LUẬN văn THẠC sĩ tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về bạo lực CÁCH MẠNG TRONG đấu TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 1945) - Pdf 38

3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong 3 thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam ở thế kỷ XX,
được Đại hội IX của Đảng tổng kết và đánh giá, là thắng lợi cách mạng
tháng Tám năm 1945. Thắng lợi cách mạng Tháng Tám, đánh dấu sự sụp
đổ hoàn toàn thành trì hàng nghìn năm của chế độ phong kiến và 87 năm
cai trị của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ ở Việt Nam, dẫn đến việc ra đời
Nhà nước kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Từ đây mở ra một kỷ
nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, làm cơ sở cho những thắng lợi của
nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trong quá
trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ngày
nay. Để có thắng lợi hết sức quan trọng này, không phải là điều “ngẫu
nhiên”, “may mắn”, như quan niệm của một số học giả tư sản, hay một số
người muốn phủ nhận lịch sử. Ngược lại, đó là kết quả của sự phát triển
từ thấp tới cao của những điều kiện chủ quan và khách quan, điều kiện
trong nước và thế giới diễn ra trong một thời điểm lịch sử chín muồi.
Trong đó, phải nói đến sự đóng góp to lớn của Tư tưởng Hồ Chí Minh về
bạo lực cách mạng, được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong thực tiễn cách
mạng Việt Nam từ 1930 đến năm 1945.
Thực tế lịch sử cho thấy, trong hoàn cảnh đất nước bị dày xéo bởi
chủ nghĩa đế quốc, sự cai trị của chế độ thực dân phong kiến, các tầng lớp
nhân dân lao động bị bóc lột đến tận xương, tuỷ. Dân tộc ta sẽ thoát ra
khỏi hoàn cảnh lịch sử khó khăn ấy bằng con đường nào? Từ bằng chứng
“bản yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam”, từ kinh nghiệm đấu tranh
của dân tộc mình và nhiều dân tộc khác trên thế giới, Hồ Chí Minh không
ảo tưởng vào lòng nhân ái của bọn đế quốc thực dân, độc lập dân tộc


4
không thể cầu xin được, giai cấp phản động không bao giờ tự rời bỏ vị trí

quan. Tuy nhiên, chưa có công trình chuyên khảo nào bàn về Tư tưởng bạo lực
cách mạng của Hồ Chí Minh trong đấu tranh giành chính quyền. Hiện nay, có
một số công trình nghiên cứu liên quan đến tư tưởng bạo lực cách mạng Hồ Chí
Minh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước như: tác phẩm “Những chặng
đường lịch sử”, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001; “Chủ tịch Hồ Chí Minh và những vấn đề quân sự Việt Nam”, của
đồng chí Trường Chinh, Nxb Quân đội nhân dân, 1971; “Chủ tịch Hồ Chí Minh
- lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta”, của đồng chí Lê Duẩn, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1986; “Chủ tịch Hồ Chí Minh - một con người, một dân tộc, một thời
đại, một sự nghiệp”, của đồng chí Phạm Văn Đồng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990.
Đó là những tác phẩm của những nhân chứng lịch sử từng tham gia hoạt động,
chỉ đạo phong trào cách mạng ở giai đoạn (1930-1945). Những tác phẩm trên đã
đánh giá sâu sắc, trung thực về sự cống hiến lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đối với sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền ở nước ta. Song do chủ yếu
nghiên cứu những vấn đề lớn và trên phạm vi rộng, nên chưa tập trung vào tư
tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này.
Bên cạnh đó, một số nhà khoa học cũng đã đề cập đến các vấn đề
liên quan đến tư tưởng bạo lực cách mạng Hồ Chí Minh trong giai đoạn
đấu tranh giành chính quyền như: tác phẩm: “Chủ tịch Hồ Chí Minh người
chiến sĩ kiên cường của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế”, của tác giả Đặng Xuân Kỳ, Nxb Thông tin lý
luận, Hà Nội, 1990; tác phẩm “Nghệ thuật đấu tranh vũ trang trong cách
mạng Tháng Tám”, của tác giả Nguyễn Anh Dũng, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1989; “Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải
phóng dân tộc”, của Hùng Thắng-Nguyễn Thành, Nxb Khoa học xã hội,


6
Hà Nội, 1985; “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí
Minh”, của Viện Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990;

Một là: Trình bày một cách hệ thống, lôgíc, những quan điểm cơ
bản của Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành chính
quyền (1930- 1945).
Hai là: Phân tích quá trình Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng chỉ
đạo toàn dân đấu tranh giành chính quyền thắng lợi vào mùa thu tháng
Tám năm 1945.
Ba là: Luận giải sự vận dụng tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ
Chí Minh trong đấu tranh giành chính quyền vào sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc XHCN hiện nay.
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu về tư tưởng bạo
lực cách mạng của Hồ Chí Minh trong đấu tranh giành chính quyền
(1939-1945), cũng như sự chỉ đạo thực hiện bạo lực cách mạng của Đảng
theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, tìm hiểu tư
tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh trong giai đoạn lịch sử từ
1930 đến 1945.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, các văn kiện, nghị quyết và những đánh giá tổng kết
của Đảng về tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh trong đấu tranh
giành chính quyền (1930-1945).


8
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả chủ yếu sử dụng phương
pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc và kết hợp với một số
phương pháp khác như: phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, phân
kỳ lịch sử, luôn tuân thủ nguyên tắc tính đảng và tính khoa học trong
quá trình nghiên cứu.

tranh giành chính quyền.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, chính quyền là
vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, bạo lực cách mạng là phương
pháp, là “bà đỡ”, để giai cấp vô sản lật đổ nhà nước tư sản, giành và giữ
vững chính quyền cách mạng. Năm 1848 trong cương lĩnh đầu tiên, một


10
tác phẩm nổi tiếng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới, “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản” đã khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng
lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau” [26, tr.613] - “Những người
cộng sản... công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được
bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ xã hội hiện hành” [26, tr.646].
Như vậy, C.Mác-Ph.Ăngghen không chỉ khẳng định sứ mệnh lịch sử
thế giới của giai cấp vô sản, mà còn đề cập đến con đường, biện pháp, để
giai cấp vô sản thực hiện sứ mệnh ấy, là dùng bạo lực cách mạng chống lại
bạo lực phản cách mạng, lật đổ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền
mới. Con đường đấu tranh giành chính quyền có thể diễn ra bằng nhiều
hình thức phong phú, đa dạng, nhưng phổ biến nhất là dùng bạo lực cách
mạng. Đi từ sự phân tích, so sánh các cuộc cách mạng trong lịch sử Châu
Âu, cũng như trên thế giới, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, bạo lực có vai
trò quan trọng trong sự phát triển xã hội loài người nói chung và trong
cách mạng vô sản nói riêng. Bạo lực nhằm đập tan và cắt bỏ những hình
thức chính trị đã lạc hậu, thối nát, kìm hãm, mở đường cho quá trình vận
động và phát triển tự nhiên của xã hội có giai cấp. Trong tác phẩm “Chống
Đuy rinh”, Ph.Ăngghen viết: “Bạo lực là công cụ mà sự vận động xã hội
dùng để mở đường cho mình và đập tan những hình thức chính trị đã hoá
đá và chết cứng” [1, tr.259].
Thực tiễn đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong lịch sử cho
thấy, bạo lực đã diễn ra với những hình thức khác nhau như: khởi nghĩa

tiến công, tiến công một cách bất ngờ, tiến công liên tục và sáng tạo, quá
trình tiến công cũng là quá trình tập hợp lực lượng, cô lập, bao vây kẻ thù,
không cho kẻ thù kịp trở tay đối phó với khởi nghĩa vũ trang. Ph.Ăgghen
nói: Phòng ngự là sự diệt vong với bất kỳ cuộc khởi nghĩa vũ trang nào.


12
V.I.Lênin là người tiếp thu và phát triển lý luận bạo lực cách mạng
của C.Mác-Ph.Ăgghen, trong điều kiện mới ở nước Nga, chủ nghĩa tư bản
đã phát triển đến giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Người khẳng định: “...
Chính tư tưởng ấy - tư tưởng cách mạng bạo lực - là nền móng của toàn bộ
học thuyết của C.Mác-Ph.Ăgghen” [24, tr.28]. V.I.Lênin còn nhấn mạnh:
“Nhà nước tư sản bị thay thế bởi Nhà nước vô sản không thể bằng con
đường tiêu vong, mà chỉ có thể theo quy luật chung, bằng một cuộc cách
mạng bạo lực mà thôi” [24, tr.27]. Đặc biệt, trong tác phẩm “Hai sánh
lược của Đảng dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ”, viết vào tháng 7
năm 1905, V.I.Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác về vấn đề khởi nghĩa vũ
trang một cách sáng tạo. Người phân tích những đặc điểm của cuộc cách
mạng dân chủ tư sản ở Nga, quá trình chuyển biến cách mạng dân chủ tư
sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, điều kiện của sự chuyển biến ấy,
vai trò lãnh đạo của Đảng kiểu mới, hình thức và phương pháp đấu tranh
của giai cấp vô sản. V.I.Lênin cho rằng, khởi nghĩa vũ trang là phương
tiện để lật đổ chế độ chuyên chế và giành thắng lợi của cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Người chỉ ra giai cấp phản động, những kẻ đầu tiên thường
dùng đến bạo lực, “đặt lưỡi lê vào chương trình nghị sự”, gây ra nội chiến
như Chính phủ Nga Hoàng, đi vào con đường chấn áp dã man, bắn giết
hàng loạt dân lành. Chính từ thực tiễn đó, đã đặt ra đối với Đảng Bôn-sêvích là phải vũ trang giai cấp công nhân, tổ chức và đoàn kết các lực lượng
cách mạng để tiến hành khởi nghĩa vũ trang. Song song với việc khẳng
định vai trò của bạo lực cách mạng, của việc tiến hành khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền, V.I.Lênin cũng vạch trần những khuynh hướng cải



14
mạng. Mặt khác, V.I.Lênin còn cho rằng lực lượng toàn dân, nhưng phải
biết tổ chức, kết hợp thành lực lượng chính trị và quân sự, kết hợp giữa
đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, kết hợp giữa chiến tranh du kích
và sự nổi dậy của quần chúng để giành chính quyền về tay nhân dân. Theo
Người: Chiến tranh du kích là một hình thức tất nhiên không thể tránh
khỏi trong những thời kỳ phong trào của quần chúng thực sự đã tiến tới
khởi nghĩa.
Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết cách mạng, khoa học
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới, hệ thống
lý luận tiên phong, đã khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
trong thời đại ngày nay. Để hoàn thành sứ mệnh ấy, để giành và giữ vững
chính quyền cách mạng, giai cấp vô sản tất yếu phải sử dụng bạo lực cách
mạng. Quan điểm cơ bản về bạo lực cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang
của C.Mác-Ph.Ăgghen, đã được V.I.Lênin tiếp thu một cách hệ thống và
bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn của cách mạng Nga.
Đây là cơ sở lý luận quan trọng, có tính chất quyết định để Hồ Chí Minh
hình thành tư tưởng bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành chính quyền
ở nước ta, thời kỳ cách mạng (1930-1945).
1.1.2. Yêu cầu khách quan của sự nghiệp đấu tranh giành chính
quyền và sự lựa chọn con đường bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh
Thực tế cách mạng cho thấy, thực dân Pháp đã dùng bộ máy bạo lực
phản cách mạng đồ sộ phục vụ cho quá trình xâm lược và cai trị Việt Nam,
vậy chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới đánh đổ được bộ máy bạo lực
phản cách mạng của kẻ thù.
Việt Nam ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích 33 vạn kilômét
vuông, đầu thế kỷ XX dân số có khoảng 20 triệu người. Điều kiện tự nhiên
của Việt Nam rất thuận lợi, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nguồn nước dồi


16
thời, kết hợp với việc thiết lập một cách có hạn chế phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa để bóc lột nhân dân ta. Trước tiên, chúng thiết lập và duy
trì phương thức sản xuất phong kiến đã từng tồn tại ở Việt Nam, nhưng
dưới quyền điều khiển và khống chế của người Pháp; nhằm kiếm được tối
đa nguồn lợi nhận từ những người lao động và nguồn nhân công rẻ mạt.
Thực hành chính sách cướp đoạt ruộng đất của nông dân, lập đồn điền,
kinh doanh cây công nghiệp, cây lúa, nhiều nhất là cây cao su. Theo số
liệu thống kê của các nhà nghiên cứu, đến năm 1930 thực dân Pháp đã
chiếm hơn 800.000 héc ta ruộng đất của nông dân, bằng một phần sáu tổng
diện tích trồng trọt của cả nước lúc đó. Chỉ tính riêng diện tích đồn điền
cao su, năm 1917 là 17.000 héc ta, nhưng đến năm 1929 đã lên đến
100.000 héc ta. Thực dân Pháp còn đặc biệt coi trọng thủ đoạn bóc lột
kinh tế thời trung cổ, với một chế độ thuế khoá nặng nề và hết sức vô lý.
Đó là thuế thân, thuế ruộng, thuế chợ, thuế đò, thuế môn bài, thuế cư trú,
thuế nộp cho ngân sách Đông Dương, thuế nộp cho ngân sánh xứ, ngân
sách tỉnh, cho quan lại, kỳ hào trong thôn trong xã. Tính trung bình một
năm, mỗi người dân Việt Nam phải đóng thuế ngang với 2 đến 3 tháng
tiền công lao động. Càng ngày, chính quyền thực dân lại càng đẻ ra nhiều
thứ thuế với tỷ lệ tăng dần. Để khai thác được nhiều nguồn tài nguyên, các
nhà tư bản người Pháp buộc phải xây dựng một số cơ sở vật chất, kỹ thuật
hiện đại, nhưng chủ yếu là các ngành: giao thông vận tải, mỏ, đồn điền.
Nên giấy phép tìm mỏ được chính quyền thực dân cấp năm 1914 có 275
chiếc, thì đến năm 1930 đã lên tới 17.685 chiếc. Tất cả các ngành công
nghiệp phục vụ cho việc bóc lột ấy, cũng tuyệt đối không được cạnh tranh
với công nghiệp chính quốc, mà chỉ nhằm phục vụ cho công nghiệp chính
quốc. Đồng thời với mục đích thu lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp đã thi



mình, thực dân Pháp dùng chính sách chia để trị. Chúng chia nước ta
thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, người Việt Nam muốn đi lại
giữa các kỳ đều phải xin giấy phép như ra nước ngoài. Thực chất việc
Pháp chia nước ta thành ba kỳ là nhằm mục đích dễ kiểm soát, đối phó và
đàn áp các phong trào cách mạng. Song song với quá trình ấy, thực dân
Pháp tạo ra một cơ sở xã hội làm chỗ dựa cho việc cai trị của mình, bằng
việc biến bộ máy nhà nước của giai cấp phong kiến Việt Nam, thành một
hệ thống tay sai đắc lực phục vụ cho việc đàn áp và bóc lột của chúng.
Về văn hoá, thực dân Pháp thi hành một chính sách ngu dân để dễ bề
cai trị. Thực hiện chính sách văn hoá nô dịch, phản động, phát triển tôn
giáo, mê tín dị đoan, nhằm mê hoặc và du ngủ quần chúng, thủ tiêu đấu
tranh. Chúng tìm mọi cách ngăn chặn những luồng tư tưởng dân chủ, tiến
bộ từ phương Tây cũng như trên thế giới vào Việt Nam.
Như vậy, từ việc duy trì chính sách kinh tế thực dân bảo thủ và phản
động, sự chuyên chế về chính trị, cũng như chính sách ngu dân của thực
dân Pháp, thể hiện hành động bạo lực của kẻ xâm lược đối với nước bị
xâm lược. Vừa thực hiện đàn áp, bóc lột nhân dân Việt Nam, vừa thực
hiện một chính sách ngu dân để dễ bề cai trị. Hai quá trình này diễn ra
đồng thời, cùng một thời điểm lịch sử, có mối quan hệ tác động lẫn nhau,
nói lên đặc trưng tính chất bạo lực phản cách mạng của bộ máy chính
quyền thực dân. Đúng như Hồ Chí Minh nhận xét: “Chế độ thực dân, tự
bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”
[29, tr.96]. Vì thế Người khẳng định: Độc lập dân tộc không thể cầu xin
được.
Quá trình đi tìm đường cứu nước, tìm phương pháp đấu tranh với kẻ
thù, Hồ Chí Minh đã đi sâu nghiên cứu các thủ đoạn, tội ác của thực dân
Pháp ở Việt Nam. Người dành thời gian đọc rất nhiều các nguồn tài liệu từ


19

khẳng định phải sử dụng bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành chính
quyền của với cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh không chỉ nghiên cứu
sự thống trị của thực dân Pháp, mà còn tìm hiểu ách đô hộ của thực dân
Anh ở các nước thuộc địa của chúng. Tháng 5 năm 1925, trong bài “Lối cai
trị của người Anh”, Người viết “đạo luật phòng thủ Ấn Độ năm 1918, tức là
đạo luật bất thường thiết lập tình trạng giới nghiêm tăng cường” [30, tr.154]
và khẳng định: Dưới chế độ ấy, tất cả các viên chức và cảnh sát Anh, đều có
quyền bắt bớ và giam giữ những người Ấn Độ bị tình nghi. Đi từ việc phân
tích chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh khẳng định chủ
nghĩa thực dân là đồng hành, là bạn đường của chiến tranh và đàn áp dã man.
Như vậy, xuất phát từ thực tế ở các nước thuộc địa nói chung, ở Việt
Nam nói riêng, Hồ Chí Minh lên án, tố cáo thực dân Pháp đã cai trị nhân
dân Việt Nam bằng một bộ máy bạo lực phản cách mạng đầy tội ác.
V.I.Lênin nói: Nếu tố cáo về “kinh tế” là lời tuyên chiến với chủ xưởng,
còn tố cáo về “chính trị” tương tự như lời tuyên chiến với chính phủ. Do
đó việc lên án thực dân Pháp không chỉ là một đòn đánh mạnh vào hệ
thống chính quyền thuộc địa, mà còn là quá trình tìm tòi con đường đấu
tranh, là cơ sở để Hồ Chí Minh khẳng định phải sử dụng bạo lực cách
mạng trong đấu tranh giành chính quyền giải phóng dân tộc.
Tư tưởng sử dụng bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành chính
quyền của Hồ Chí Minh, không chỉ dựa vào yêu cầu thực tiễn cách mạng
Việt Nam, sự áp bức bóc lột của kẻ thù, mà còn được hình thành từ tổng
kết kinh nghiệm đấu tranh của các nhà yêu nước Việt Nam ở cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX.


21
Từ khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta (1858), nhân dân Việt
Nam phải sống trong cảnh nước mất nhà tan, chịu hai tầng áp bức bóc lột
của bọn thực dân và bọn địa chủ phong kiến. Với truyền thống yêu nước

của nhân dân ta, nên ở Ông đã sớm có lòng yêu nước và chí căm thù giặc
sâu sắc. Ông chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp và thành lập một chính
phủ quân chủ lập hiến. Năm 1911, cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành
công, lật đổ nền quân chủ Mãn Thanh lập ra Nhà nước Trung Hoa dân
quốc, Phan Bội Châu đã chuyển lập trường từ chủ nghĩa quân chủ sang
chủ nghĩa dân chủ. Đặc biệt, để đạt được những mục tiêu trên Phan Bội
Châu đã chủ trương đấu tranh bằng phương pháp bạo động vũ trang giành
chính quyền. Chủ trương trên của Phan Bội Châu bước đầu đạt được một
số kết quả như: cuộc bạo động của đội Quyên, đội Phấn, Ấm Võ ở vùng
Nghệ Tĩnh, ném bom vào khách sạn của Pháp ở Hà Nội, ám sát tuần phủ ở
Thái Bình, cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên... Tuy nhiên, chủ trương bạo
động giành chính quyền của Phan Bội Châu không diễn ra theo ý muốn,
cuối cùng dẫn đến kết cục thất bại trước sự đàn áp của thực dân Pháp. Có
thể nói, sự thất bại của phong trào Đông Du mà cụ Phan Bội Châu là
người lãnh đạo có nhiều nguyên nhân khác nhau, song một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất là phương pháp đấu tranh không đúng. Phan
Bội Châu và các đồng chí của ông theo tư tưởng vũ trang bạo động giành
chính quyền, mà tiến hành vũ trang bạo động thì không thể so sánh được
với lực lượng quân sự của Pháp, hơn nữa dựa vào Nhật để đánh Pháp cũng
là một điều không tưởng. Ông đã không nhận thức được sức mạnh to lớn
của các tầng lớp nhân dân, không biết kết hợp hai hình thức đấu tranh cơ
bản là đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự. Đứng trước sự thất bại do
thiếu đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn, Phan Bội Châu nói:
Đời tôi trăm lần thất bại không một lần thành công.


23
Phan Chu Trinh biệt hiệu là Tây Hồ, ngoài ra còn có biệt hiệu là Huy
Mã, sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Thiện Phước, phủ Nam kỳ,
tỉnh Quảng Nam. Phan Chu Trinh sinh ra và lớn lên trong một gia đình võ

Phan Chu Trinh với khuynh hướng cải lương, ảo tưởng vào lòng tốt
của kẻ thù. Đây là một cách nhận thức hoàn toàn sai lầm cả về phương
hướng và phương pháp đấu tranh, vì đặc trưng cơ bản của xã hội Việt
Nam lúc này là thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến câu kết chặt
chẽ với nhau bóc lột nhân dân ta, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội là toàn
thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bọn phản động tay sai. Sự
ngộ nhận về bản chất kẻ thù là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phương
pháp đấu tranh không đúng của ông. Đúng như Hồ Chí Minh đã nhận xét:
làm như vậy “chẳng khác gì xin địch rủ lòng thương” [47, tr.17].
Như vậy, với những thất bại của các phong tào yêu nước Việt Nam
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đánh dấu sự khủng hoảng về đường lối
cách mạng, đặc biệt trong đó phải nói đến sự bế tắc về phương pháp đấu
tranh của các sỹ phu yêu nước đương thời. Cụ Phan Bội Châu thì mong
đợi sự giúp đỡ của Chính phủ Nhật Hoàng với phương pháp bạo động vũ
trang giành chính quyền. Cụ Phan Chu Trinh lại dựa vào Pháp để thực
hiện canh tân đất nước, nên đấu tranh bằng con đường cải lương nghị viện.
Từ những nhận thức không đúng về con đường cứu nước, là hệ quả tất yếu
dẫn đến phương pháp đấu tranh không phù hợp và thiếu tính khoa học. Chỉ
có một đường lối cách mạng đúng đắn mới có một phương pháp đấu tranh
thích hợp, ngược lại phương pháp đấu tranh phù hợp sẽ chứng minh cho
sự đúng đắn của đường lối cách mạng. Do hạn chế về mặt lịch sử, các nhà
yêu nước Việt Nam ở thời kỳ này đã không hiểu được tính chất của thời
đại đã thay đổi, thời đại cũ đã qua và thời đại mới đã xuất hiện. Tính chất


25
của thời đại thay đổi, thì giai cấp trung tâm của thời đại cũng thay đổi, vai
trò của người lãnh đạo, lực lượng, phương pháp cách mạng cũng tất yếu
phải thay đổi theo. Chính từ những bài học thực tiễn, của các phong trào
yêu nước Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là cơ sở quan trọng

ở Việt Nam, khẳng định phải sử dụng bạo lực cách mạng trong đấu tranh
giành chính quyền. Thực tế cho thấy, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố
khách quan và yếu tố chủ quan là cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về bạo lực cách mạng trong đấu tranh giành chính quyền.
Tóm lại, từ những phẩm chất tốt đẹp của mình, Hồ Chí Minh đã đến với
chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nghiên cứu một cách sâu sắc và vận dụng sáng
tạo quan điểm bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể cách
mạng Việt Nam. Đồng thời khảo sát thực tiễn xã hội Việt Nam ở đầu thế kỷ
XX, Hồ Chí Minh nhận thấy thực dân Pháp dùng một bộ máy bạo lực phản
cách mạng đồ sộ để đàn áp, thống trị nhân dân ta, do đó phải sử dụng bạo lực
cách mạng để giành chính quyền. Các con đường đấu tranh theo xu hướng bạo
động vũ trang, hay cải lương, đều bị thất bại, vì không có đường lối và phương
pháp đấu tranh phù hợp, nên không được lịch sử chấp nhận. Tất cả các yếu tố
trên là nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng trong
đấu tranh giành chính quyền. Trong đó chủ nghĩa Mác - Lênin là yếu tố có ý
nghĩa quyết định đến bản chất tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh.
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng trong
đấu tranh giành chính quyền
1.2.1. Sử dụng bạo lực cách mạng giành chính quyền là một tất
yếu khách quan và phải biết dựa vào sức mạnh của quần chúng
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Chính cương, Sách lược vắn tắt của Đảng
do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo đã ra đời. Đây là cương lĩnh đầu tiên,


27
định ra đường lối chiến lược cho cách mạng nước ta trong thời kỳ mới.
Trong Chính cương, Sách lược vắt tắt, Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu
của cách mạng Việt Nam là: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng
và thổ địa cách mạng tiến tới xây dựng xã hội cộng sản” [7, tr.2]. Để đạt
được mục tiêu trên phải: “Dựng ra chính phủ công nông binh”. [7, tr.2].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status