LUẬN án TIẾN sĩ VAI TRÒ của CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP xâm lược (1945 1954) - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nguyên nhân cơ bản, quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp là đường lối kháng chiến đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta. Đường lối ấy đã
góp phần làm cho cuộc chiến tranh nhân dân ở Việt Nam phát triển thắng lợi, mà “Có lẽ hiếm
có ở đâu, chiến tranh nhân dân trong thực tế lại đúng với tên gọi của nó như vậy, thực sự sâu
rộng trong nhân dân và thực sự vô địch như nhân dân”[26; 32]. Sự ra đời và thực hiện đường
lối kháng chiến của Đảng gắn liền với công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều tài liệu đã
nói đến vấn đề này song chưa đề cập một cách có hệ thống và toàn diện vai trò của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng.
Làm sáng tỏ điều này, chúng ta sẽ hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn công lao của Người với cách
mạng Việt Nam nói chung, với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói riêng, cũng như
về đường lối kháng chiến của Đảng.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định con
đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, đã khởi thảo đầu tiên đường lối cách mạng Việt Nam,
được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (ngày 3-2-1930), nhằm đấu tranh giải phóng dân
tộc, bảo vệ Tổ quốc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự nhất
quán, bước phát triển về nhận thức và hành động đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đối với công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Đồng thời, từ việc nghiên cứu trên rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết phục vụ
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp củng cố nền quốc phòng toàn dân và xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân hiện nay.
Đó là lý do chính mà chúng tôi chọn đề tài này để làm Luận án.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đây là một vấn đề lớn đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở các lĩnh
vực khác nhau của khoa học lịch sử. Những công trình này được công bố dưới nhiều hình
thức như: sách nghiên cứu, hồi ký, bài viết đăng trên các tạp chí, báo cáo hội thảo khoa học,
ở trong nước và nước ngoài. Có thể tổng hợp các tài liệu ấy thành những nhóm cơ bản sau:
Một là, những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, các hồi ký của
các nhà cách mạng lão thành, những người đã từng sống, hoạt động trong thời kỳ 1945 1954. Tiêu biểu là các cuốn: "Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc


Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật" của Nguyễn Ngọc Minh [83].v.v.. có nghiên cứu
hoạt động và những đóng góp của Người trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở một
số mặt, một số lĩnh vực. Các tác giả người nước ngoài như: E-Côbêlép [18], Hoàng
Tranh[54], L.A Patty [91], J.Lacutuya [57], J.Xanhtơni [135], Đ. Halberstam [45], v.v.. cũng
nghiên cứu sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu được vai trò của người trong sự nghiệp


giải quyết dân tộc. Một số công trình trên đã được dịch ra tiếng Việt góp phần làm phong phú
thêm nguồn tư liệu nghiên cứu về Hồ Chí Minh.
Bốn là, những bài học kinh nghiệm về Hồ Chí Minh được đăng trên các Tạp chí : Cộng
sản, Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử quân sự, Quốc phòng toàn dân, v.v.. các báo
cáo khoa học ở nhiều cuộc Hội thảo khoa học trong nước và quốc tế được tập hợp trong các
tập kỷ yếu, như cuộc Hội thảo nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Người, Hội thảo quốc tế
nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của người và gần đây nhất hội thảo khoa học: "Tư tưởng
Hồ Chí Minh về quân sự" do Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh cùng với Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX-02 tổ chức
vào tháng 12-1994, … đã góp phần quan trọng nghiên cứu sự nghiệp và tư tưởng của Hồ Chí
Minh.
Năm là, Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt kết quả
và bước đầu được công bố trên các sách, tạp chí, như: " Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh" từ tập 1 đến tập 3, [88]; "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng"[51];
"Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh"[94]; "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn
đề quốc tế"[64]; "Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế" [64]; "Nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật"[89]; "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh"[109], v.v.
Nhìn chung, công việc nghiên cứu sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nhiều cơ
quan, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm và đã đạt được kết quả đáng kể.
Điều đó tạo thuận lợi cho chúng tôi tìm thấy nhiều tư liệu quí, những gợi ý cần thiết cho nội
dung luận án. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu riêng về những
hoạt động của Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt việc

dân Pháp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; đồng thời mong muốn được sử dụng kết quả
nghiên cứu trong việc bồi dưỡng, đào tạo giáo dục trong các nhà trường, dùng làm tài liệu
tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội.
7. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài là những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, chủ yếu là những quan điểm về chính đảng của giai cấp vô sản, chiến
tranh nhân dân, về đường lối quân sự nói chung, về vai trò của lãnh tụ và quan hệ giữa lãnh
tụ và quần chúng; những quan điểm của Đảng ta về đánh giá công lao, sự nghiệp của Hồ Chí
Minh; quan điểm đổi mới của Đảng trong nghiên cứu khoa học "nhìn thẳng vào sự thật, đánh
giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".


Nguồn tư liệu để thực hiện luận án, trước hết là các Văn kiện của Đảng, Nhà nước; các
bài viết và nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các hồ sơ, biên bản, báo cáo của các ngành; các
công trình nghiên cứu về sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, về công cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp thời kỳ 1945 - 1954 có liên quan đến đề tài và nhiều tư liệu lưu trữ
đang được khai thác, cũng như hồi ký, lời kể của các nhân chứng lịch sử được thẩm tra, xác
minh.
Phương pháp nghiên cứu: là phương pháp của sử học nói chung, của khoa học lịch sử
quân sự nói riêng, được thể hiện ở việc sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương
pháp lôgíc, có phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp trong từng nội
dung cụ thể. Tác giả cũng sử dụng các phương pháp tiếp cận khác, như tiếp xúc trao đổi với
nhân chứng lịch sử, khảo sát thực địa. Thông qua việc trình bày có hệ thống các sự kiện lịch
sử theo chủ đề từng chương, tác giả phân tích đánh giá các sự kiện, từ đó rút ra những nhận
định khái quát thành kết luận từng Chương và Kết luận chung của Luận án.
8. Bố cục của Luận án
Luận án gồm 164 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, có 3 chương, 7 tiết, 12 trang tài
liệu tham khảo và 7 phụ lục.
Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐƯỜNG

lên, đánh Pháp, đuổi Nhật, làm cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, lật đổ ách
thống trị thực dân phong kiến, lập nên nhà nước dân chủ cộng hoà đầu tiên ở Đông Nam Á,
mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc, theo xu thế tiến lên
chủ nghĩa xã hội.
Thế nhưng, ngay khi chiến tranh thế giới kết thúc, nước Việt Nam vừa tuyên bố độc
lập, thực dân Pháp vẫn tìm cách trở lại thống trị Đông Dương. Chúng được các nước tư bản,
đế quốc đồng tình giúp đỡ. Bởi vì, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhà
nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á - việc cách mạng Việt Nam đi đầu trong phong trào
chống chủ nghĩa thực dân, làm cho bọn đế quốc, phản động quốc tế lo ngại. Tuy có những
mưu đồ riêng và mâu thuẫn với nhau, các thế lực đế quốc vẫn vào hùa với nhau chống phá
quyết liệt cách mạng Việt Nam.
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc phải
đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách.
Về chính trị, chính quyền cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu có uy tín to
lớn đối với nhân dân trong nước, nhưng còn non trẻ, chưa được củng cố. Bộ máy hành chính
từ Trung ương đến các địa phương mới xây dựng, chưa được hoàn chỉnh, hầu hết cán bộ
chưa có kinh nghiệm quản lý nhà nước. Lực lượng chính trị của quần chúng trong Mặt trận


dân tộc thống nhất rộng rãi tuy phát triển nhanh, nhưng chưa được củng cố vững chắc. Mặt
khác, Nhà nước Việt Nam mới chưa có sự công nhận quốc tế và hầu như bị tách biệt với thế
giới bên ngoài, chưa có quan hệ với Liên Xô và các lực lượng cách mạng quốc tế.
Cùng với những khó khăn trên, bọn phản động trong và ngoài nước hợp sức nhau chống
phá cách mạng. Vào lúc này, trên đất nước ta đã có mặt gần 30 vạn quân của Tưởng Giới
Thạch, Anh, ấn, Pháp và Nhật, cùng nhiều loại đảng phái phản động lăm le lật đổ chính phủ
Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Về quân sự, lực lượng vũ trang mới được xây dựng, phát triển lên từ những đội vũ trang
đánh du kích, chủ yếu là hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chính trị và khởi nghĩa giành chính
quyền. Số lượng bộ đội không nhiều, hầu hết xuất thân từ giai cấp nông dân, trang bị, huấn
luyện đều kém. Lúc này, ta chưa có một nền công nghiệp sản xuất vũ khí, chưa có một nền

mà tổng thống Ru-dơ-ven đã nêu, ủng hộ Pháp trở lại xâm lược thuộc địa cũ. Sự thay đổi thái
độ của Chính phủ Mỹ xuất phát từ quyền lợi ích kỷ của Mỹ, muốn lôi kéo Pháp để kiềm chế
các lực lượng cách mạng ở Tây Âu và các nơi khác. ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương, Chính
phủ Mỹ đã khước từ chủ trương của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ
Chí Minh mong muốn thiết lập quan hệ giữa hai nước.
Đế quốc Anh khi chiến tranh thế giới đang tiếp diễn đã chủ trương giao trả Đông
Dương cho Pháp. Bởi lẽ, nếu Đông Dương sau khi thoát khỏi sự lệ thuộc vào Nhật mà bị Mỹ
khống chế, thì cán cân so sánh lực lượng giữa Anh và Mỹ ở khu vực này sẽ bất lợi cho
Anh.Tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven đã nhận thấy điều này nên trong cuộc hội đàm với Sta-lin
ngày 28-1-1943 đã nói: "Sớc Sin không kiên quyết thực hiện đề nghị về chế độ bảo trợ và
ông ta sợ áp dụng nguyên tắc đó tại các thuộc địa của mình (48;9). Giúp Pháp chiếm lại
Đông Dương, Anh còn nhằm ngăn chặn phong trào giải quyết dân tộc ở các nước thuộc địa,
trong đó có các thuộc địa của Anh, và cũng để ép Pháp nhân nhượng mình ở Trung Cận
Đông và Châu Phi. Vì vậy, ngày 24-8-1945, Anh đã ký một thoả hiệp với Pháp về nguyên tắc
và cách thức khôi phục lại quyền lực của Pháp tại Đông Dương.
Chính phủ Trung Hoa dân quốc đã chuẩn bị kế hoạch "Hoa quân nhập Việt" để thôn
tính nước ta. Nhưng trong lúc này chính quyền Tưởng Giới Thạch đang chuẩn bị gây ra cuộc
nội chiến để tiêu diệt Đảng Cộng sản Việt Nam Trung Quốc và phong trào cách mạng ở nước
này, sau khi Mỹ và Liên Xô rút quân. Mặt khác, hiểu rõ "ý đồ trung lập" của Mỹ trong vấn đề
Đông Dương, ngày 24-8-1945 Tưởng Giới Thạch tuyên bố: "Trung Quốc không hề có tham
vọng lãnh thổ ở Việt Nam" [44, 75] và tỏ ý hoà hoãn với Pháp. Sự cam kết này mở đường
cho các cuộc thương lượng Pháp - Hoa về Đông Dương, được bắt đầu từ tháng 10 - 1945 và
đến tháng 2-1946 mới đi đến thoả hiệp cuối cùng.
Nước Pháp sau khi được giải phóng, do phải gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề,
lâm vào tình trạng rối ren về chính trị, suy yếu về kinh tế, quân sự và phải đối phó với phong
trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Đối với Đông Dương, Pháp vẫn ngoan cố chủ trương


lập lại một chính phủ liên bang Đông Dương gồm 5 xứ (Bắc kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao,
Cao Miên), do một đại diện Pháp đứng đầu với số bộ trưởng người bản xứ. Về thực chất,



Quá trình này được mở đầu từ năm 1911, với việc Hồ Chí Minh (Nguyễn Tất Thành,
Nguyễn ái Quốc) đi tìm con đường cứu nước mới. Vượt lên nhiều người yêu nước khác,
Nguyễn ái Quốc nhận thấy sự cách biệt, cô lập giữa các quốc gia là nguyên nhân đầu tiên gây
ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông nói chung và Đông Dương nói riêng. Do đó,
cuộc hành trình của Người qua các Châu lục, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân bị áp bức ở các
nước tư bản, đế quốc, thuộc địa; khảo nghiệm kinh nghiệm cách mạng một số nước trên thế
giới đã tạo cơ sở thực tế cho Người tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin. Người nhìn thấy: "Sự tàn
bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là
gieo hạt giống công cuộc giải phóng nữa thôi [78, 28] và rút ra kết luận rằng các dân tộc ở
phương Đông muốn giải phóng phải gắn bó mật thiết với giai cấp vô sản thế giới. Nghĩa là,
muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác hơn là con đường cách
mạng vô sản và chủ nghĩa Mác-Lênin là "cẩm nang thần kỳ" của dân tộc Việt Nam trong sự
nghiệp này.
"Đường cách mệnh"(1927), "Chính cương vắn tắt" và "Sách lược vắn tắt" (1930 do Hồ
Chí Minh khởi thảo đã xác định cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc ta nằm trong quỹ đạo
cách mạng vô sản, theo con đường cách mạng tháng Mười Nga "… phải dân chúng (công
nông) làm gốc, phải có đảng vững bền…, phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin" [74,
280]. Người chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội Cộng sản", nhằm đánh đuổi đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước
Nam được hoàn toàn độc lập. Như vậy, con đường cứu nước được Hồ Chí Minh lựa chọn
trước hết nhằm đạt đến mục tiêu: độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội. Đây là một nền độc lập
hoàn toàn và triệt để, một sự ấm no, hạnh phúc thực sự cho toàn dân.
Theo Hồ Chí Minh để giành được mục tiêu này, dân tộc Việt Nam phải bằng nỗ lực của
bản thân là chính, kết hợp vớ sự đoàn kết, giúp đỡ của các dân tộc bị áp bức và nhân dân tiến
bộ trên thế giới. Người nhìn thấy sức mạnh tiềm tàng và khả năng cách mạng to lớn của các
dân tộc bị áp bức, nếu họ được tổ chức lại, dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp vô
sản. Người vạch rõ, sự bóc lột vô nhân đạo và cuộc sống nghèo khổ sẽ thúc đẩy nhân dân
vùng lên làm cách mạng. Điều đó thể hiện tư duy sáng tạo của Hồ Chí Minh về tính chủ động

cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Luận cương nêu rõ: "Võ trang bạo động
không phải là một việc thường, chẳng những là theo tình thế trực tiếp cách mạng mà lại phải
theo khuôn phép nhà binh… Trong khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch
liệt tranh đấu, nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức những cuộc manh động
hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để huy động quảng đại quần chúng ra thị oai,
biểu tình, bãi công v.v… để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này"[114, 76-77].
Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 cũng ra án Nghị quyết về nghiên cứu nhiệm
vụ cần kíp của Đảng, vạch rõ, mục đích của Đảng là lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động.
Cho nên, "Điều cốt yếu trong công tác hàng ngày của Đảng là phải thu phục được quảng đại
quần chúng để làm cho cuộc bạo động tương lai được thắng lợi" [114, 86]. Hội nghị đề ra
một số nhiệm vụ cụ thể về xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng quân sự, và xác định


"ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức Bộ quân sự của Đảng để: 1. Làm cho đảng viên được
quân sự huấn luyện; 2. Giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ; 3. Vận động trong quân
đội của bọn địch nhân"[114,91].
Như vậy, ngay từ khi mới thành lập Đảng, lãnh đạo Nguyễn ái Quốc và Đảng ta đã rất
coi trọng việc đề ra đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng phù hợp đặc điểm tình
hình nước ta.Điểm nổi bật trong đường lối của Đảng về phương thức đấu tranh giành chính
quyền là thực hiện con đường cách mạng bạo lực nhất là khi kẻ thù sử dụng bạo lực phản
cách mạng chống lại. Bạo lực cách mạng phải bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng
vũ trang của quần chúng. Trên cơ sở giáo dục, tổ chức quần chúng đấu tranh chính trị, Đảng
chủ trương từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh dưới các hình thức
thích hợp với phong trào chung. Điều này thể hiện sự nhận thức của Đảng về con đường cách
mạng bạo lực là một quá trình, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh, ngày càng phong phú và
phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta. Tuy nhiên, tư duy chính trị của Đảng ta lúc bấy giờ
còn hạn chế ở chủ trương xây dựng bạo lực cách mạng chủ yếu dựa vào lực lượng của giai
cấp công nhân và giai cấp nông dân, chứ chưa phải là bạo lực mang tính chất quần chúng
rộng rãi như chủ trương của Đảng ở những năm sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Điều đó chứng rỏ rằng trong giai đoạn đầu sau khi Đảng mới ra đời, quan điểm về bạo lực

rút ra từ cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là Muốn đánh đổ kẻ thù lớn mạnh và giành thắng lợi,
lực lượng cách mạng không thể chỉ có công nông mà phải bao gồm hết thảy các giai cấp và
tầng lớp có tinh thần, khả năng chống đế quốc và phong kiến. Đó phải là lực lượng của toàn
dân.
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương bọn phản động
thuộc địa tiêu hết mọi quyền dân chủ giành được trong những năm 1936 - 1939. Chúng thực
hiện chính sách bóc lột và khủng bố tàn khốc. Mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương với đế
quốc Pháp trở nên gay gắt. Sau đó, tháng 9-1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Dương, nhân
dân ta phải chịu cảnh "một cổ hai tròng", mâu thuẫn giữa dân tộc và bọn đế quốc, phát xít
càng gay gắt, đòi hỏi phải giải quyết từng ngày, từng giờ. Vấn đề đánh đổ ách ngoại xâm,
giành chính quyền được trực tiếp đặt ra. Hội nghị Trung ương lần thứ VI của Đảng
quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và phương pháp đấu tranh của cách mạng Việt
Nam, tập trung mọi lực lượng cho mục tiêu giành độc lập dân tộc. Hội nghị chủ trương
"Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn
đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải
quyết" [115, 58]. Quan điểm này được tiếp tục khẳng định ở Hội nghị Trung ương lần thứ
VII (tháng 11-1940) và hoàn chỉnh tại hội nghị Trung ương lần thứ VIII (tháng 5-1941). Đây
chính là sự trở về với tư tưởng giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp độc lập dân tộc
với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh và là bước phát triển nhận thức của Đảng ta về
đường lối cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa nhỏ bé.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII đã giải quyết hàng loạt vấn đề quan trọng,
chuẩn bị trực tiếp cho việc khởi nghĩa giành chính quyền. Căn cứ vào sự phân tích chính xác
tình hình thế giới và trong nước. Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mặt, trên hết, chủ yếu


của cách mạng là giải phóng dân tộc. Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh: "Trong lúc này nếu
không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể
dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi
của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"[115, 196]. Nêu cao nhiệm vụ
giải phóng dân tộc, theo Đảng ta, không có nghĩa là bỏ nhiệm vụ cách mạng ruộng đất, cũng

Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp gây hấn ở Nam bộ, mở đầu cuộc chiến tranh chiến lược
nước ta lần thứ hai. Chiến sự lan rộng ở Nam bộ và cực Nam Trung bộ trong những tháng
cuối năm 1945 đầu năm 1946. Trước hình thành ấy Đảng và nhân dân ta kiên quyết kháng
chiến. Cả nước hướng về Nam bộ, sẵn sàng làm hết sức mình vì miền Nam thân yêu.


Ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Kháng chiến kiến
quốc" vạch rõ: "kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn
lửa đấu tranh vào chúng"[119,31], và xác định cuộc cách mạng nước ta vẫn là cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc. Bởi vì, cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, và nước ta chưa được
hoàn toàn độc lập. Khẩu hiệu đấu tranh vẫn là "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết".
Chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta lúc này là củng cố chính quyền,
chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản và cải thiện đời sống nhân dân, trong đó
nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền nhân dân. Đảng chủ trương thực hiện đồng thời
hai nhiệm vụ chiến lược: quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và ra sức xây
dựng chế độ mới. Bởi vì, xây dựng chế độ mới trước hết cũng nhằm phục vụ công cuộc
kháng chiến và nếu không giữ được độc lập thì cũng không thể xây dựng được đất nước. Hơn
nữa, cuộc kháng chiến được tiến hành trên mọi lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh
tế, văn hoá xã hội… trong đó xây dựng đất nước là một mặt trận quan trọng, góp phần to lớn
vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đó là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng nước ta trong
giai đoạn mới, giai đoạn nhân dân ta vừa giành được chính quyền, nhưng còn phải tiếp tục
chiến đấu bảo vệ chính quyền ấy.
Thực hiện chủ trương của Đảng, chính quyền cách mạng đã tổ chức phong trào quần
chúng tăng gia sản xuất, diệt giặc đói, diệt giặc dốt, tổ chức Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội,
mở rộng khối đoàn kết toàn dân; đồng thời tổ chức kháng chiến ở miền Nam và vận động cả
nước ủng hộ đồng bào Nam bộ kháng chiến. Có thể khẳng định rằng, những biện pháp mà
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà thực hiện lúc bấy giờ đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đời sống của nhân dân lao động, một trong những nhân tố
gắn bó nhân dân với cách mạng, với Đảng tạo nên sức mạnh to lớn của chiến tranh yêu nước
chống thực dân Pháp xâm lược. Vì vậy, khi Đảng tuyên bố "tự giải tán", thực chất là rút vào

thức. "Việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 thực sự là nước cờ "tài trí cơ mưu" của Hồ
Chí Minh [66]. Ta đã lợi dụng được mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng gạt nhanh quân Tưởng
và bè lũ tay sai của chúng, đồng thời tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng chuẩn bị cho
cuộc kháng chiến lâu dài.
Tuy vậy, quá trình thực hiện chủ trương "hòa để tiến" diễn ra phức tạp. Phía Pháp mỗi
ngày một lấn tới. Còn ta vẫn tìm mọi cách để tránh xung đột, hoặc ít nhất cũng trì hoãn,
không để chiến tranh lan rộng. Bất chấp hiểm nguy, ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
sang Pháp, cố gắng thương lượng với Chính phủ Pháp để ký một hiệp ước như đã dự tính.
Trong chuyến đi này, Người tìm hiểu sâu sắc hơn tình hình nước Pháp mà Người đã sống và
am hiểu hơn 20 năm trước. Điều đó giúp Người đề xuất với Đảng nhiều ý kiến, chủ trương
đối với Chính phủ và các tầng lớp nhân dân Pháp, đáp ứng kịp thời những nhiệm vụ cấp bách
được đề ra lúc bấy giờ. Cuộc đàm phán ở Phông - ten-nô-blô thất bại. Hồ Chí Minh tìm cách
cứu vãn tình hình bằng việc ký Tạm ước ngày 14-9-1946, nhượng bộ chúng thêm một bước
nữa, tạo điều kiện cho nhân dân trong nước có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng, đồng thời
tranh thủ sự đồng tình của nhân dân thế giới, của các tầng lớp nhân dân Pháp đối với sự


nghiệp chính nghĩa của ta. Nhiều trí thức Việt kiều đã tình nguyện theo Người về nước, hăng
hái tham gia và có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc của
dân tộc.
Mặc dù ta đã nhiều lần nhân nhượng, nhưng vẫn chưa đạt được một giải pháp cơ bản để
ngăn chặn chiến tranh bùng nổ. Những cuộc đàm phán giữa ta với Pháp có ý nghĩa nâng cao
uy tín nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế, vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân
Pháp, gây ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế
giới, giành thêm thời gian xây dựng lực lượng, chuẩn bị đầy đủ hơn cho cuộc kháng chiến.
Đánh giá sách lược hoà hoãn với kẻ thù của Đảng ta thời kỳ này, đồng chí Lê Duẩn đã viết:
"Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một
mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lênin nít về lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ
địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc"[22, 23].
Ngày 19-10-1946, Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng họp dưới sự chủ trì của Tổng

quân sự thế giới, chủ yếu là nội dung binh pháp Tôn Tử (12 bài), 1 bài về kinh nghiệm xây
dựng Hồng quân Liên Xô và có phần nào liên hệ với những tri thức quân sự hiện đại; nhóm
thứ hai, ngoài một bài nói về chiến lược quân sự ở vùng Bắc cực, còn lại 8 bài viết về những
vấn đề quân sự nóng hổi rút ra từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Phá của nhân dân ta đang
nổ ra ác liệt ở Nam bộ và Nam phần Trung bộ.
Vốn là người biên dịch "Phép dùng binh của ông Tôn Tử", Hồ Chí Minh nắm rất vững
nội dung cốt lõi của tư tưởng quân sự Tôn Tử, nên ngay lần đầu giới thiệu binh pháp của
ông, Người nhắc nhở "Ra sức nghiên cứu cho hiểu rõ nguyên tắc đó, và dùng nó trong công
tác chính trị, và quân sự của mình". [75, 513] trong cuộc đấu tranh vũ trang giành chính
quyền. Lần giới thiệu này, để đáp ứng kịp thời nhu cầu của cuộc kháng chiến, các bài viết
của Người tập trung giới thiệu những vấn đề vừa rất cơ bản của binh pháp cổ, vừa rất thiết
thực với nhu cầu tìm hiểu quân sự của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta.
Trong nhiều bài viết của mình, Hồ Chí Minh giải thích rõ và cụ thể tư tưởng chỉ đạo
kháng chiến, tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân và các lực lượng vũ trang cách đánh giặc
mà Đảng ta đã nêu ra. Người coi trọng những nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh:
"Có đủ ba điều kiện nhân hoà, địa lợi và thiên thời… Cuộc kháng chiến của dân tộc Việt
Nam nhất định sẽ thành công" [76,464]. Với những nội dung phong phú và thiết thực trong
loạt bài báo quân sự của Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy rõ tính đúng đắn, sáng tạo trong
đường lối kháng chiến của Đảng. Đó là đường lối duy nhất đúng cho một dân tộc nhỏ yếu
vùng lên chống lại một tên thực dân đế quốc mạnh hơn gấp nhiều lần. Đường lối đó "có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn lớn, phát hiện ra những đặc điểm và quy luật của chiến tranh nhân
dân Việt Nam, từ mục tiêu chính trị và động lực của chiến tranh đến các hình thái chiến
tranh, các phương thức tác chiến, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến" [132, 102].
Ngày 5-11-1946, Hồ Chí Minh viết "Công việc khẩn cấp bây giờ" xác định phương
hướng và nhiệm vụ chủ yếu của cuộc chiến tranh yêu nước. Người nêu rõ: "Kháng chiến và


Kiến quốc", "Hai việc đều phải có người, có nhiều người"; bao gồm: "người về quân sự",
"người về kinh tế", "người về chính trị", "người về giao thông"… Vì vậy Người nhấn mạnh,
muốn trường kỳ kháng chiến "ta phải có, và phải làm cho dân ta có Tín tâm và quyết

mới theo ba nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng [12,27].
Như vậy, với chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc", các tài liệu "Công việc khẩn cấp bây
giờ";"Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", "Toàn dân kháng chiến" và "Kháng chiến nhất
định thắng lợi",đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng đã hình thành về cơ
bản và từng bước phát huy tác dụng chỉ đạo cuộc đấu tranh thắng lợi.


Một cách tổng quát, nội dung đường lối kháng chiến của Đảng bao gồm các vấn đề cơ
bản sau đây: Phát động và tổ chức toàn dân kháng chiến; kháng chiến toàn diện trên tất cả
các mặt trận: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao; kháng chiến lâu dài, dựa vào
sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế. Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn
những nguyên lý cơ bản về chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin với truyền
thống, tinh hoa và nghệ thuật đánh giặc giữ nước của ông cha và kinh nghiệm đấu tranh quân
sự của một số nước trên thế giới, để giải quyết những vấn đề quân sự do thực tiễn cuộc chiến
tranh yêu nước của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ đặt ra.
Trước hết, Đảng xác định mục tiêu kháng chiến là: "đánh phản động thực dân Pháp xâm
lược; giành thống nhất và độc lập" [119,89] cho đất nước, giữ vững chính quyền nhân dân,
bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám. Mục đích ấy thể hiện tính chất chính
nghĩa, yêu nước, tiến bộ của cuộc kháng chiến; thể hiện sự kết hợp hài hoà và biện chứng
giữa giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; xác định mối quan hệ
giữa bảo vệ chủ quyền độc lập của ta với bảo vệ chế độ dân chủ mới, giữa nhiệm vụ dân tộc
với nghĩa vụ quốc tế.
Như vậy, mục đích chính trị của cuộc kháng chiến là bộ phận chủ yếu của mục tiêu
cách mạng mà Đảng đã đề ra từ ngày đầu thành lập. Nó đáp ứng nguyện vọng sâu xa và lợi
ích sống còn của dân tộc. Nó phù hợp qui luật phát triển của xã hội Việt Nam và thời đại
trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, vì dân chủ hoà bình và tiến bộ xã hội. Với những mục
đích chính đáng ấy, cuộc kháng chiến của nhân dân ta có sức thu hút, tập hợp toàn dân dưới
ngọn cờ đại nghĩa, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân loại tiến bộ, kể cả
nhân dân Pháp, góp phần làm cho cuộc kháng chiến thắng lợi to lớn. Mục đích chính trị ấy
được thể hiện trong những biện pháp, chủ trương cụ thể, có hiệu quả của cuộc kháng chiến

thống trị. Cho nên, muốn phát triển sức mạnh cuộc kháng chiến, làm cho địch lúng túng đối
phó về nhiều mặt, chúng ta không chỉ đấu tranh trên mặt trận quân sự và cả về kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội, ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, ở vùng tự do và vùng địch tạm
chiếm, ở nông thôn và cả thành thị. Ta tiến hành phá hoại để kháng chiến và đó là "một hình
thức chiến tranh đặc biệt của nước Việt Nam" [23, 7] chống Pháp, ta thực hiện tản cư cũng là
kháng chiến. Với chủ trương huy động toàn dân kháng chiến, dưới nhiều hình thức, mức độ
khác nhau, tuỳ theo hoàn cảnh, khả năng và sức lực của mỗi người, Đảng ta không bỏ sót, bỏ
phí một sức nào đứng ngoài cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung của dân tộc trên tất cả các
lĩnh vực.
Theo quan điểm của Đảng ta, mỗi mặt trận đấu tranh đều có vị trí quan trọng, nhưng
các mặt trận lại phải kết hợp chặt chẽ với nhau. Mỗi người dân Việt Nam phải là một chiến sĩ
đấu tranh chủ yếu trên một mặt trận: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá… trong thế trận
chung của cuộc chiến tranh nhân dân. Vì vậy, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta
vừa diệt giặc đói, vừa diệt giặc dốt, vừa diệt giặc ngoại xâm; vừa đánh địch ngoài mặt trận,
vừa thực hiện giảm tô, giảm tức, ban hành chính sách thuế nông nghiệp, tiến hành cải cách
ruộng đất ở hậu phương. Chúng ta cũng tiến hành có kết quả việc xoá nạn mù chữ, bổ túc văn
hoá, xây dựng đời sống mới, phát triển y tế và các mặt công tác xã hội khác. Thành tựu này
thể hiện chủ trương của Đảng về mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc. Kháng chiến
để bảo vệ công cuộc xây dựng chế độ mới, xã hội mới; mặt khác xây dựng đất nước vững
mạnh trong chiến tranh chính là góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến lâu dài đi đến thắng lợi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status