừng
trưởng thành lớn mạnh, thể hiện bằng việc bảo đảm hậu cần cho hoạt động xây dựng, chiến đấu của
QĐND Việt Nam qua từng trận đánh, từng chiến dịch, cùng cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp thắng lợi.
Nghiên cứu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng ngành Hậu
cần QĐND Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) là một việc làm cần thiết. Làm
tốt việc này sẽ góp phần vào việc nghiên cứu, làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chủ tịch về
hậu cần quân đội nói chung và hậu cần quân đội trong chiến tranh nói riêng.
Mặt khác còn khẳng định vai trò to lớn của Người cùng với Trung ương Đảng trong
thực tiễn chỉ đạo các hoạt động xây dựng ngành Hậu cần Quân đội cả về tổ chức bộ máy, lực

trình đó một mặt đã đề cập một cách cơ bản, hệ thống lịch sử hậu cần QĐND Việt Nam trong suốt
cuộc kháng chiến chống Pháp. Mặt khác, qua các công trình đó đã đề cập và khẳng định những
cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng ngành Hậu cần Quân đội.
Đặc biệt, những lời dạy của Hồ Chủ tịch đối với ngành Hậu cần Quân đội đã được tập
hợp in thành sách: Hồ Chí Minh về công tác hậu cần quân đội, Nxb QĐND,1970.
Mấy năm gần đây, việc nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác hậu cần
quân đội đã được lãnh đạo chỉ huy các cấp trong ngành quan tâm đẩy mạnh. Năm 2000, nhân
dịp kỷ niệm 50 năm truyền thống ngành Hậu cần Quân đội, Tổng cục Hậu cần đã xuất bản tài
liệu 50 năm ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy, trong đó ngoài những lời dạy của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác hậu cần quân đội, tài liệu đã nêu lên một số quan điểm của Hồ
Chủ tịch, Đảng ta về công tác hậu cần quân đội nói chung, công tác hậu cần trong chiến tranh
nói riêng.
Trước đó, nhân kỷ niệm 108 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/189019/5/1998), Học viện Hậu cần đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề : Chủ tịch Hồ Chí Minh
với công tác hậu cần quân đội (Kỷ yếu hội thảo khoa học,Nxb QĐND 1998). Các bài tham luận
đã đề cập một cách khá toàn diện, sâu sắc những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác hậu cần quân đội, qua đó khẳng định vai trò to lớn của Người với việc xây dựng ngành
Hậu cần Quân đội.


Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Hồ Chủ tịch (19/5/1890-19/5/2000) và 50 năm
truyền thống ngành Hậu cần Quân đội (11/7/1950-11/7/2000), Tổng cục Hậu cần đã tổ chức Hội
thảo khoa học: 50 năm ngành Hậu cần xây dựng và hoạt động theo tư tưởng Hồ Chí Minh-kinh
nghiệm và phương hướng phát triển (Nxb QĐND,Hà nội 2000). Bên cạnh việc làm nổi bật hai
vấn đề: khái quát những vấn đề cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về hậu cần quân đội, những
thành tựu và kinh nghiệm qua 50 năm hoạt động của ngành Hậu cần Quân đội; vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng ngành và hoạt động nâng cao chất lượng nhiệm vụ phục vụ,
các bài tham luận cũng khẳng định những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo
xây dựng ngành Hậu cần Quân đội.
Tuy nhiên, các công trình trên đây chưa đi sâu phân tích những quan điểm của Hồ
Chủ tịch về hậu cần quân đội và công tác bảo đảm hậu cần trong điều kiện chiến tranh. Các

Quân đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp thuộc chuyên ngành lịch sử như phương
pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic; phương pháp đồng đại, lịch đại, so sánh, thống kê,
tổng kết lịch sử...
6-Ý nghĩa của luận văn
Kết quả Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ những công hiến to lớn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng ngành Hậu cần Quân đội nói riêng, với QĐND Việt Nam
nói chung trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945-1954). Đồng thời với một số vấn
đề cơ bản được tác giả đề xuất làm cơ sở vận dụng vào sự nghiệp xây dựng ngành Hậu cần
Quân đội hiện nay.
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy một số môn học
về hậu cần quân đội, tư tưởng Hồ Chí Minh...trong các nhà trường Quân đội.
7-Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 2
chương (5 tiết).
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ HẬU CẦN QUÂN ĐỘI TRONG CHIẾN TRANH
1.1. Cơ sở hình thành những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hậu cần quân
đội trong chiến tranh
1.1.1. Những tinh hoa tư tưởng của nhân loại về hậu cần quân đội
Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội.
Lý luận Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội là cơ sở lý luận khoa học trực tiếp cho
sự hình thành quan điểm của Hồ Chủ tịch về hậu cần quân đội trong chiến tranh nói riêng và
công tác hậu cần quân đội nói chung. Lý luận Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội đã trang bị
cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học biện chứng duy vật, từ đó
Người phân tích, đánh giá đúng giá trị của nhân loại và của dân tộc trong công tác bảo đảm hậu
cần cho quân đội trong chiến tranh, làm cơ sở cho việc Người tiếp thu, kế thừa, phát triển và chỉ
đạo xây dựng ngành Hậu cần Quân đội trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược (1945 - 1954) và tiếp tục sau này trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ.

rằng điều kiện kinh tế, công tác bảo đảm vật chất hậu cần cho quân đội là điều kiện quyết
định đến sức mạnh của quân đội và sự thắng lợi của quân đội trên chiến trường . Ph.Ăngghen
khẳng định: "Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội
và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ
sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông" [1,Tr.235]. Khi
nói đến ảnh hưởng quyết định của kinh tế đối với hoạt động quân sự và quân đội, Ph.Ăngghen
còn khẳng định: Toàn bộ việc tổ chức và phương pháp chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi
và thất bại, đều rõ ràng là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào
nhân lực , vũ khí và cả kỹ thuật nữa. ở đây, Ph.Ăngghen không chỉ đề cập đến mối liên hệ phụ
thuộc giữa tổ chức quân đội, hoạt động quân sự với kinh tế, mà còn đề cập đến vấn đề bảo đảm
cơ sở vật chất, phương tiện cho quân đội trong chiến tranh. Có đảm bảo tốt cơ sở vật chất,
phương tiện, vũ khí... cho quân đội thì họ mới có thể chiến thắng trên chiến trường.
V.I.Lênin tiếp tục phát triển luận điểm của Ph.Ăngghen và khẳng định vai trò quan
trọng của công tác bảo đảm cho quân đội trong điều kiện có chiến tranh. Người viết: " Muốn
phòng thủ, phải có một đội quân kiên cường vững mạnh, một hậu phương vững chắc, và muốn
có một đội quân kiên cường và vững mạnh thì trước hết phải tổ chức thật vững chắc công tác
lương thực" [18,Tr.423]. "Công tác lương thực" ở đây được hiểu theo nghĩa là việc bảo đảm


đời sống cho bộ đội nơi tiền tuyến. Binh sỹ ở ngoài mặt trận chiến đấu chống lại kẻ thù để bảo
vệ quốc gia, dân tộc, vì vậy họ phải được tiếp tế không chỉ cơ sở vật chất, phương tiện chiến
đấu, mà cả về con người, tinh thần, tư tưởng nữa. Từ sự phân tích các yếu tố, điều kiện có
ảnh hưởng đến hoạt động chiến đấu của bộ đội trên chiến trường, V.I.Lênin kết luận công tác
bảo đảm vật chất cho bộ đội có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của họ trên chiến trường.
Người khẳng định: "Một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách
mạng cũng đều sẽ lập tức bị quân thù tiêu diệt nếu không được vũ trang, tiếp tế lương thực và
huấn luyện một cách đầy đủ" [17,Tr.497].
Sau này trong Diễn văn "Kỷ niệm lần thứ 27 cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng Mười vĩ đại", I.V.Xta-lin đã tổng kết: Không có vũ khí hiện đại thì quân đội không thể
chiến đấu và chiến thắng. Nhưng nó cũng không thể chiến đấu và chiến thắng nếu không có

Có thể dẫn ra đây một số "kế sách" lớn về công tác hậu cần mà ông cha ta đã sáng tạo,
sử dụng trong các cuộc chiến tranh chống lại các thế lực phong kiến phương Bắc.
Đó là “kế sách” luôn chăm lo xây dựng để cho "quốc thịnh, binh cường", nghĩa là
phải luôn xây dựng đất nước vững mạnh về tiềm lực kinh tế để xây dựng tiềm lực quân sự.
Thực hiện “kế sách”này, tổ tiên ta đã biết dựa vào dân để tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần.
Do đó, dựa vào dân đã trở thành "kế sách" tổng quát có tính quy luật của tổ tiên ta trong lịch sử
chống giặc giữ nước. Xuất phát từ quan điểm "nước lấy dân làm gốc" mà Trần Quốc Tuấn đã đề
xuất kế sách "Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước " ( 55 ,
Tr.215).
Đó là “kế sách” "ngụ binh ư nông" làm cho nông mạnh và binh cũng mạnh. Bắt đầu
từ triều Đinh đến triều Lý, Trần... kế sách này ngày càng được hoàn chỉnh và trở thành quốc
sách của nhà nước phong kiến Đại Việt. Thực hiện “kế sách” "ngụ binh ư nông" có nhiều ý
nghĩa, nhiều tác dụng cả trong việc phát triển kinh tế đất nước , binh lính phải tham gia lao động
sản xuất trong lúc thanh bình để tự cung cấp cho mình và cho đất nước; cả trong việc tổ chức
một bộ máy quân sự phù hợp về mặt số lượng, cơ cấu đủ mạnh để có thể ứng chiến khi có
chiến sự.
Trên cơ sở quan điểm "cả nước đánh giặc, toàn dân ai cũng là lính ", tổ tiên ta đã
biết dựa vào dân để lo tổ chức việc cung cấp cho quân đội. Từ buổi đầu dựng nước ,
truyền thuyết toàn dân đóng góp lương thực nuôi Thánh Gióng, đóng góp khí giới cho người
anh hùng diệt giặc đã thể hiện quan điểm chiến tranh nhân dân, hậu cần nhân dân. Các triều
đình phong kiến Đại Việt đã biết dựa vào dân để lo tổ chức việc cung cấp cho quân đội đánh
giặc, do đó "quân đi đâu, già trẻ giỏ cơm, bầu nước theo như trẩy hội" [9,Tr.50].


Bên cạnh việc dựa vào dân để tổ chức cung cấp, các nhà nước phong kiến Đại Việt
cũng tổ chức các cơ sở cung cấp của nhà nước như việc thành lập các xưởng sản xuất vũ
khí, xưởng sản xuất phương tiện vận tải (thuyền, xe vận chuyển, xe công thành...); xưởng sản
xuất lương thực, thuốc... Đó là những cơ sở hậu cần chiến lược, bảo đảm cho sức mạnh đánh
thắng của quân đội.
Tổ tiên ta cũng còn sử dụng “kế sách” triệt phá nguồn cung cấp, lấy của giặc để đánh

chiến tranh, phát triển kinh tế, vừa phải đối phó với sự bao vây của thù trong giặc ngoài, lại vừa
phải chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà chúng ta biết chắc chắn là sẽ lâu
dài và gian khổ. Trong khi đó, Pháp là một nước đế quốc có nền kinh tế phát triển, có quân đội
chính quy, được trang bị hiện đại; có kinh nghiệm chiến tranh xâm lược thuộc địa, lại được các


đế quốc Mỹ, Anh giúp sức... Tuy nhiên, khi trở lại xâm lược nước ta, thực dân Pháp cũng gặp
phải khó khăn: cách xa nước Pháp hàng vạn kilômét, do đó sẽ gặp khó khăn trong việc tăng viện
sức người, tài chính, vũ khí... Đặc biệt là khi bị quân và dân ta tiến công mạnh mẽ từ sau chiến
thắng Việt Bắc thu đông 1947 trở đi, làm cho mâu thuẫn trong nội bộ nước Pháp ngày càng sâu
sắc khi càng lún sâu, càng thất bại trên chiến trường Đông Dương. Trong khi đó, phong trào
đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa Pháp phát triển mạnh mẽ. ? Đông
Dương, thực dân Pháp trở thành kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào,
Campuchia...
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT của chúng ta còn non trẻ, song
được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, rèn luyện, sớm có tinh thần yêu nước và chí căm
thù giặc sâu sắc. Quân đội ta là quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, gắn bó máu thịt với
nhân dân, được nhân dân tin yêu, đùm bọc. Để đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, quân
đội ta không ngừng lớn mạnh, cùng với toàn dân tộc tiến lên đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp
xâm lược. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, nên vấn đề bảo đảm cung
cấp hậu cần các mặt cho quân đội cũng chưa được bảo đảm đầy đủ, "lương thực, khí giới, chăn
áo, thuốc men cái gì cũng thiếu thốn" [50,Tr.37]. Trong tiến trình cuộc kháng chiến chống Pháp,
công tác bảo đảm hậu cần cho quân đội chiến đấu cũng luôn gặp khó khăn do địch đánh phá,
việc vận chuyển, chi viện từ hậu phương ra tiền tuyến vừa xa xôi, cách trở, vừa khó khăn về
đường sá, phương tiện, con người.
Xuất phát từ thực tiễn những thuận lợi, khó khăn của đất nước, quân đội và công tác
cung cấp hậu cần, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều nội dung quan điểm về hậu cần
quân đội một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện đất nước, quân đội và ngành Hậu cần như:
cần, kiệm, tự lực, tự cường; đẩy mạnh tăng gia sản xuất; tích cực lấy của địch đánh địch, đồng
thời tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế... Người cùng với Trung ương Đảng chỉ đạo hậu

ương Đảng chỉ đạo xây dựng ngành Hậu cần, đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của
Quân đội ta. Dưới đây là một số quan điểm cơ bản của Người về hậu cần quân đội trong chiến
tranh.
1.2.1. Hậu cần quân đội phải dựa vào dân
Đây là một quan điểm lớn, xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hậu cần quân đội
nói chung và công tác hậu cần quân đội trong chiến tranh nói riêng.
Quan điểm này được hình thành dựa trên cơ sở Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm vững lý luận
chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, kế thừa truyền thống
"trọng dân" của dân tộc ta. Đảng ta - do Người sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời và
trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn quán triệt quan điểm " lấy dân làm gốc", lấy việc phục
vụ nhân dân làm mục đích cao cả. Hồ Chủ tịch khẳng định, " Trong bầu trời không có gì quý bằng
nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã
hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân" [47,Tr.276].
Hơn thế nữa, quan điểm hậu cần phải dựa vào dân - hậu cần nhân dân là thể hiện tư
tưởng cốt lõi trong đường lối quân sự của Đảng, của học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam
là quan điểm chiến tranh nhân dân "toàn dân giữ nước, cả nước đánh giặc".
Đây cũng chính là sự tiếp nối, phát triển truyền thống phát huy sức mạnh hậu cần toàn
dân trong chiến tranh giữ nước của ông cha ta ,đặc biệt trong lịch sử các trận quyết chiến chiến
lược với kẻ thù như trận Bạch Đằng (năm 938); trận đánh Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu
(năm 1075-1076); trận Như Nguyệt (năm 1077); trận Bạch Đằng (năm 1288); trận Chi Lăng Xương Giang (năm 1427); trận Rạch Gầm - Xoài Mút (năm 1785) trận Ngọc Hồi - Khương
Thượng (năm 1789)... Mặc dù hoàn cảnh, tình thế, lực lượng ở mỗi trận đánh có khác nhau,
song điểm chung nhất về công tác bảo đảm hậu cần là các nhà nước phong kiến, tướng lĩnh đã
phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân trong việc xây dựng hậu phương vững mạnh để sẵn
sàng huy động nguồn lực con người, vật chất , nhất là việc huy động nguồn lực tại chỗ vừa đảm
bảo cho việc hành quân chiến đấu, vừa bảo đảm cho phòng ngự, phản kích địch. Cha ông ta


cũng phát huy sức mạnh của nhân dân trong việc vận tải, chuyên chở hậu cần theo sát các đoàn
quân chiến đấu. Chính sức mạnh hậu cần ấy đã góp phần làm nên những chiến thắng lừng lẫy
trong lịch sử chống ngoại xâm của quốc gia phong kiến Đại Việt ở các thế kỷ X đến thế kỷ XVIII.

tưởng để chiến thắng quyết định.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng đặc biệt
quan tâm đến xây dựng hậu phương kháng chiến bằng việc xác định nhiều chủ trương quan
trọng xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện. Nhờ đó, thực lực của chúng ta ngày càng lớn
mạnh, đủ sức đảm bảo cho kháng chiến, nhất là những năm đầu khi ta chưa có điều kiện nhận
được sự chi viện , giúp đỡ của các nước anh em.


Nhân dân đóng góp để tiếp tế, cung cấp, nuôi dưỡng bộ đội, nhưng không thể chỉ huy
động nhân dân, đóng góp mà phải biết bồi dưỡng sức dân. Hồ Chủ tịch nhắc nhở: huy động sức
dân phải gắn với chăm lo bồi dưỡng sức dân thì mới tăng thêm thực lực để kháng chiến lâu dài.
Khi phát động phong trào mua công trái, Người căn dặn: "phải cố gắng thi đua mua công trái.
Nhưng đồng thời chớ để cạn vốn tăng gia sản xuất" [35]. Cũng về vấn đề này, phát biểu trong
Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khoá II), Người nói: "Để cho nhân dân hăng hái và sẵn có mà
đóng góp cho kháng chiến, thì phải bồi dưỡng lực lượng của dân... Phải bồi dưỡng lực lượng
cho dân nhiều hơn yêu cầu đóng góp" [40,Tr.463-464].
Như vậy, quan điểm hậu cần quân đội phải dựa vào dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
chính là thể hiện tư tưởng hậu cần toàn dân trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Hậu
cần quân đội phải dựo vào sức mạnh của toàn dân, hậu cần quân đội phải kết hợp với hậu cần
địa phương và hậu cần nhân dân trong công tác hậu cần. Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược đối với ngành Hậu cần Quân đội. Vì vậy, trong
suốt cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, ngành Hậu cần Quân đội đã cùng toàn dân ta
đáp ứng đầy đủ, kịp thời mọi nhu cầu của bộ đội trên chiến trường.
Ngày nay, quan điểm trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có giá trị to lớn chỉ đạo xây
dựng ngành Hậu cần Quân đội làm nòng cốt cho xây dựng hậu cần toàn dân, hậu cần địa
phương và kết hợp các lực lượng hậu cần đó trong thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh
nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.2.2. Cần, kiệm, tự lực, tự cường
Quan điểm cần, kiệm, tự lực, tự cường trong công tác hậu cần quân đội của Chủ tịch
Hồ Chí Minh là một trong những quan điểm cơ bản của Người chỉ đạo xây dựng ngành Hậu

Tiết kiệm là vấn dề ''quốc sách'' đối với mọi quốc gia , đặc biệt đối với những nước
nghèo như nước ta, lại trong hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo sau Cách mạng Tháng Tám, thì vấn
đề này càng trở nên bức xúc.
Thực hiện việc tiết kiệm, đối với hậu cần quân đội, Hồ Chủ tịch chỉ rõ: phải triệt để thực
hiện tiết kiệm, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức, mồ hôi xương máu của nhân dân và bộ đội,
tiết kiệm tiền bạc, của cải, vũ khí... Người lấy ví dụ: " Trước kia tính đổ đồng mỗi chiến sỹ bắn 50
viên đạn mới hạ một tên địch. Nay vì tập luyện siêng năng, bắn khá, tính đổ đồng mỗi chiến sỹ
chỉ bắn 10 viên đạn thì hạ được một tên địch. Thế là chiến sỹ tiết kiệm được 80% đạn. Do đó mà
quân giới tiết kiệm được nguyên liệu và nhân công đúc đạn, để chế tạo những vũ khí khác.
Trước kia Cục Vận tải chở 100 xe đạn, nay chỉ cần chở 20 xe, tiết kiệm được xe cộ và dầu mỡ.
Xe chạy ít thì đường sá phải chữa ít, thế là tiết kiệm được dân công ..." [41,Tr.486]. Đó là sự tiết
kiệm rất cụ thể, thực tế, thể hiện sâu sắc quan điểm của Hồ Chủ tịch.
Trong thực hành tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ việc giữ tốt, dùng bền mọi vật tư,
phương tiện, trang bị... Người chỉ rõ: Vũ khí, trang bị là do mồ hôi, nước mắt của nhân dân đóng
góp, nếu không giữ tốt, dùng bền, để hư hao mất mát sẽ ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ
đội, là lãng phí của dân. Nước ta nghèo, nhân dân còn vất vả, mọi đóng góp của dân là để bộ
đội ăn no đánh thắng, nếu bộ đội không có ý thức tiết kiệm, sẽ gây khó khăn cho kinh tế đất
nước, sẽ có tội với nhân dân.
Tuy nhiên, theo Người tiết kiệm phải đúng mục đích, đúng lúc, đúng chỗ, đem lại hiệu
quả cao phục vụ đời sống bộ đội, nhân dân. Quan điểm tiết kiệm của Người trái với chủ
nghĩa "khắc kỷ" , hành động keo kiệt, hà tiện, cực đoan, ăn đói nhịn khát. Hồ Chủ tịch khẳng
định: "Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là "xem đồng tiền to bằng cái nống" (∗), gặp
việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán
bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng
gia là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì
tiết kiệm là tích cực chứ không phải là tiêu cực" [41,Tr.485].
Đi liền với việc tiết kiệm, Người dạy cán bộ, chiến sỹ làm công tác hậu cần phải biết
chống lại thói tham ô, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi, thu vén cá nhân. Người làm công tác bảo
đảm hậu cần cho bộ đội, trước hết được giao việc quản lý mọi vật chất, trang bị và thực hiện
việc phân phát, bảo đảm tới từng đơn vị, chiến sỹ, phục vụ bộ đội. Do đó nếu để những hành

Hậu cần nói chung nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì
vậy, trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngành Hậu cần Quân
đội đã luôn phát huy tinh thần cần, kiệm, tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn phục vụ bộ đội
chiến đấu trên các chiến trường, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đánh bại kẻ thù xâm
lược.
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng ngành Hậu cần vững mạnh toàn diện đáp ứng
yêu cầu xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, quan
điểm trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn giá trị chỉ đạo to lớn.
1.2.3. Quan điểm phục vụ bộ đội
Phục vụ bộ đội là quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về hậu cần
quân đội trong chiến tranh nói riêng và trong cả sự nghiệp xây dựng ngành Hậu cần Quân đội nói
chung. Quan điểm này chỉ đạo toàn bộ mục đích, nhiệm vụ và phương châm hoạt động của
hậu cần quân đội.
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh , từ khi Người hiểu được
nỗi thống khổ, nỗi tủi nhục của người dân nô lệ, ra đi tìm đường cứu nước, cho đến khi từ giã
thế giới, đi vào cõi vĩnh hằng, Người chỉ có một mục đích cao cả là đem hết sức lực để phục vụ
Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với Người, làm việc không phải vì "công danh phú quý" , kể cả
khi ở cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Người coi đó là trách nhiệm mà nhân dân đã "uỷ
thác", Người ví "cũng như một người lính vâng mệnh quốc gia". Đối với Người, không có gì vẻ
vang, tốt đẹp bằng phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong một lần trả lời phỏng vấn các nhà báo
nước ngoài, Hồ Chủ tịch khẳng định: "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút
nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn
độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành" [25,Tr.161].


Từ mục tiêu cao cả đó, Người luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ phải hết lòng phục vụ Tổ
quốc, phục vụ nhân dân, mỗi cán bộ phải thực sự là "người đấy tớ trung thành, tận tụy của nhân
dân". Có như vậy mới được dân yêu mến, mới được lòng nhân dân.
Theo Hồ Chủ tịch, đối với mọi tổ chức, mọi cơ quan cũng vậy, đều phải vì lợi ích của

nguồn cung cấp thiếu thốn về nhiều mặt, thì yêu cầu đội ngũ những người làm công tác cung
cấp, bảo đảm hậu cần không chỉ có tài năng, lòng dũng cảm, mà còn phải nêu cao tinh thần
trách nhiệm phục vụ. Người chỉ rõ: mỗi cán bộ, chiến sỹ, nhân viên hậu cần làm công tác phục
vụ bộ đội phải chịu trách nhiệm trong việc quản lý, khai thác, cung cấp những trang bị vật chất,
đến tận tay từng chiến sỹ ngoài mặt trận. Có như vậy, họ mới có thêm sức mạnh, ý chí chiến
đấu với quân thù. Người nêu rõ: "Mỗi người cán bộ cung cấp nói riêng và Tổng cục Cung cấp
nói chung, phải phụ trách trước bộ đội, trước nhân dân, trước Đảng, trước Chính phủ. Nhân dân
thi đua đóng góp cho Chính phủ. Chính phủ lo ngày lo đêm giao cho các chú cung cấp cho bộ
đội. Bộ đội mong chờ các chú... Muốn làm tròn nhiệm vụ, cán bộ cung cấp trước hết phải có tinh
thần trách nhiệm, cố gắng vượt mọi khó khăn làm cho bộ đội no ấm, đủ súng đạn, đủ sức khoẻ
để đánh giặc" [42,Tr.512]. Trách nhiệm ấy đồng thời còn là lương tâm và nghĩa vụ của mỗi cán
bộ, chiến sỹ hậu cần.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phương châm phục vụ bộ đội là công bằng, bình đẳng,
cụ thể, tỷ mỷ. Đó là những đức tính của người làm công tác quản lý, phục vụ. Người chiến sỹ ở
ngoài chiến trường đối mặt với kẻ thù nguy hiểm, quyết liệt từng giờ, từng phút, do đó họ không
có điều kiện và thời gian để quan tâm tới mọi tiêu chuẩn, chế độ. Nếu người làm công tác hậu
cần không công bằng, bình đẳng, tỷ mỷ trong việc cung cấp, bảo đảm sẽ gây thiệt thòi cho người
chiến sỹ và ảnh hưởng tới sức chiến đấu của họ. Vì vậy, Hồ Chủ tịch yêu cầu cán bộ, chiến sỹ
làm công tác hậu cần "phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên
thuốc, một tấc vải phải đi thẳng đến chiến sỹ" [42,Tr.514]. Người nhấn mạnh điều cần thiết đối


với cán bộ cung cấp là "phải biết rõ ràng số người mình phụ trách cung cấp, phải có kế hoạch
đầy đủ, sổ sách rành mạch; phải thấy trước, lo trước; phải có sáng kiến và tháo vát...". Muốn làm
được như vậy, cán bộ, chiến sỹ hậu cần quân đội phải luôn bám sát yêu cầu chiến đấu và đời
sống của bộ đội, nghĩa là mỗi người làm công tác hậu cần và công tác hậu cần phải xác định
đúng phương châm: hướng ra tiền tuyến, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho bộ đội đánh
thắng giặc. Trong quan điểm của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc bảo đảm mọi nhu cầu vật
chất, sinh hoạt tới từng đơn vị cơ sở, tới tận tay người chiến sỹ làm mục tiêu và thước đo hoàn
thành nhiệm vụ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người phải có đạo đức (đạo đức cách mạng) cũng như cây phải có
gốc, sông phải có nguồn. Xuất phát từ đặc điểm, tính chất hoạt động của cán bộ, nhân viên hậu
cần luôn gắn liền với tiền bạc, hàng hoá, trang thiết bị... nên Người luôn yêu cầu mỗi người phải


thật sự "cần, kiệm, liêm, chính", và hơn thế nữa "phải làm kiểu mẫu về cần, kiệm, liêm, chính"
[38,Tr.296]. Người ví con người có bốn đức cần, kiệm, liêm, chính cũng như trời có bốn mùa,
đất có bốn phương, thiếu một mùa không thành trời, thiếu một phương không thành đất, thiếu
một đức không thành người. Người khẳng định: "Cần, kiệm, liêm, chính của ta là đạo đức của
người quân nhân cách mạng. Các chú phải thực hiện đạo đức đó" [39,Tr.321].
Người đã giải thích thế nào là cần, là kiệm, là liêm, là chính và đề ra những yêu cầu để
thực hiện được những điều đó.
Theo Người giải thích: Cần là siêng năng chăm chỉ, luôn luôn cố gắng, nhưng không làm
quá sức mà phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng, phải có kế hoạch, tính toán được hiệu
quả và cần được lâu dài. Đối với người làm công tác hậu cần trong điều kiện phục vụ bộ đội
chiến đấu, thì cần được biểu hiện ở thái độ, trách nhiệm trong phục vụ bộ đội, thể hiện ở việc
tích cực tăng gia sản xuất góp phần cải thiện đời sống bộ đội...
Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, lãng phí, bừa bãi. Phải tiết kiệm cả tiền, của, thời gian và
công sức. Nhưng kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, không dám ăn, không dám tiêu. Trên chiến
trường, công tác hậu cần phải chăm lo, bảo đảm mọi nhu cầu vật chất sinh hoạt, trang thiết bị,
vũ khí cho bộ đội, nhưng không được hoang phí dù là một viên đạn, một cái áo, cái màn, một
viên thuốc. Ngay cả đối với chiến lợi phẩm thu được cũng "tuyệt đối không được tham ô, lãng
phí".
Liêm là trong sạch, là không tham lam, không tự tư, tự lợi. Người cho rằng người bất
liêm dù công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp đều là trộm cắp. Trong điều kiện chiến
trường ác liệt, nguồn cung cấp thiếu thốn, song không vì thế mà cán bộ hậu cần tham ô, tư lợi
cho riêng mình.
Chính là thẳng thắn, là đúng đắn, làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác.
Chính là việc gì phải dù nhỏ cũng làm , việc gì trái dù nhỏ cũng tránh. Trong việc bảo đảm, cung
cấp cho bộ đội, thực hiện một cách công khai, công bằng, chu đáo, tỷ mỷ là chính.



Một nội dung khác mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong công tác bảo đảm hậu cần là
mỗi cán bộ, nhân viên và ngành Hậu cần Quân đội phải nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy
dân chủ, giữ gìn kỷ luật chặt chẽ. Đoàn kết trong tập thể, đội ngũ, đoàn kết giữa người phục
vụ và người được phục vụ, đoàn kết với nhân dân, đoàn kết giữa hậu phương, giữa những
người ở tuyến sau với tiền tuyến, với những người ở mặt trận. Đoàn kết tốt sẽ bảo đảm sự
thống nhất và có ảnh hưởng tốt tới hoàn thành nhiệm vụ. Trong công tác bảo đảm, muốn công
bằng, bình đẳng, đảm bảo đúng, đủ tiêu chuẩn cho từng chiến sỹ ngoài mặt trận thì phải thực
hiện dân chủ, công khai. Thực hiện tốt dân chủ sẽ phát huy được tinh thần năng động, sáng tạo
trong việc bảo đảm, phục vụ. Phải giữ nghiêm kỷ luật trong hoạt động bảo đảm, phục vụ - nhất là
kỷ luật chiến trường. Thực hiện nghiêm kỷ luật sẽ tránh được việc tham ô, hoặc " để cho bộ đội
tự do làm hao phí và lấy dùng bữa bãi...".
Trên đây là những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hậu cần quân đội
trong chiến tranh. Những quan điểm này trở thành phương châm chiến lược để Người cùng
với Trung ương Đảng chỉ đạo xây dựng hậu cần quân đội, đáp ứng yêu cầu phục vụ, bảo đảm
hậu cần cho quân đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp, góp phần cùng toàn Đảng, toàn
quân, toàn dân tiến lên đánh bại thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc. Những
quan điểm này tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và ngành Hậu cần Quân đội bổ
sung, hoàn chỉnh chỉ đạo hoạt động bảo đảm hậu cần và xây dựng ngành Hậu cần Quân đội
trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ sau này.
Trong sự nghiệp xây dựng ngành Hậu cần Quân đội hiện nay, những quan điểm này
vẫn có giá trị chỉ đạo thực tiễn to lớn.
1.2. Những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hậu cần quân đội trong
chiến tranh
Những quan diểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hậu cần quân đội trong chiến tranh được
hình thành từ ngay khi Người chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
(1944) (tiền thân của QĐND Việt Nam hiện nay). Trong quá trình cùng với Trung ương Đảng lãnh
đạo quân và dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Người không
ngừng bổ sung, phát triển thành một hệ thống các quan điểm, thông qua đó để cùng với Trung

Nêu quan điểm hậu cần quân đội phải dựa vào dân, Hồ Chủ tịch khẳng định "phải dựa
vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được... Nguồn cung cấp sẽ dựa
vào dân" [11,Tr.125].
Theo Người, dựa vào dân là khơi nguồn lực lượng và sức sáng tạo của nhân dân, có
dân là có tất cả. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, do đó phải động viên, tổ chức toàn
dân đánh giặc, Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu và được toàn dân
chăm lo, nuôi dưỡng. Chính kinh nghiệm bảo đảm hậu cần thời kỳ đấu tranh vũ trang giành
chính quyền đã được Hồ Chủ tịch ôn lại, Người nói: hồi kháng Nhật ở khu giải phóng, Tổng cục
Cung cấp là nhân dân Cao - Bắc - Lạng.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp - cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nền
kinh tế của nước ta lại nghèo nàn, lạc hậu, tiềm lực quân sự, khoa học yếu kém, lại bị bao vây
tứ phía, nên Chính phủ cũng chỉ có khả năng cung cấp được một số nhu cầu cho quân đội. Do
đó, mọi nhu cầu vật chất nuôi dưỡng bộ đội (vũ khí, trang bị, lương thực, thuốc men...) đều phải
dựa vào địa phương do nhân dân cung cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: " Làm ra gạo thóc cho
chiến sỹ ăn, vải cho chiến sỹ mặc đều nhờ nơi đồng bào ở địa phương" [31,Tr.486].
V.I.Lênin đã từng chỉ rõ: một khi chiến tranh đã không thể tránh được thì phải dốc tất cả
cho chiến tranh; mọi lực lượng, mọi tổ chức đều phải dốc lòng mới đảm bảo cho cuộc chiến
tranh thắng lợi. Và từ kinh nghiệm của cuộc chiến tranh giữ nước, V.I.Lênin cũng tổng kết
rằng trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực hơn, ai kiên trì đi
sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó sẽ thu được thắng lợi.
Trong cuộc chiến tranh nhân dân của ta, dựa vào dân, tổ chức toàn dân làm công tác
hậu cần là một vấn đề thuộc đường lối quan điểm của Đảng ta, là một phương thức cơ bản để


đạt được mục đích của công tác hậu cần, một quy luật giành thắng lợi của công tác hậu cần
ngay trong khi chiến tranh nhân dân đã tiến lên hiện đại.
Dựa vào dân và gắn với xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương chiến tranh để
tạo nguồn bảo đảm hậu cần cho quân đội là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng ta
khẳng định: công cuộc xây dựng quân đội chính quy và hiện đại không thể tách rời công cuộc
xây dựng và củng cố hậu phương về mọi mặt vì hậu phương vững chắc là nhân tố quan trọng

cần Quân đội nói chung và hậu cần quân đội trong chiến tranh nói riêng. Đồng thời đây cũng là
một bộ phận trong chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy cao độ mọi nguồn


lực của cả dân tộc phục vụ sự nghiệp chiến đấu bảo vệ đất nước cũng như trong sự nghiệp xây
dựng đất nước nói chung.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh
thần tự lực, tự cường, cần, kiệm. Trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Người
đã rút ra kết luận : phải đem sức ta mà giải phóng cho ta. Sau này Người khẳng định: "Cố nhiên
sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ
người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không
xứng đáng được độc lập" [43,Tr.522].
Theo Hồ Chủ tịch, trong bất kỳ hoạt động, công tác nào cũng đều phải nêu cao tinh thần
tự lực, tự cường. Trong công tác hậu cần quân đội đặc biệt là trong điều kiện chiến tranh, chiến
trường ác liệt càng cần phải nêu cao và phát huy tinh thần đó. Thực tiễn điều kiện của đất nước,
của nhân dân ta khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp đặt ra những yêu cầu đó. Đất nước
vừa mới giành được độc lập, chính quyền còn non trẻ, hậu quả chiến tranh để lại nặng nề, đặc
biệt nền kinh tế - tài chính kiệt quệ, do đó đời sống của nhân dân cực kỳ khó khăn, trong khi đó
sự giúp đỡ, viện trợ của bạn bè quốc tế chưa có. Trong hoàn cảnh ấy, đòi hỏi chúng ta phải
phát huy tinh thần tự lực , tự cường để chiến đấu .Quân đội và hậu cần quân đội dĩ nhiên không
thể chỉ trông chờ vào kinh phí của Nhà nước và sự đóng góp của nhân dân.Hồ Chủ tịch chỉ rõ,
quân nhu và lương thực nếu cứ trông chờ cả vào nhân dân thì sẽ làm cho họ gánh vác nặng nề
không thể kham nổi. Do đó, hơn lúc nào hết, công tác bảo đảm hậu cần cho quân đội phải nêu
cao tinh thần tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn quyết tâm đánh giặc.
Theo Hồ Chủ tịch, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường phải gắn liền với cần, kiệm bởi vì
có cần, kiệm thì mới tự lực, tự cường được và ngược lại. Có như vậy mới cải thiện được đời sống bộ
đội và giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân.
Quan điểm cần, kiệm, tự lực, tự cường của Hồ Chủ tịch trở thành phương châm chỉ
đạo ngành Hậu cần Quân đội trong kháng chiến chống Pháp nói riêng và trong toàn bộ sự nghiệp
xây dựng ngành Hậu cần nói chung.

đảm hậu cần cho bộ đội, trước hết được giao việc quản lý mọi vật chất, trang bị và thực hiện
việc phân phát, bảo đảm tới từng đơn vị, chiến sỹ, phục vụ bộ đội. Do đó nếu để những hành
động tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi xảy ra thì người chiến sỹ sẽ thiếu thốn và ảnh hưởng
đến sức chiến đấu, tinh thần chiến đấu của họ. Hồ Chủ tịch coi những thứ bệnh trên là những
loại "cỏ dại" phá hoại mùa màng, nên muốn có vụ mùa bội thu thì phải tích cực tẩy trừ cỏ dại.
Về vấn đề tự lực, tự cường của công tác hậu cần quân đội trong chiến tranh, Hồ Chủ tịch
chỉ rõ: Các chú đã hiểu rõ kháng chiến nhất định thắng lợi, muốn thắng lợi thì phải trường kỳ,
muốn trường kỳ phải tự lực cánh sinh. Vì vậy, mặc dù quân đội ta, ngành Hậu cần Quân đội dựa
vào nhân dân, song không thể chỉ chờ sự đóng góp của nhân dân, ỷ lại vào nhân dân mà phải
nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, tự vươn lên, kể cả trong điều kiện có chiến tranh cũng vậy.
Theo Hồ Chủ tịch, tự lực, tự cường là một biện pháp hiệu quả để tạo lực, tạo nguồn hậu cần bảo
đảm cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng trong lúc điều kiện cung cấp của Nhà nước và nhân
dân có hạn. Theo Người, tự lực, tự cường trong Quân đội cũng "là một bộ phận trong chính sách
tự lực cánh sinh". Và để thực hiện tự lực, tự cường, Người dạy bộ đội phải tích cực tăng gia sản
xuất, phải thực hiện tự cấp tự túc bằng cách thiết thực tăng gia sản xuất. Mọi người, mọi đơn vị
"phải tranh thủ tăng gia để có thêm rau ăn. Dù nay đây mai đó cũng cần tăng gia. Mình không
ăn thì để cho đơn vị khác ăn, nhân dân ăn" [36]
Người còn chỉ rõ: "Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt, chăn nuôi để tự
túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Tuy công việc chuyên môn vẫn là chính
nhưng phải cố sức tăng gia" [42,Tr.512]. Người cũng yêu cầu hậu cần quân đội phải tự sản
xuất từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ đến hiện đại, từ một lĩnh vực đến nhiều lĩnh vực, như cố gắng
để sản xuất được một số thuốc phục vụ cứa chữa thương bệnh binh; sản xuất một số loại vũ
khí, phụ tùng thay thế, cải tiến vũ khí, khí tài trang bị phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết
cũng như tổ chức biên chế và cách đánh của Quân đội ta.
Để tạo thêm nguồn cho hậu cần, bổ sung lực lượng chiến đấu cho Quân đội trong
chiến tranh, trên chiến trường, Hồ Chủ tịch rất coi trọng vấn đề nguồn thu chiến lợi phẩm và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status