LUẬN văn THẠC sĩ tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về TOÀN dân KHÁNG CHIẾN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC dân PHÁP xâm lược (1945 1954) - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là
một trong những chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân
tộc Việt Nam. 50 năm đã trôi qua, song tầm vóc và giá trị to lớn của nó đối với cách mạng
Việt Nam và cách mạng thế giới cần được tiếp tục khai thác để tìm ra những bài học bổ ích
cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước hiện nay.
Thắng lợi của kháng chiến chống Pháp là kết quả tất yếu và tổng hợp của nhiều nhân
tố khách quan và chủ quan, trong đó một nhân tố hết sức quan trọng là cống hiến to lớn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng "toàn dân kháng chiến" hết sức độc đáo và sáng tạo.
Đó là cơ sở, nền tảng để Đảng ta hình thành đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, yếu
tố quyết định đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Ngày nay, trong bối cảnh tình hình cách mạng thế giới và trong nước diễn biến phức
tạp trước yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng nước ta vừa có thuận lợi vừa gặp nhiều khó
khăn. Đặc biệt là thủ đoạn thâm hiểm của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tìm
mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu quán triệt đầy đủ, sâu sắc
vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và cuộc kháng
chiến chống Pháp nói riêng càng có ý nghĩa to lớn, quan trọng, đây là việc làm cần thiết, cấp
bách góp phần khẳng định cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh cả về lý luận và thực tiễn đối
với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đồng thời, qua đó góp phần tích cực vào
việc nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tinh thần chỉ thị số 23 (ngày 23 tháng 7
năm 2003) của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Mặt khác, việc nghiên cứu những cống hiến của
Hồ Chí Minh trong giai đoạn này còn góp phần làm sáng tỏ một thời kỳ lịch sử oanh liệt của
dân tộc, thời kỳ toàn dân tộc tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Hồ Chủ tịch, từ đó nâng cao niềm tự hào,
lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh- Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Trên cơ sở đó,
đấu tranh kiên quyết chống lại những quan điểm sai trái, phản động nhằm hạ thấp giá trị, coi
nhẹ và phủ nhận vai trò to lớn của Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược
cũng như trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam.



Ngoài ra, còn nhiều chuyên luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã được công
bố trên các tạp chí: Cộng sản, Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử quân sự hoặc trong Kỷ
yếu của các cuộc Hội thảo khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh; các luận án, luận văn chuyên ngành
Lịch sử Đảng… Tất cả các công trình khoa học trên đều đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội và có nhiều giá trị để tác giả kế thừa vận dụng vào quá trình thực hiện
luận văn.
Như vậy, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
đến tư tưởng Hồ Chí Minh về toàn dân kháng chiến, tuy nhiên chưa công trình nào đi sâu
nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về tư tưởng toàn dân kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945- 1954, với tư cách một đề tài
độc lập như tác giả lựa chọn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Thông qua nghiên cứu nguồn gốc, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về toàn dân kháng
chiến và vai trò của Người cùng Trung ương Đảng chỉ đạo toàn dân kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược 1945-1954, từ đó khẳng định cống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh đối với
cách mạng Việt Nam và giá trị vận dụng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về toàn dân kháng
chiến nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Luận giải nguồn gốc, phân tích nội dung cơ bản và tính đúng đắn sáng tạo của
tư tưởng Hồ Chí Minh về toàn dân kháng chiến chống Pháp xâm lược.
Trình bày chân thực những thành công trong lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân kháng chiến của Hồ
Chí Minh và Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Nêu lên phương hướng sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về toàn dân kháng chiến trong
chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng toàn dân kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).


1.1.1. Nguồn gốc lý luận, tư tưởng
Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị nhân bản của văn hoá phương Đông và phương
Tây.
Với lòng yêu nước, thương dân nồng nàn, với mục đích cao cả giải phóng đất
nước, giải phóng nhân dân và một trí tuệ thông minh, tinh thần ham học hỏi, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tham khảo nhiều chủ thuyết, các trào lưu tư tưởng về tập
hợp lực lượng cách mạng của các bậc tiền bối trên thế giới và khu vực để làm giàu trí
tuệ cho mình và tìm đường cứu nước. Với Tôn Dật Tiên- lãnh tụ của Quốc dân Đảng ở
Trung Quốc, Người tổ chức lãnh đạo cách mạng Tân Hợi năm 1911, nhờ có chủ trương
tập hợp lực lượng đông đảo, không phân biệt giai cấp, cùng với chính sách: Liên Nga,
hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc, ủng hộ công - nông, đã tạo ra một phong trào
cách mạng phát triển mạnh mẽ thời kỳ 1924 - 1926. Do vậy, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên được
đánh giá là một học thuyết tiến bộ, đồng thời đã có tác động ảnh hưởng khá lớn đến các
nhà yêu nước Việt Nam, trong đó có Hồ Chí Minh. Với quan điểm tiếp thu và kế thừa có
chọn lọc, Hồ Chí Minh đã có nhận xét: chủ nghĩa Tôn Dật Tiên là một học thuyết tiến bộ
có nhiều điểm phù hợp với Việt Nam.
Đối với nhà ái quốc vĩ đại của ấn Độ- Ma hát ma-Gandhi, đã giương cao ngọn cờ đoàn
kết dân tộc, thức tỉnh, tập hợp lực lượng toàn dân nhằm đấu tranh giành độc lập dân tộc, đó là
tư tưởng có tác động ảnh hưởng không nhỏ tới nhiều nước ở khu vực và châu Á.
Nghiên cứu, tiếp thu văn hoá phương Đông, Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ những giá trị nhân
bản của Nho giáo, Phật giáo. Đó là tinh thần "mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi
cho xã hội" (Khổng tử), như Hồ Chí Minh đã nhận xét; đó là tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, thương yêu
con người, chống lại phân biệt đẳng cấp của Phật giáo.
Những học thuyết, tư tưởng tiến bộ, những tinh hoa văn hoá phương Đông đã được Hồ Chí
Minh nghiên cứu tiếp thu những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế để sớm hình thành quan điểm
tư tưởng hết sức đúng đắn về sức mạnh của toàn dân trong cách mạng giải phóng dân tộc.
Là một người phương Đông yêu nước, ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh đã có
một thời gian dài nghiên cứu tham gia hoạt động cách mạng ở phương Tây. Ở đó những giá trị nhân
bản của văn hoá phương Tây cũng được Hồ Chí Minh nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc. Những hạt
nhân hợp lý trong tư tưởng "Tự do, bình đẳng, bác ái" của đại cách mạng tư sản Pháp vốn rất hấp dẫn,

của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là của nông dân. Mác coi sự ủng hộ của lực lượng


nông dân đông đảo đối với phong trào vô sản là một bài đồng ca, nếu không có bài đồng ca đó thì
cách mạng vô sản sẽ trở thành "một bài ai điếu".
Đề cập đến vai trò quan trọng của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản
cũng như trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Lênin đã khẳng định: "Một khi chiến tranh đã
không thể tránh được, thì phải dốc tất cả cho chiến tranh", không một người nào dù ở đâu
và làm nhiệm vụ gì được trốn tránh nghĩa vụ này. Và trong chiến tranh thì khẩu hiện phải là
"Tất cả cho chiến tranh" [19,175]. Bởi vậy, khi ra lời kêu gọi "Tổ quốc xã hội chủ nghĩa lâm
nguy", Lê nin tuyên bố: Tất cả mọi lực lượng, mọi tài nguyên của đất nước đều phải giành
cho công cuộc bảo vệ cách mạng; tất cả lực lượng của nhân dân đều phải được động viên
cho cuộc chiến tranh đó.
Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, lòng yêu thương vô hạn đối với những người dân
lao khổ và niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng toàn dân đã thôi thúc Hồ Chí
Minh quyết ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Nhờ tích cực hoạt động trong phong trào
Cộng sản và công nhân quốc tế, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin khi đọc "Sơ thảo
lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin, Hồ Chí Minh đã
tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam- con đường cách
mạng vô sản. Người đã tin và theo Lênin, vì chủ nghĩa Lênin đã bênh vực quyền lợi của các
dân tộc bị áp bức. Chủ nghĩa Lênin đã chỉ ra con đường tập hợp đoàn kết các lực lượng
quần chúng cách mạng toàn thế giới, lực lượng cách mạng ở thuộc địa, thức tỉnh nhân dân
lao khổ toàn thế giới đứng lên làm cách mạng. Đặc biệt những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác-Lênin về vai trò của quần chúng trong cách mạng, về cách thức tổ chức, xây dựng lực
lượng cách mạng là cơ sở khoa học, có ý nghĩa lý luận dẫn đường để Hồ Chí Minh xem xét
đánh giá đúng những yếu tố tích cực, những mặt hạn chế của các di sản truyền thống dân
tộc, văn hoá thế giới, những quan điểm tư tưởng về tập hợp lực lượng cách mạng của các
nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà tư tưởng cách mạng trên thế giới, trên cơ sở đó
hình thành tư tưởng toàn dân kháng chiến của Hồ Chí Minh. Bởi vậy, Hồ Chí Minh khẳng
định chủ nghĩa Mác-Lênin là cái "cẩm nang thần kỳ", là "Kim chỉ nam", là "con đường giải

cảnh nước mất nhà tan cùng với cuộc đấu tranh trường kỳ chống ngoại xâm càng làm cho mỗi
người Việt Nam thấy rõ bản chất tàn bạo dã man của quân xâm lược, nhận thức sâu sắc hơn về
giá trị cuộc sống độc lập, tự do mà càng hăng hái trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Như vậy, thực tiễn đấu tranh không mệt mỏi của nhân dân ta trong chống thiên tai đe doạ và
chống ngoại xâm bảo vệ bờ cõi qua hàng ngàn năm lịch sử, đã hun đúc tạo dựng nên chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam và đã trở thành một truyền thống bền vững từ đời này sang đời khác. Đó là
"sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc, là tư tưởng tình cảm thiêng liêng nhất của nhân
dân ta. Yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp dựng nước và giữ nước trở thành một lẽ sống tự


nhiên, ý thức cộng đồng người Việt Nam, thành phép ứng xử và tư duy chính trị của mỗi người:
"Tình làng, nghĩa nước, nước mất thì nhà tan. Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh"[6, 83].
Vì vậy, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy sức mạnh của toàn dân trong dựng
nước và giữ nước là một yêu cầu tất yếu khách quan, là việc làm thường xuyên của mọi
triều đại Nhà nước Việt Nam từ xưa đến nay, đó là nhân tố quyết định thắng lợi của sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Ngược lại, nếu không chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát
huy sức mạnh toàn dân đánh giặc như dưới thời An Dương Vương, Hồ Quý Ly và Tự Đức
tất yếu phải gánh chịu thất bại cay đắng. Điều đó được thể hiện trong câu nói của Hồ
Nguyên Trừng như một sự tổng kết kinh nghiệm trong dựng nước và giữ nước "không sợ
giặc mạnh mà chỉ sợ lòng dân không theo".
Truyền thống yêu nước nông nàn, ý chí kiên cường bất khuất trong chống thiên tai và chống
giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa truyền lại đã thấm sâu và trở thành nếp nghĩ, việc
làm hàng ngày của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi tập thể, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam và trở thành thứ tài sản vô giá của dân tộc ta. Hồ Chí Minh là người ý thức sâu sắc giá trị
truyền thống quý báu đó, Người đã tổng kết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần yêu nước ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước"[64, 171].
Sự tổng kết hết sức cô dọng, sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện sự thấu triệt đầy đủ
giá trị to lớn của truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc. Theo Người, kế thừa, phát huy

cực, người Đông Dương đang che dấu điều gì đó, sôi sục ghê gớm và nó sẽ bùng nổ dữ dội khi
thời cơ đến.
Thực tiễn lịch sử cách mạng thế giới đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết đúc rút thành bài
học lớn về phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, tổ chức tập hợp lực lượng toàn dân
có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng. Đây là một trong các nhân tố quan trọng để
hình thành tư tưởng toàn dân kháng chiến của Hồ Chí Minh.

Thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam từ khi Pháp xâm lược
Không cam chịu kiếp sống trâu ngựa dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, với truyền
thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, các phong trào yêu
nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX hết sức sôi nổi,
bền bỉ với tinh thần :"Bao giờ nước Nam hết cỏ thì mới hết người Nam đánh Tây". Ngay khi
Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng (1858) nhiều đội quân nông dân khắp mọi nơi kéo về


phối hợp với quân Triều đình đánh giặc, gây cho địch nhiều khó khăn tổn thất. Khi Pháp
đánh chiếm Nam bộ lại gặp nhiều cuộc khởi nghĩa bùng nổ mạnh mẽ như khởi nghĩa của
Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân… Đến khi Pháp thực hiện song việc
xâm lược cả nước ta thì một phong trào chống Pháp với danh nghĩa cần vương lại nổ ra sôi
nổi trên phạm vi khắp cả nước với nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: Khởi nghĩa Hương
Khê (1885- 1896), khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887) và khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 - 1892),
khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 - 1889)…
Sang đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp phát triển lên một bước mới theo tư
tưởng dân chủ tư sản với nhiều hình thức hoạt động phong phú và sôi nổi: phong trào
Đông Du do Phan Bộ Châu lãnh đạo (1904 - 1909) với chủ trương bạo động vũ trang và
"xuất dương cầu viện"; phong trào Đông Kinh nghĩa thục của Lương Văn Can và Nguyễn
Quyền lãnh đạo, hoạt động nhằm thúc đẩy tinh thần dân tộc, phát triển văn hoá…; phong
trào Duy Tân (1906-1908) do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo
nhằm vận động cải cách văn hoá, xã hội, động viên lòng yêu nước, đấu tranh cho dân tộc
thoát khỏi ách ngoại bang. Tiêu biểu trong phong trào đấu tranh vũ trang đầu thế kỷ XX, là

Trải qua hơn 80 năm sống dưới ách nô lệ của thực dân Pháp, hơn ai hết nhân dân Việt Nam
hiểu sâu sắc giá trị thiêng liêng cao cả của "độc lập tự do" và nỗi nhục của người dân mất nước. Vì
vậy, mục đích cao cả, thiêng liêng của cuộc kháng chiến là giành độc lập, thống nhất thực sự cho
Tổ quốc, thực hiện tinh thần "thà chết chứ không chịu mất độc lập và tự do". Mục tiêu đặt ra của
kháng chiến nhằm bảo vệ nền độc lập của dân tộc, bảo vệ cuộc sống tự do, dân chủ cho toàn thể
nhân dân, đây là điều kiện tiên quyết cho phép huy động, tập hợp toàn dân kháng chiến đến thắng
lợi cuối cùng. Như Lênin đã chỉ rõ: "Việc quần chúng nhận thức mục đích và nguyên nhân của
chiến tranh có một tầm quan trọng to lớn và đó là sự bảo đảm cho thắng lợi"[ 20, 147].
Tư tường toàn dân kháng chiến đáp ứng nguyện vọng ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam,
quyết hy sinh vì độc lập Tổ quốc bởi mỗi người Việt Nam đều nhận rõ: "Tổ quốc là Tổ quốc chung.
Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ… Vì vậy ai cũng
phải kháng chiến"[34, 485] . Tính chất chính nghĩa giúp cho toàn dân tuyệt đối tin tưởng và đi theo
Đảng, Bác Hồ tiến hành kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định với đồng bào Nam Bộ và cả nước: "Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng
đoàn kết của cả quốc dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc chiến đấu của chúng ta là chính
đáng"[25,27].


Thực tiễn khi bước vào cuộc kháng chiến, tương quan so sánh lực lượng giữa ta và
địch, có sự chênh lệch cơ bản, trước mắt bất lợi cho ta. Khi mở đầu cuộc xâm lược nước ta
lần thứ hai, thực dân Pháp là một tên đế quốc hùng mạnh, có tiềm lực kinh tế mạnh hơn ta
bội lần, có đội quân xâm lược nhà nghề với trang bị vũ khí hiện đại (phụ lục 1,2). Dựa vào
sức mạnh kinh tế, quân sự, chúng thực hiện chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" hòng
nhanh chóng đè bẹp lực lượng và ý chí chiến đấu của nhân dân ta.
Về phía ta, trong buổi dầu kháng chiến, lực lượng vũ trang còn non trẻ, trình độ, kinh
nghiệm tác chiến còn hạn chế, trang bị vũ khí kỹ thuật thô sơ. Cùng với những khó khăn về kinh tế,
tài chính do hậu quả nặng nề của chế độ thực dân phong kiến gây nên. Mặt khác, ta phải tự lực
kháng chiến trong sự bao vây phong toả của địch, chưa thể nhận được sự giúp đỡ của bên ngoài.
Bởi vậy, sức mạnh để chúng ta có thể đánh thắng kẻ thù không thể chỉ đơn thuần dựa vào lực
lượng vũ trang mà trước hết và quan trọng hơn cả là phải dựa vào lực lượng của toàn dân, phát

phạm vi mối quan hệ giai cấp, giữa giai cấp vô sản với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới. Đề cập phạm trù nhân dân, Lênin nói: Khi
dùng danh từ nhân dân, Mác không thông qua danh từ ấy xoá mờ mất sự khác biệt về giai
cấp; Mác đã gộp danh từ ấy những thành phần nhất định có khả năng làm cách mạng đến
cùng.
Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về quan điểm nhân dân vào thực tiễn Việt
Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, đồng thời kế thừa và phát triển truyền thống
tốt đẹp của ông cha ta quan niệm về nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng toàn dân
là toàn thể dân tộc, mọi người Việt Nam yêu nước, mọi con dân nước Việt Nam, mọi "
con Lạc cháu Hồng", không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, đẳng cấp, tôn giáo,
dân tộc, sống ở mọi miền của Tổ quốc, cả trong nước và kiều bào ở nước ngoài (trừ
bọn việt gian tay sai), họ có chung lòng yêu nước, chống đế quốc và tay sai phản động,
trong đó công-nông chiếm tuyệt đại đa số.
Vai trò to lớn của nhân dân đối với cách mạng sớm được Hồ Chí Minh khẳng định
trong tác phẩm "Đường cách mệnh". Theo Người, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân,
sức mạnh của cách mạng nằm trong nhân dân, cách mạng chỉ thành công khi biết phát huy
vai trò sức mạnh của nhân dân. Cách mạng là "xoá cái cũ, đổi ra cái mới" và vì vậy là rất


khó, phải biết cách làm mới thành công. Cách làm đó là phải đoàn kết toàn thể dân chúng bị
áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ năm, bảy người
giết hai, ba anh vua, chín mười anh quan mà được. Do vậy, cách mạng không phải chỉ là
việc của những vị anh hùng xuất chúng, những người học rộng, tài cao như quan niệm của
các nhà cách mạng trước đây. Trái lại, theo Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng nhân dân đông đảo được thức tỉnh, tổ chức đấu tranh, mà trước hết là của những
tầng lớp nghèo khổ, bị áp bức bóc lột nặng nề nhất trong xã hội là công nhân và nông dân.
Từ nhận thức đúng đắn đó Hồ Chí Minh khẳng định: "Trong bầu trời, không có gì quý bằng
nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Đó là
sức mạnh mà "không có súng ống nào, binh lính nào chống nổi"[23,274]. Nhân dân là lực
lượng đông đảo hùng mạnh, rất thông minh sáng tạo. Mọi việc làm tốt, mọi cách làm hay

thấy tiếng nói của Tổ quốc" và nhằm "phá tan những sự điêu toa của thực dân Pháp đang
tuyên truyền một cách bỉ ổi" [27, 88]. Sự kết hợp giữa ba mặt trận đấu tranh quân sự, chính
trị và ngoại giao sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp tiến công địch toàn diện, liên tục đánh
thắng kẻ thù xâm lược, kết thúc chiến tranh đúng thời cơ.
Kháng chiến về mặt kinh tế là phá hoại kinh tế của địch, ra sức ổn định, phát triển và
bảo vệ nền kinh tế của ta, bảo đảm sức sống của nền kinh tế đáp ứng nhu cầu kháng chiến
kiến quốc, tăng cường bồi dưỡng sức dân; phối hợp chặt chẽ với các mặt trận khác, thực
hiện đánh bại âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp.
Đề cập vai trò đấu tranh trên mặt trận kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chúng ta kháng
chiến về mọi mặt, kinh tế là một mặt trận rất quan trọng. Chúng ta vừa kháng chiến vừa
kiến quốc. Kinh tế lại là một ngành hoạt động tối quan trọng"[53, 455]. Thực hiện kháng
chiến về kinh tế, Người kêu gọi toàn dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phục
vụ kháng chiến. Người coi "Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là
chiến sĩ. Hậu phương thi đua với tiền phương"[65, 178]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chiến
sĩ đánh trước mặt trận… chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ đất nước. Bụng có no, thân có
ấm mới đánh được giặc. Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc
đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương.
…Tiền phương chiến sĩ hy sinh,
Đem xương máu mình giữ nước non ta.
Hậu phương sản xuất tăng gia,
Cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang" [34, 486].
Để đẩy mạnh kháng chiến về kinh tế, Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề động viên kinh
tế, tức là xây dựng một nền kinh tế kháng chiến đủ mạnh sao cho có thể đánh lâu dài và đi
đến thắng lợi cuối cùng. Người khẳng định: "Chúng ta không thể không chú ý đến vấn đề
động viên kinh tế", để thu góp lực lượng của toàn quốc cho kháng chiến. Động viên kinh tế
cũng có nghĩa là phải nhằm không ngừng bồi dưỡng sức dân, góp phần làm cho dân giàu,
nước mạnh. Người còn chỉ ra sáu phương pháp cụ thể để động viên kinh tế, bao gồm: đông
viên lao động, động viên giao thông, động viên công nghệ, động viên nông nghiệp, động
viên tài chính và tiết kiệm.
Trên mặt trận văn hoá, cuộc đấu tranh cũng diễn ra hết sức quyết liệt nhằm xoá bỏ nền

đủ mà còn phải biết kết hợp với các mặt đấu tranh khác nữa.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn dân kháng chiến và toàn diện kháng chiến có mối
quan hệ hết sức chặt chẽ, không thể tách rời. Có thực hiện toàn dân kháng chiến mới có


được lực lượng đông đảo để làm kháng chiến toàn diện; toàn dân kháng chiến là điều kiện
để kháng chiến toàn diện. Mặt khác, có kháng chiến toàn diện mới phát huy cao độ sức
mạnh to lớn của lực lượng toàn dân tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.
1.2.3. Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến
Nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, đi
sâu nghiên cứu bản chất của kẻ thù và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
có quan điểm mới về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, lực lượng vũ trang của công
nông gồm nhiều thứ quân, nhiều loại hình lực lượng. Đồng thời, Người khẳng định quy luật
về xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng ở Việt Nam là từ lực lượng chính trị
của quần chúng đông đảo, chủ yếu là công nông mà xây dựng, phát triển lực lượng vũ
trang nhân dân và quân đội nhân dân.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn đó, để đảm bảo thực hiện toàn dân kháng chiến chống
Pháp thắng lợi, Hồ Chí Minh khẳng định: lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng, tổ chức
thành ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, tự vệ); bộ đội chủ
lực cùng với bộ đội địa phương hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Lực lượng vũ trang ba
thứ quân phải được xây dựng vững mạnh, đóng vai trò nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Do
tính chất cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến toàn dân, chiến tranh nhân dân, nên kết hợp
chặt chẽ giữa xây dựng quân đội nhân dân với xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng (dân
quân du kích và tự vệ) là hình thức thích hợp nhất để phát huy sức mạnh của toàn dân đánh
giặc. Theo Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang ba thứ quân mang bản chất giai cấp công nhân, với
nhiệm vụ, chức năng, cơ cấu tổ chức mang tính quần chúng rộng rãi, tính nhân dân sâu sắc.
Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong xây dựng lực lượng phải biết kết hợp chặt chẽ để phát huy vai trò của từng bộ phận
với nhau và vai trò nòng cốt cho toàn dân kháng chiến.
Bộ đội chủ lực (quân chủ lực) giữ vị trí chiến lược chủ yếu trong đấu tranh vũ trang,

để bổ sung, phát triển bộ đội chủ lực. Trong quá trình kháng chiến, bộ đội địa phương
được hình thành phát triển từ những đội du kích tập trung, các đội vũ trang tuyên truyền ở
các địa phương, được huấn luyện phù hợp với nhiệm vụ của mình, trang bị vũ khí chủ yếu
là lấy của địch.
Dân quân du kich, tự vệ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "Là lực lượng của toàn dân tộc, là
một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ
đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã"[44, 132]. Phát triển lực
lượng dân quân du kích trong cuộc kháng chiến là phát triển lực lượng nền tảng cho toàn
dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, với tinh thần "mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi làng


xóm là một pháo đài". Dân quân, du kích và tự vệ là lực lượng rộng khắp để đánh địch tại
chỗ bảo vệ xóm làng, đường phố, góp phần tiêu hao, tiêu diệt quân địch, giam chân, phân
tán, chia cắt, bao vây quân địch, làm cho chúng mệt mỏi, đui mù, đói khát và suy yếu. Lực
lượng dân quân, du kích, tự vệ với cách đánh du kích tài giỏi "lúc ẩn lúc hiện", với tính chất
cơ động cao nhất (vì không có lực lượng cơ động nào nhanh bằng lực lượng tại chỗ), làm
cho kẻ thù không thể phát huy được ưu thế về vũ khí kỹ thuật hiện đại, làm cho chúng phải
bị động đối phó với nhân dân ta trong cuộc kháng chiến không phân rõ đâu là tiền tuyến,
đâu là hậu phương, một cuộc chiến tranh xen kẽ triệt để giữa ta và địch. Đây là kiểu chiến
tranh mà thực dân Pháp và sau này là Mỹ đều xem là "xa lạ" với chiến tranh quy ước, đẩy
chúng bị sa vào "thiên la địa võng" của chiến tranh nhân dân Việt Nam, càng đánh càng
thua đau, tổn thất. Bởi vậy chính cựu tổng thống Mỹ Kennơđi phải khẳng định: "Sự giúp đỡ
quân sự của Mỹ ở Đông Dương dù đến đâu cũng không thể chinh phục được một kẻ thù
vừa ở khắp nơi, vừa không thấy ở đâu cả, một kẻ thù là con đẻ của nhân dân, được nhân
dân đồng tình che dấu và giúp đỡ" [22,12].
Dân quân du kích, tự vệ cũng là một lực lượng chiến lược rất quan trọng, góp phần
xây dựng, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, phát triển chiến tranh du kích và chiến
tranh chính quy, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Nó còn là công cụ bạo lực vũ trang
bảo vệ Đảng, chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân ở cơ sở; là
lực lượng xung kích trong lao động sản xuất và bảo vệ an ninh xóm làng, đường phố.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status