LUẬN văn THẠC sĩ CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH với VIỆC xây DỰNG KHỐI đoàn kết TOÀN dân TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP xâm lược (1945 1954) - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm về xây dựng khối ĐĐKTD của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nội
dung quan trọng trong hệ thống những luận điểm cách mạng của Người. Vận dụng
quan điểm đó vào tư tưởng cách mạng Việt Nam Đảng ta xác định: xây dựng khối
ĐĐKTD là vấn đề chiến lược trong đường lối cách mạng. Việc thực hiện xây dựng
khối ĐĐKTD qua các thời kỳ lịch sử đã được Đảng tổng kết là một bài học kinh
nghiệm, một nguồn gốc tạo nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Hiện nay quan
điểm về xây dựng khối ĐĐKTD của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được kế thừa và
phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ Đảng lãnh đạo toàn dân thực hiện
thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nội dung xây dựng khối ĐĐKTD trong
điều kiện mới đã có thêm những nhân tố mới, phản ánh đầy đủ, tập trung
nhất trong Văn kiện đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam:
"Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp thành phần
kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người
ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại
gia đình dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay ở nước ngoài. Phát huy sức
mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và
lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất, vì dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng
những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xóa bỏ mặc cảm,
định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần xây dựng tinh thần cởi
mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai"[12, tr.45].
Để cụ thể hóa chủ trương về xây dựng khối ĐĐKTD mà Đại hội Đảng IX xác
định, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ra Nghị quyết (số
23 NQ/TW, 12-3-2003) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hội nghị khẳng định: ĐĐKTD
là vấn đề chính trị hệ trọng, có quan hệ đến sự phát triển của đất nước, đến đời
sống chính trị, kinh tế, xã hội của các tầng lớp nhân dân, vừa có tính thời sự cấp
bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, cần phải được giải quyết một cách khách
quan khoa học.

dân tộc của Hùng Thắng, Nguyễn Thành (1985) Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội[55]. Về con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh của Trịnh Nhu - Vũ
Dương Ninh (1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội[51]. Sự hình thành về cơ bản
tư tưởng Hồ Chí Minh của Giáo sư Trần Văn Giàu (1997), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội[15]. Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam của
Võ Nguyên Giáp (chủ biên) (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội[14]. Sức mạnh
dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh của Lê
Mậu Hãn (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội[17]. Tư tưởng dân vận của Chủ
tịch Hồ Chí Minh của Ban Dân vận Trung ương (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội[2]; Hồ Chí Minh về tôn giáo và tín ngưỡng của Viện Nghiên cứu tôn giáo
(1996), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội[59]. Các công trình này đã nói về cuộc đời sự
nghiệp và những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng
Việt Nam, trong đó có tư tưởng ĐĐKTD nhưng mới chỉ dừng lại ở khía cạnh
chung nhất.
Ngoài ra một số chuyên luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã
được in ấn xuất bản trên các tạp chí: Cộng sản, Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lịch sử,
Lịch sử quân sự hoặc trong kỷ yếu của các cuộc hội thảo nhân dịp kỷ niệm ngày
sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Các luận án, luận văn chuyên ngành Lịch sử
Đảng... Tất cả các sách trên đều nói về tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội và giá trị của nó với giai đoạn hiện nay. Ở đó có đề cập đến tư
tưởng ĐĐKTD của Chủ tịch Hồ Chí Minh với từng thời kỳ lịch sử khác nhau.
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián
tiếp liên quan đến tư tưởng ĐĐKTD Hồ Chí Minh, nhưng chưa công trình nào


nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về tư tưởng và sự chỉ đạo xây dựng khối đoàn
kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược 1945-1954.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

giảng dạy môn học tư tưởng Hồ Chí Minh ở các nhà trường trong và ngoài quân
đội.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 5
tiết.


Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG KHỐI
ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC
DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
1.1. Các nhân tố hình thành quan điểm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển truyền thống đoàn kết của
dân tộc Việt Nam và những tinh hoa văn hoá thế giới
* Truyền thống đoàn kết dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, người dân Việt Nam vừa được
thừa hưởng sự ưu đãi của đất trời về thiên nhiên phong phú, vừa phải đối mặt với
những thử thách khắc nghiệt của thiên tai. Trong điều kiện đó, để tồn tại phát triển
những ưu thế của nền văn minh nông nghiệp, cộng đồng người Việt Nam phải
nương tựa vào nhau, đùm bọc và đoàn kết với nhau. Câu chuyện thần thoại Sơn
Tinh, Thủy Tinh được lưu truyền trong dân gian, phản ánh sức tàn phá ghê gớm
của thiên nhiên đối với cuộc sống con người và sự đoàn kết hợp lực sức người, sức
của để chống thiên tai. Hàng ngàn kilômét đê điều chạy dài theo các dòng sông,
cùng các công trình thủy nông lớn nhỏ khác, đó là sản phẩm cụ thể của trí tuệ, sức
lực mà bao thế hệ người Việt Nam gắn bó chung sức lao động mới tạo nên. Giáo
sư Nhật Bản Yohibata Tsuboi nhận xét: "Cùng một lúc, người Việt Nam phải gồng
mình lên để chống cả ba thiên tai lớn là lũ lụt, hạn hán và đủ loại côn trùng, sâu rầy
tàn phá"[58, tr.48].
Việt Nam ở vị trí địa lý chiến lược trong vùng Đông Nam châu Á, giàu tài

tai đe dọa và chống chiến tranh xâm lược của các thế lực ngoại bang. Từ trong
các cuộc đấu tranh trường kỳ đó, không biết từ bao giờ đã nảy sinh và định hình ý
thức tập thể, ý thức cộng đồng, hơn thế nữa là ý thức Việt Nam, được truyền từ thế
hệ này đến thế hệ khác, tạo thành truyền thống đoàn kết nhân nghĩa, trên nền tảng
của chủ nghĩa yêu nước. Ông cha ta đã nhắc nhở mọi thế hệ người Việt Nam phải
luôn thực hiện.
"Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"
Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, đạo lý sống nhân nghĩa vẹn toàn đã trở
thành tình cảm tự nhiên, thói quen của mỗi người dân Việt Nam.
" Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng"
Bằng kinh nghiệm xương máu, mồ hôi nước mắt của chính mình, nhân dân ta
đã khái quát thành phương châm sống, một triết lý nhân sinh quan mang đậm tính
khoa học.
" Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao"
Những phép ứng xử Nhà - Làng - Nước, sống với nhau có xóm dưới làng
trên, thái bình cùng nhau hưởng, hoạn nạn cùng nhau gánh vác, đã trở thành lẽ
thường tình trong mỗi người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho nghèo, yêu
nước ở Nghệ An, miền đất giàu truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa.
Người sớm có lòng yêu nước truyền thống, trải qua hoạt động thực tiễn phong phú
và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã kế thừa và nhân lên giá trị nhân bản
của truyền thống yêu nước, Hồ Chí Minh đã khái quát đánh giá về truyền thống
đoàn kết của nhân dân ta là: "Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì
tinh thần yêu nước ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to
lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp
nước"[47, tr.171]. Suy nghĩ, nghiên cứu lời tổng kết cô đọng và sâu sắc này, có thể
thấy Hồ Chí Minh đã thấu triệt đến mức nào giá trị của truyền thống đoàn kết dân

tiêu biểu, tư tưởng đoàn kết dân tộc của ông đã tập hợp, thức tỉnh, phát huy sức
mạnh của nhân dân ấn Độ thực hiện cuộc đấu tranh giành độc lập, tư tưởng đó có
ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều nước ở châu Á.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng tích cực trong việc tập hợp sức mạnh
các tầng lớp nhân dân của Tôn Trung Sơn, Gandhi và các nhà cách mạng khác
trong khu vực và trên thế giới một cách có chọn lọc, qua đó khắc phục những hạn
chế ở họ, để xây dựng khối đoàn kết toàn dân, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc.
Tiếp thu văn hóa phương Đông, nhất là giá trị nhân bản của Nho giáo, Phật
giáo, Hồ Chí Minh đã chắt lọc các yếu tố tích cực trong tư tưởng "đại đồng", quan
điểm nhân ái và luân lý yêu thương của Nho giáo, được cải biến và cách mạng
hóa trong quá trình xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Tư tưởng "Lục hòa" của
Phật giáo, thực chất đó là sáu phương pháp cư xử, nhằm tạo ra sự hòa hợp từ vật
chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm của chúng sinh, nhằm đạt tới mục đích
cao đẹp, đó là: thân hòa đồng trụ, ngôn hòa đồng hiệp, ý hòa đồng duyệt, giới hòa
đồng tu, kiến hòa đồng giải, lợi hòa đồng quân. Nghiên cứu "lục hòa" của đạo
Phật, Hồ Chí Minh đã hình thành những nguyên tắc, phương pháp đoàn kết hết
sức khoa học và dễ hiểu.


Sinh ra và lớn lên ở phương Đông, nhưng cuộc đời hoạt động của Hồ Chí
Minh có một thời gian dài ở phương Tây. Người đã tiếp thu những giá trị nhân
bản trong nền văn hóa phương Tây, nhất là những hạt nhân hợp lý về tư tưởng tự
do, bình đẳng, bác ái. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường ở quê hương,
khẩu hiệu "tự do, bình đẳng, bác ái" của đại cách mạng tư sản Pháp đã đến với
Người qua một số nhà hoạt động chính trị lúc đó. Giao lưu, tiếp cận với văn hóa
Phương Tây, có lẽ câu cách ngôn "đoàn kết là sức mạnh" của nước Pháp đã tác
động đến Người rất nhiều. Theo nhiều người "Tây học" cũ, thì đây là một câu cách
ngôn được viết lên bảng đen đầu tuần, tại các trường tiểu học do Pháp mở trong
thời gian thực dân Pháp cai trị Đông Dương. Phương Tây còn có những câu như
"đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết", "nếu cái việc mà mỗi người chúng ta không



mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới"[25,
tr.646].
Quần chúng nhân dân có vai trò đặt biệt quan trọng, vì đã chuyển hoá lý luận
cách mạng thành hiện thực cách mạng. Bởi lý luận cách mạng có vai trò quan
trọng với phong trào cách mạng, nhưng lý luận cách mạng tự bản thân nó không
thực hiện được sự cải tạo xã hội, lý luận không phải là lực lượng vật chất. "Lực
lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng
sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó xâm nhập vào quần chúng"[24, tr.580].
Quần chúng nhân dân không những là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực
tiếp sáng tạo ra mọi của cải xã hội, mà còn là người quyết định vận mệnh của
lịch sử, có sứ mạng phá cái cũ dựng nên cái mới. Lịch sử xã hội phát triển có
những lúc quanh co phức tạp, nhưng rồi lại ổn định theo một trật tự nhất định.
Sự ổn định đó là nhờ có hoạt động của quần chúng. Ăng ghen nói: Quần chúng
là những người đã đưa mọi việc trở lại nề nếp.
Cách mạng vô sản muốn thắng lợi,phải được sự ủng hộ của đông đảo quần
chúng nhân dân. Mác coi sự ủng hộ của lực lượng nông dân đông đảo đối với
phong trào vô sản là một bài đồng ca, ngược lại nếu không có bài đồng ca đó thì
cách mạng vô sản sẽ trở thành "một bài ai điếu".
Đến với lý luận Mác-Lênin, khi đọc "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con
đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam - con đường cách mạng vô
sản. Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí
Minh, Người đã gặp tư tưởng cách mạng của thời đại đó là chủ nghĩa Mác-Lênin.
Để thực hiện chiến lược "vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức
đoàn kết lại", Quốc tế cộng sản đã lập các tổ chức quốc tế khác nhau với tư cách
là các tổ chức quần chúng, hợp thành một trận tuyến cách mạng rộng lớn như:
Quốc tế thanh niên, Quốc tế nông dân, Quốc tế phụ nữ, Quốc tế cứu tế đỏ, Liên
đoàn chống đế quốc... Mô hình này được Quốc tế cộng sản triển khai và thực hiện

cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó mới chỉ là phương hướng, là con đường tất
yếu của cách mạng Việt Nam. Phương hướng đó muốn đi đến thắng lợi, những
người cách mạng và nhân dân Việt Nam phải vận dụng sáng tạo lý luận, vạch ra
chủ trương đường lối, biện pháp cách mạng phù hợp với từng thời kỳ, từng giai
đoạn lịch sử để giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Và
theo Hồ Chí Minh như thế mới là hiểu và thấm nhuần lý luận Mác-Lênin.
Hồ Chí Minh nắm vững bản chất nguyên lý mácxít về đoàn kết giai cấp vô
sản, về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng, về phương pháp tập
hợp lực lượng cách mạng để đánh đuổi đế quốc thực dân, về liên minh công nông
với các tầng lớp nhân dân lao động khác... Đồng thời để qui tụ muôn người về một
hướng, đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, cách
mạng chính quốc với cách mạng thuộc địa, vai trò của cách mạng thuộc địa nói
chung và cách mạng thuộc địa ở Đông Dương nói riêng. Hồ Chí Minh có rất nhiều
sáng tạo, vận dụng lý luận vào thực tiễn rất thiết thực và hiệu quả, phù hợp với xã
hội thuộc địa nửa phong kiến. Có thể nói rằng, quan điểm về xây dựng khối đoàn
kết toàn dân Hồ Chí Minh mang một sắc thái riêng nhưng nằm trong nguyên lý
chung và rất Việt Nam.
1.1.3. Thực tiễn cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam
* Thực tiễn cách mạng thế giới:
Quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã hành trình khảo sát tỷ mỉ,
toàn diện tình hình của nhiều nước tư bản chủ nghĩa và thuộc địa ở khắp các châu
lục. Những nhận thức quan trọng rút ra của Người từ vốn hiểu biết thực tiễn phong
phú về đời sống chính trị - xã hội quốc tế được biểu hiện: Thế giới dù hết sức đa
dạng, nhân loại dù vô cùng phong phú về các mặt, song suy cho đến cùng chỉ có
hai hạng người: bóc lột và bị bóc lột. Những người bị bóc lột, muốn thoát khỏi nô


lệ lầm than, chỉ còn cách duy nhất là đoàn kết, liên hiệp lại đánh đổ giai cấp bóc lột
mình.
Từ thực tiễn hoạt động của mình, Người nhận định tiềm năng cách mạng của

cả một dân tộc quyết không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ.
Khảo nghiệm từ thực tiễn lịch sử, phong trào Cần Vương thuộc hệ tư tưởng
phong kiến cuối thế kỷ XIX, đến phong trào Đông Du, Duy Tân theo xu hướng tư
sản đầu thế kỷ XX, các bậc anh hùng nghĩa hiệp, với lòng quả cảm yêu nước có
thừa, nhưng đều thất bại chua xót. Chính Phan Bội Châu đã tự tổng kết cuộc đời
"một trăm thất bại không một thành công". Cụ Phan Chu Trinh tự ví mình như con
ngựa đã già, như hoa sắp tàn, nhưng vẫn còn "hiềm vì quốc phá gia vong".


Thực tiễn hào hùng bi thương của các phong trào yêu nước chống thực dân
Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho ta thấy rằng: lòng yêu nước,
chí căm thù quân xâm lược của nhân dân ta đời nào cũng có. Sức mạnh đoàn kết
đánh giặc luôn thường trực tiềm ẩn trong mỗi gia đình, mỗi con người, mỗi dòng
họ, mỗi xóm làng Việt Nam. Nhưng không phải khả năng tiềm ẩn đó lúc nào cũng
được nhân lên và phát huy tác dụng. Những thất bại của các phong trào đó cho
thấy: trong thời đại ngày nay, chỉ có thể đánh bại được các thế lực thực dân đế
quốc xâm lược, khi cả một dân tộc biết đoàn kết chặt chẽ, tự giác, có tổ chức muôn
người như một. Bi kịch của xã hội Việt Nam lúc đó là thiếu một đường lối cách
mạng đúng đắn, mà nguyên nhân chính là thiếu một giai cấp tiên tiến lãnh đạo, một
lãnh tụ kiệt xuất đủ sức quy tụ mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng khối ĐĐKTD,
đánh đuổi kẻ thù giành độc lập dân tộc.Thực tiễn này là một cơ sở quan trọng để
Hồ Chí Minh có quan điểm xây dựng khối ĐĐKTD một cách đúng đắn.
Trong các nhân tố hình thành quan điểm xây dựng khối đại đoàn kết của Hồ
Chí Minh, sẽ là không đủ nếu không đề cập tới nhân tố chủ quan, chủ nghĩa nhân
văn và đạo đức trong sáng Hồ Chí Minh. Chính nhân tố này đã góp phần quan
trọng vào việc tập hợp, lôi cuốn hàng triệu con người đoàn kết xung quanh Người.
Xét dưới góc độ đạo đức, nhân cách, quan điểm đại đoàn kết Hồ Chí Minh
mang đậm lòng nhân ái, bao dung, đức tin mãnh liệt. Người không chỉ kêu gọi, vận
động nhân dân đoàn kết, mà còn cảm hoá, cuốn hút nhân dân bằng tấm lòng "trung
với nước, hiếu với dân" bằng việc: tôi hy sinh cả đời tôi cho dân tộc tôi, bằng cuộc

1.2.1. Sức mạnh cuộc kháng chiến là sức mạnh của toàn dân
Khi bàn về phạm trù nhân dân, Lênin nói: "Khi dùng danh từ nhân dân, Mác
không thông qua danh từ ấy xóa mờ mất sự khác biệt về giai cấp; Mác đã gộp danh
từ ấy những thành phần nhất định có khả năng làm cách mạng đến cùng"[23,
tr.159].
Phạm trù nhân dân thường được giới hạn trong phạm vi mối quan hệ giai cấp,
giữa giai cấp vô sản với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị áp bức bóc lột trên
toàn thế giới. Vận dụng quan niệm nhân dân của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực
tiễn xã hội Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, kế thừa giá trị truyền
thống tốt đẹp của cha ông ta quan niệm về nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan
niệm nhân dân, toàn dân là mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt già trẻ,
gái trai, giàu nghèo, đẳng cấp, tôn giáo, dân tộc... trong đó công nông chiếm tuyệt
đại đa số.
Quan niệm về nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được biểu hiện:
Trước hết, Hồ Chí Minh quan niệm nhân dân là những người yêu nước, nếu
họ được tổ chức, giáo dục, rèn luyện tốt thì sẽ tạo thành sức mạnh to lớn mà không
thực dân đế quốc nào thắng nổi.
Hai là, họ gồm lực lượng đông đảo của cách mạng thuộc tất cả các tầng lớp,
các thế hệ già, trẻ, gái, trai, các tổ chức đoàn thể xã hội, các dân tộc, các tôn giáo,
giai cấp, miền xuôi hay miền ngược, trong Nam hay ngoài Bắc, kiều bào ta ở nước
ngoài.
Ba là, họ có chung một cộng đồng, quốc gia lãnh thổ, có cùng cội nguồn tổ
tiên là "con Lạc cháu Hồng", sinh ra "cùng một bọc", là anh em ruột thịt đều là
người Việt Nam từ ngàn đời nay, sống chết có nhau, sướng khổ có nhau, "no đói
giúp nhau".
Như vậy, quan niệm nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm toàn dân,
các giai cấp, các dân tộc, mọi tầng lớp xã hội (trừ bọn việt gian tay sai) họ có lòng
yêu nước chống đế quốc phản động "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già,
người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc".
Vai trò của nhân dân đối với cách mạng được Hồ Chí Minh chỉ ra ngay từ tác

thì phải có ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa, trong mối quan hệ của ba yếu tố
đó, xếp thứ tự, thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, địa lợi không quan trọng
bằng nhân hòa. Theo Hồ Chí Minh, nhân hòa tức là thu phục lòng người, tất cả mọi
người đều đồng tâm hiệp lực, nghĩa là đoàn kết thống nhất. Vậy trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng phải tuyên truyền, giáo dục trong toàn
dân vì sao phải kháng chiến, kháng chiến như thế nào... để thu phục lòng dân đoàn
kết lại, và sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân đó là sức mạnh của cuộc kháng
chiến đánh đuổi đế quốc thực dân giành độc lập cho dân tộc.
Như vậy, từ thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, qua tổng kết kinh
nghiệm của cha ông, kinh nghiệm cách mạng thế giới về vai trò sức mạnh của nhân
dân, thấm nhuần lý luận Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, Hồ Chí
Minh đã có một quan niệm về nhân dân, vai trò của nhân dân một cách đầy đủ, sâu
sắc. Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta,
Hồ Chí Minh chỉ rõ: Sức mạnh của cuộc kháng chiến là sức mạnh của toàn dân,
nhân dân phải là cội nguồn, động lực sức mạnh của cuộc kháng chiến.


Lý luận mác xít khi bàn về chiến tranh và quân đội cũng chỉ ra rằng: chiến
tranh là sự kế tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực. Nhưng kết cục của chiến tranh
sẽ tuân theo quy luật mạnh được yếu thua (quan niệm mạnh - yếu xét theo nghĩa
rộng). Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam giành thắng lợi không được
bao lâu, theo sự thỏa thuận, nhân nhượng của chủ nghĩa đế quốc, thực dân Pháp trở
lại xâm lược nước ta một lần nữa. Chúng dùng thủ đoạn bạo lực tấn công quân sự,
thông qua quân đội nhà nghề có vũ khí trang bị hiện đại để tạo ra sức mạnh, thực
hiện quy luật mạnh được yếu thua, đánh nhanh thắng nhanh, xâm lược toàn bộ Việt
Nam bắt nhân dân ta phải đầu hàng khuất phục. Nhưng thực dân Pháp đã nhầm!
Lòng yêu nước của toàn dân Việt Nam hợp lại, kết thành khối đại đoàn kết dưới sự
lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch sẽ tạo ra sức mạnh không gì chống lại nổi.
Ngay đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, dưới sự giúp sức của
quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta

liên hiệp quốc dân" mà cổ động kháng chiến, phải tự cấp, tự túc về mọi mặt.
Như vậy, ngay trong hàng ngũ kẻ thù là thực dân Pháp nói chung, Đảng ta
cũng chỉ ra là đánh phản động thực dân Pháp xâm lược chứ không phải toàn bộ
thực dân pháp. Chỉ thị "toàn dân kháng chiến" có giá trị như một cương lĩnh kháng
chiến của Đảng. Những vấn đề chiến lược của kháng chiến để thống nhất toàn dân
thành một khối sớm được thể hiện như: mục đích, tính chất... của kháng chiến. Chỉ
thị không những đã kịp thời định hướng cho cách mạng, mà còn tỏ rõ bản lĩnh sáng
tạo, linh hoạt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh biết tranh thủ những lực lượng
cần tranh thủ, lôi kéo mọi giai tầng trong xã hội, các dân tộc trong đại gia đình Việt
Nam cùng chung sức cứu nước.


Luận điểm toàn dân kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có
một quá trình phát triển, bổ sung, hoàn thiện từ chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc"
ngày 25 tháng 11 năm 1945, đến "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" ngày 19
tháng 12 năm 1946 rồi đến chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" ngày 22 tháng 12 năm
1946. Qua thực tiễn những ngày đầu của cuộc chiến đấu, từ tháng 3 năm 1947,
đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng đã viết một loạt bài làm sáng tỏ
thêm đường lối kháng chiến; những bài này sau được xuất bản thành tác phẩm
"kháng chiến nhất định thắng lợi". Đường lối kháng chiến toàn dân đã thể hiện rõ
quan điểm cơ bản: sự nghiệp cách mạng là của toàn dân, bao nhiêu lực lượng, sức
mạnh là ở nơi dân; kháng chiến muốn đi đến thắng lợi phải phát động toàn dân
tham gia, lấy sức dân, của dân đánh đuổi đế quốc thực dân, giành độc lập thống
nhất đất nước, mang lại hạnh phúc cho dân.
Sức mạnh cuộc kháng chiến là sức mạnh của toàn dân được thể hiện ngay từ
những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, qua cuộc chiến đấu của nhân dân ta nổ ra
ở Thủ đô Hà Nội, các thành phố, thị xã: Nam Định, Hải Dương, Vinh, Huế, Đà
Nẵng... Toàn dân đoàn kết đánh lại thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Hồ Chủ tịch; với nhiều cách đánh sáng tạo và linh hoạt, đã làm cho địch
thiệt hại nhiều về người và phương tiện chiến tranh. Tại Hội nghị Trung ương

Tưởng tham gia nhằm phá âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, giáo dục cảm
hoá những người lầm đường theo địch... Quan điểm mở rộng khối ĐĐKTD của Hồ
Chí Minh đã được thực hiện triệt để, đáp ứng đòi hỏi thực tiễn đặt ra, qua đó đập


tan được âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù, hạn chế đến mức tối đa kế hoạch đòi
giải tán Chính phủ của bọn tay sai phản cách mạng.
Sự phát triển và mở rộng khối ĐĐKTD một lần nữa được đánh dấu với mốc
HLHQDVN ra đời ngày 29.5.1946 gọi tắt là HLV. Sự ra đời của HLV đã kịp thời
bổ sung những tồn tại của MTVM. Sáng kiến này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
làm cho khối ĐĐKTD ngày càng được mở rộng, thu hút mọi tầng lớp xã hội, nhất
là những bộ phận mà trước đây họ luôn có "thành kiến" với MTVM. HLV ra đời,
đây là một sự kiện quan trọng của khối ĐĐKTD mở rộng MTDTTN của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Hội trưởng là nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, hội phó là nhà cách
mạng nổi tiếng Tôn Đức Thắng, Chủ Tịch Hồ Chí Minh được cử làm Hội trưởng
danh dự. Hội ra đời có mục đích là: Đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước, các
đồng bào yêu nước vô đảng, vô phái, không phân biệt giai cấp tôn giáo, xu hướng
chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam: Độc lập - thống nhất - dân chủ phú cường. Trong chương trình của HLV ghi rõ: “Trước hết HLV quốc dân Việt
Nam không phải là mặt trận riêng của các đảng phái yêu nước, chẳng hạn như Việt
Minh. Nó là một khối đoàn kết các đảng phái và các tầng lớp nhân dân không
thuộc đảng phái nào nhưng cùng chung một mục đích cứu nước. Là mặt trận
của toàn dân, HLV quốc dân Việt Nam không những chủ trương làm cho dân tộc Việt
Nam được tự do giải phóng, mà còn tranh đấu cho lãnh thổ Việt Nam được toàn vẹn,
nước Việt Nam mau chiếm được địa vị phú cường"[11, tr.69, 70].
Trước yêu cầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đòi hỏi tiếp
tục củng cố, mở rộng khối ĐĐKTD. MTVM sát nhập với HLV thành MTLV ra đời
là một nấc thang mới đánh dấu sự phát triển, mở rộng có hiệu quả của khối
ĐĐKTD. Như vậy, quan điểm mở rộng khối ĐĐKTD của Chủ tịch Hồ Chí Minh
được thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với thực tiễn của cách mạng.
Mở rộng khối ĐĐKTD phải trên cở sở liên minh công nông dưới sự lãnh đạo

Để tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh cùng Trung ương Đảng ta xác định phải tập hợp đoàn kết toàn dân vững
chắc, trong khối đoàn kết đó lấy liên minh công nông làm nòng cốt, do giai cấp
công nhân lãnh đạo. Thực tiễn cách mạng cho thấy nếu xa rời quan điểm này thì
khối đoàn kết toàn dân chỉ là một tổ chức, liên kết chia sẻ lợi quyền lẫn nhau,
không thống nhất trên dưới, và sớm muộn sẽ bị kẻ thù lợi dụng phái hoại dẫn đến
tan vỡ. Ngược lại khối liên minh công nông được củng cố vững chắc càng làm cở
sở, điều kiện để mở rộng khối đoàn kết toàn dân, quy tụ được nhiều người, nhiều tổ
chức, cá nhân tham gia ủng hộ cáchmạng.
Trong thư gửi Hội nghị nông dân cứu quốc tháng 3.1951 Hồ Chí Minh viết:
Đa số dân ta là nông dân. Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau
thắng lợi. Nông dân đoàn kết liên minh với công nhân, và các tầng lớp nhân dân
khác, do giai cấp công nhân lãnh đạo, vì chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì
nông dân mới được giải phóng, thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công
nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi. Cho nên giai cấp công nhân ắt phải
chăm chú đến vấn đề nông dân, phải củng cố công nông liên minh. Mở rộng khối
ĐĐKTD trên nền tảng liên minh công nông làm nòng cốt bởi ngoài tính chất cách
mạng triệt để, hai giai cấp này còn có lực lượng đông đảo bổ sung vào khối đoàn
kết toàn dân ngày càng vững mạnh. Thực tế trong kháng chiến quân đội nhân dân
được xây dựng toàn diện, rộng khắp và ngày càng lớn mạnh với ba thứ quân: bộ
đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ là do quân đội từ nhân dân mà ra,
những người nông dân mặc áo lính, những người công nhân mặc áo lính. Nông
dân và công nhân họ là lực lượng chủ yếu trong sản xuất kiến quốc phục vụ kháng
chiến. Họ là nguồn bổ sung vô tận vào khối đoàn kết toàn dân, vào cuộc chiến
tranh nhân dân ở khắp mọi nơi, cả tiền tuyến lẫn hậu phương, cả vùng sau lưng
địch lẫn vùng tự do. Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, và đông
đảo các tầng lớp nhân dân lao động khác, đó là cơ sở để xây dựng chính quyền
các cấp vững mạnh. Nông dân vừa là người tham gia bảo vệ chính quyền, che dấu,
nuôi dưỡng cho cán bộ hoạt động cách mạng vừa là người bổ sung cán bộ cho đội
ngũ chính quyền các cấp. Họ làm nòng cốt cho xây dựng mặt trận và công tác mặt

cuộc kháng chiến là Đảng phải có đường lối kháng chiến đúng. Toàn bộ đường lối
kháng chiến được tập trung trong các văn kiện: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
ngày 19.12.1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ thị "toàn dân kháng chiến" ngày
22.12.1946 của Thường vụ Trung ương Đảng, tác phẩm "Kháng chiến nhất định
thắng lợi" được xuất bản vào tháng 9.1947 của đồng chí Trường Chinh.
Đường lối đó thể hiện: mục đích của kháng chiến là chống thực dân Pháp xâm
lược, giành độc lập và thống nhất cho đất nước.
Phương châm là: Kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện, kháng chiến
trường kỳ và tự lực cánh sinh.
Khối ĐĐKTD hướng vào nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc được thể hiện rõ
nhất trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch là: “Bất kỳ đàn ông,
đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là
người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng


dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng gậy
gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước".[35, tr.480]
Lời kêu gọi này đã thể hiện thấm đượm tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn
dân đánh giặc bằng mọi phương tiện sẵn có của mỗi người dân, làm thấu động
đến tâm can sâu xa, ý thức cao đẹp nhất của mỗi con người Việt Nam, kiên cường
đứng lên cùng đồng tâm hiệp lực muôn người như một, đoàn kết chiến đấu với một
ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, kiên quyết đưa kháng chiến kiến quốc đến
đích cuối cùng giành độc lập cho dân tộc.
Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, chiến tranh nhân dân, do đó tính
chất sáng tạo của nhân dân rất đa dạng, phong phú, kẻ thù đi đến đâu cũng gặp
phải thế trận chiến tranh nhân dân. Sáng kiến đánh giặc của nhân dân ta muôn
màu muôn vẻ: đánh du kích, đánh chính quy, đánh bằng súng đạn có trong tay, có
khi tay không cũng lấy đồn diệt giặc; đánh bằng ý chí, bằng mưu mẹo của mình,
huy động cả những vật vô tri vô giác như cỏ cây, ong, kiến, tiến công kẻ thù,
những hầm chông, bẫy chông tự tạo, những cánh cửa, góc nhà gài sẵn mìn gây nỗi

nông. Đó là các lực lượng vũ trang nhân dân trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương,
xóm làng. Đó là các đội thanh niên xung phong, dân công phục vụ kháng chiến,
các đội biệt động, đội binh vận, đội công tác, đội phá hoại, đội tuyên truyền xung
phong... các tổ chức "hũ gạo kháng chiến", "tham gia quỹ kháng chiến" hội "mùa
đông chiến sĩ" và hội "mẹ chiến sĩ". Lực lượng đoàn kết toàn dân đó ở khắp mọi
nơi, từ tuyền tuyến về hậu phương, từ nhà máy đến công trường, từ thành thị về
nông thôn, tới trung du miền núi trong các bệnh viện, trường học, ngoài đồng
ruộng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, cả dân tộc Việt Nam vào trận
thà chết tự do còn hơn sống nô lệ. Nhân dân đi tản cư cũng là kháng chiến, đi học
bình dân để biết chữ cũng là kháng chiến, làm công tác phá hoại ngăn cản quân
địch cũng là kháng chiến. Hồ Chí Minh nói: Một nhát cuốc của đồng bào cũng
như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch, và ruộng rẫy là chiến trường,
cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương.
Đảng xây dựng khối ĐĐKTD hướng vào nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc
bằng cách tổ chức phong trào thi đua ái quốc một cách toàn diện, rộng khắp, người
người thi đua, ngành ngành thi đua, ngày ngày thi đua để ta nhất định thắng, địch
nhất định thua. sĩ, nông, công, thương, binh, gái, trai, già, trẻ, toàn thể quốc dân ta,
vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì phải ra sức tham gia cuộc thi đua yêu nước.
Mỗi người dân Việt Nam bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo; lớn, nhỏ đều
cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị,
văn hoá và làm sao để: ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc.
Nếu làm được như vậy thì phong trào sôi nổi, thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng
khắp mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm
mưu phá hoại của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng. Vì thi đua giúp cho đoàn kết
chặt chẽ thêm và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi. Giới trí thức cũng phải thi đua
với mọi người chiến sĩ trên mặt trận đánh quân thù, người trí thức cũng phải đem
tài lực của mình hiến kế cho đất nước, phục vụ kiến quốc. Ngòi bút của các
bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em
văn hóa và trí thức phải làm cũng như những chiến sĩ anh dũng trong cuộc kháng
chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Nhân dịp triển lãm

chủ lực của mình trong việc phát triển nông nghiệp bảo vệ hậu phương tích cực
tăng gia sản xuất. Họ sẵn sàng động viên, tiễn đưa hàng vạn con em của mình ra
tiền tuyến, bỏ ra hàng trăm nghìn ngày công để đào mương tát nước chống hạn,
đắp đê phòng lụt, tích cực cải tiến kỹ thuật canh tác, khai hoang phục hóa thâm
canh gối vụ. Họ vừa sản xuất vừa trực tiếp đánh lại địch. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, chính quyền các cấp, mặc dù bị chiến tranh tàn phá, nhưng những cánh đồng
lúa vẫn trải dài màu xanh, vụ ngô, sắn, khoai, đậu, đỗ, giành bội thu, diện tích canh
tác luôn được mở rộng. Nhờ đó bộ đội ta mới có lương thực, thực phẩm để "ăn no
đánh thắng". Những chiến sĩ ở ngoài mặt trận khi được tin quê hương, làng xóm
thay đổi, đời sống ấm no, đó là nguồn động viên cổ vũ họ rất lớn, tích cực hăng hái
chiến đấu, nắm chắc tay súng tiêu diệt quân thù.
Thực hiện khẩu hiệu "kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến"
Đảng lãnh đạo toàn dân chống nạn dốt, đó là một thứ giặc cũng quan trọng không
kém gì giặc ngoại xâm. Bởi "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Xóa bỏ nền văn
hóa ngu dân, văn hóa xâm lược thống trị của thực dân Pháp, xây dựng một nền
giáo dục dân chủ nhân dân, nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. Đến đầu
năm 1952, nạn mù chữ ở vùng hậu phương kháng chiến đã cơ bản được thanh
toán, với hơn 10 triệu người biết đọc biết viết. Phát triển hệ thống giáo dục, đưa
tiếng mẹ đẻ vào giảng dạy, học tập ở tất cả các trường, phương châm học mới là:
thiết thực và kịp thời phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất. Và
làm sao thực hiện "vừa làm vừa học, học ngay trong sản xuất, công tác". Từ đó
nền giáo dục đã đáp ứng được về cơ bản nhu cầu nâng cao dân trí cho toàn dân
trong kháng chiến kiến quốc. Chiến dịch biên giới 1950 thắng lợi, ta có điều kiện
quan hệ với các nước, và hàng nghìn cán bộ, học sinh tốt nghiệp phổ thông trung
học, hoặc có trình độ cao hơn, được Đảng và Chính phủ gửi đi học ở nước ngoài,
chủ yếu về khoa học kỹ thuật để chuẩn bị cho việc kiến thiết đất nước sau chiến
tranh.
Thực hiện văn hóa nghệ thuật phải phục vụ kháng chiến, phục vụ con người.
Hàng loạt các văn nghệ sĩ vào quân đội đi chiến trường vừa chiến đấu, vừa bám
sát thực tiễn để sáng tác, phục vụ kháng chiến, phục vụ bộ đội. Có thể nói, thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status