ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH VÂN
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ VIỆC VẬN DỤNG
TRONG HỒN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CƠNG CHỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH VÂN
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ VIỆC VẬN DỤNG
TRONG HỒN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CƠNG CHỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
1.3. Tiêu chuẩn của ngƣời cán bộ theo Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ............... 18
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức của người cán bộ .............................. 18
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tài của người cán bộ ................................ 26
1.3.3. Người cán bộ phải có trình độ lý luận ................................................ 34
1.3.4. Các tiêu chuẩn khác theo tư tưởng Hồ Chí Minh.............................. 35
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TRONG VIỆC VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO HỒN
THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CƠNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY ................................................................................................................ 42
2.1. Thực trạng về hệ thống pháp luật và đội ngũ cán bộ, công chức ở
Việt Nam hiện nay ......................................................................................... 42
2.1.1. Thực trạng về hệ thống pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện
nay ................................................................................................................... 42
2.1. 2. Thực trạng về việc thi hành pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam
hiện nay........................................................................................................... 52
2.1.3. Thực trạng về đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay ....... 54
2.2. Nguyên nhân ........................................................................................... 60
2.3. Quan điểm và phƣơng hƣớng của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam trên cơ sở vận
dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ........................................................................ 61
2.3.1. Quan điểm của Đảng về cán bộ trong thời kỳ mới ............................. 62
2.3.2. Phương hướng của Đảng về cán bộ, công chức trong thời kỳ đổi mới
hiện nay ở Việt Nam ....................................................................................... 64
2.4. Giải pháp cơ bản về vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh trong việc hồn
thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay ........................... 69
2.4.1. Nhóm giải pháp thứ nhất: Hồn thiện hệ thống pháp luật liên quan
đến cán bộ, công chức.................................................................................... 69
2.4.2. Nhóm giải pháp thứ hai: Xây dựng đội ngũ cơng chức chuyên
các cách để cho nhân dân làm theo, làm cho các đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước được đi đúng hướng và hoạt động có hiệu quả.
Kế thừa tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất
coi trọng công tác cán bộ, luôn quan tâm xây dựng, phát triển và nâng cao
1
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan, tổ chức của mình.
Vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ
Chí Minh đã được thể hiện rõ trong nhiều văn kiện của Đảng và văn bản pháp
luật của Nhà nước như Luật cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số
24/2010/NĐ-CP của Chính Phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức,
Nghị định số 21/2010/NĐ-CP về quản lý biên chế công chức, Nghị định
18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức…Những văn bản này tạo
tiền đề cho việc hình thành đội ngũ cán bộ, cơng chức trong sạch vững mạnh,
vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến
thắng lợi cuối cùng theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, cùng với những nỗ lực cải cách để phát triển, dân chủ và nhân
quyền, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng đã đang được ngày
càng hoàn thiện. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, bên cạnh những
mặt đã đạt được, công tác cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay đang gặp phải
nhiều vấn đề lớn mang tính chất lực cản cho sự phát triển chung của xã hội,
quản lý nhà nước. Đó là vấn đề về năng lực, tiêu chuẩn, phẩm chất, thái độ và
văn hóa ứng xử, tính trách nhiệm và bản lĩnh chính trị. Hiện tượng tham
nhũng, hách dịch, cửa quyền, gây khó dễ, vơ cảm, thiếu trách nhiệm, thiếu
tính tiên phong, liêm chính…dù không phải quá phổ biến, tràn lan nhưng
cũng gây nên những bức xúc trong dư luận, phương hại đến thể chế, giảm sút
lòng tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước, cản trở quá trình hội nhập, dân
chủ, pháp quyền của đất nước. Những biểu hiện đó một phần là do cơ chế thị
trường, nhưng cũng làm lộ rõ những yếu kém, bất cập, lổ hổng trong cơ chế,
mục tiêu cụ thể sau:
Một là, làm rõ những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ trong đó
có nêu ra khái niệm cán bộ; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng
3
sản Việt Nam về cán bộ; vị trí, vai trị của cán bộ; về tiêu chuẩn của cán bộ và
phẩm chất cơ bản của cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, phân tích làm rõ thực trạng quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh trong việc hồn thiện pháp luật cán bộ, công chức hiện nay ở Việt NamNhững ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
Ba là, đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở nước ta hiện nay đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, chuyên
nghiệp hóa, minh bạch hóa và hiệu quả, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công
chức vừa hồng vừa chuyên phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và
thực tiễn hiện nay của Việt Nam.
1.3. Tính mới và đóng góp của luận văn
Đề tài tôi lựa chọn là đề tài có tinh mới và đóng góp của luận văn, cụ thể:
- Góp phần nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và
q trình vận dụng tư tưởng đó trong việc hồn thiện hệ thống pháp luật cán
bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực trạng của q trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh trong việc hồn thiện hệ thống pháp luật cán bộ, công chức ở nước ta
hiện nay; làm rõ những ưu, nhược điểm và nguyên nhân.
- Luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh trong hồn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho cấp
ủy Đảng, chính quyền địa phương nhằm đáp ứng những yêu cầu to lớn trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu đề tài đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ,
CHƢƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CÁN BỘ
1.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt
Nam về cán bộ
1.1.1. Khái niệm cán bộ
Mặc dù chưa đưa ra một định nghĩa nào thật đầy đủ về cán bộ nhưng qua
các bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh ln khẳng định “cán bộ là cái dây chuyền
của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, khơng chạy thì động cơ dù tốt, dù
chạy tồn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của
Chính phủ, của Đồn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính
sách hay cũng không thực hiện được” [12, 8]. Theo Người, cán bộ là người
có trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng, Nhà nước chứ không phải là
người đứng trên hoặc đứng ngồi nhân dân. Họ có trách nhiệm đưa đường lối,
chủ trưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân
để nhân dân hiểu rõ và tổ chức, vận động nhân dân thi hành. Đồng thời, cán
bộ cũng là người có trọng trách phải gần gũi nhân dân, nắm được tâm tư
nguyện vọng, những bức xúc của quần chúng nhân dân phản ánh với Đảng,
Nhà nước để đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho phù hợp
với quy luật vận động, phát triển của xã hội và đáp ứng được yêu cầu, nguyện
vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.
Ngày nay, ở nước ta khái niệm cán bộ được hiểu theo nghĩa rộng hơn,
bao gồm: Tất cả những người được bầu cử vào các cơ quan Nhà nước, Đảng,
đoàn thể; những người được bổ nhiệm đảm nhiệm một công tác quản lý hoặc
được giao một cơng tác chun mơn nào đó (cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa
học kỹ thuật…) trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị, biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là:
6
ánh được một cách đầy đủ về khái niệm cán bộ. Song cơ bản các khái niệm
trên về cán bộ đều đã khái quát rõ những đặc trưng của cán bộ đó là:
- Cán bộ phải là những người được bầu hoặc được chỉ định hay bổ nhiệm
để đảm nhận cương vị nhất định trong một tổ chức nào đó (đặc trưng này
phân biệt người cán bộ với người không có chức vụ, khơng có cương vị).
- Chức vụ, cương vị của người cán bộ liên quan đến lãnh đạo, quản lý,
điều hành hoạt động của một tổ chức nhất định (đặc trưng này để phân biệt
giữa cán bộ với những người có cũng chức vụ, cương vị nhưng khơng coi là
cán bộ như trưởng tộc, trưởng hội đồng môn….).
Cán bộ phải là người có uy tín, có vai trị nịng cốt, có tác động ảnh
hưởng tích cực đến hoạt động của tổ chức, điều chỉnh mối quan hệ liên quan
đến lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động, duy trì, thúc đẩy và định hướng sự
phát triển của tổ chức.
Những đặc trưng trên là cơ sở để chúng ta phân biệt người cán bộ với những
đối tượng khác. Nếu thiếu một trong ba đặc trưng trên đều đưa đến nhận thức
phiến diện về cán bộ. Từ những đặc trưng trên, cán bộ được phân chia trên nhiều
lĩnh vực, nhiều chức danh, cấp độ khác nhau. Trong từng loại cán bộ đều cần phải
quy định tiêu chuẩn, tiêu chí, chức năng, nhiệm vụ khác nhau.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
Ngay từ khi bắt gặp ánh sáng cách mạng của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ
Chí Minh đã sớm nhận thức được vị trí, vai trị của người cán bộ trong sự
nghiệp cách mạng. Tháng 6 năm 1923, Người rời nước Pháp đi đến Liên Xô
dự Đại hội V Quốc tế cộng sản. Chuyến đi này Người mang theo một khát
vọng muốn hiểu biết thực tiễn chủ nghĩa xã hội như thế nào để truyền bá nó
vào Việt Nam, đồng thời Người cũng muốn thông qua một đại hội của Quốc
tế Cộng sản để trình bày thực tế của sự đàn áp của chủ nghĩa đế quốc ở thuộc
8
địa với mong muốn giúp cho những người cộng sản trên thế giới hiểu được tình
chuyền đặc biệt vì: Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ là người xây dựng
nên đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sao cho phản
ánh đúng lợi ích của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với thực tiễn đời sống
của cán bộ. Cán bộ cũng là người tuyên truyền đường lối, chính sách của
Đảng với nhân dân, là người thực thi pháp luật của Nhà nước, “Cán bộ là
những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo
cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho phù hợp”[14,269].
Bác Hồ trong suốt cuộc đời cách mạng của mình rất mực quan tâm đến
cán bộ. Cán bộ mà chúng ta bàn tới đây theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là những người làm trong các cơ quan, đồn thể, cơng sở, lực lượng vũ
trang. Họ có thể giữ chức vụ chỉ huy, phụ trách, quản lý, lãnh đạo hoặc làm
công tác nghiệp vụ chun mơn đơn thuần.
Tóm lại, cán bộ là những người hoạt động trong những thời kỳ cách
mạng, thoát ly, có hưởng lương hoặc phụ cấp để phân biệt nhân dân và là đầy
tớ của nhân dân. Tuy nhiên, trong các bài viết của mình, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh nhiều đến cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, những người chịu trách
nhiệm trực tiếp và to lớn, nặng nề trước nhân dân và toàn dân tộc.
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề cán bộ
“Cán bộ là nhận tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”. [44,66] Trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ và coi đây là một
trong những vấn đề có vai trị quyết định đối với tồn sự nghiệp cách mạng.
Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa
10
VIII đã khẳng định: “Trong công cuộc đổi mới đất nước, cán bộ cũng có vai
trị cực kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đất nước….”
[44,24] Trong lãnh đạo, quản lý Nhà nước, cán bộ có ý nghĩa nghĩa quan
Như vậy, người cán bộ có phẩm chất chính trị là người vững vàng, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với
chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Người cán bộ có đạo đức
cách mạng là người có lối sống trung thực, khơng tham vọng cá nhân, không
kèn cựa địa vị, không cơ hội, khơng tham nhũng, có lối sống giản dị trong
sáng, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực
khác, khắc phục chủ nghĩa cá nhân.
Thực hiện quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, đồng thời thấy
được tầm quan trọng của cơng tác cán bộ, vai trị của cán bộ, ngày 26/02/2008
Quốc Hội đã ban hành Luật Cán bộ, cơng chức có hiệu lực thi hành ngày
01/01/2010 mà trước đó là Pháp lệnh cán bộ, cơng chức sửa đổi bổ sung năm
2003. Việc ban hành Luật này đã thể hiện sự quan tâm thích đáng của Nhà
nước tới cơng tác cán bộ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bọ, công
chức từ việc thể chế hóa những tiêu chuẩn, quy định về cơng việc, hành vi,
trách nhiệm…của từng cán bộ, công chức trong hoạt động công tác.
Tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã xác định những đối
tượng được công nhận là cán bộ, công chức như sau:
“1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
12
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
định sự thành hay bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của
đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong cơng tác xây dựng Đảng, Người
nói “Mn việc thành cơng hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”
[11,240], nghĩa là khi đã có chính sách đúng thì sự thành cơng hay thất bại
của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và
nơi kiểm tra…cả ba điều ấy đều rất quan trọng và quyết định ở người cán bộ.
Hồ Chí Minh cho rằng “cán bộ là gốc của mọi công việc” [11,269] nên
người cán bộ không phải là “ông quan cách mạng”, càng khơng phải là người
có “quyền sinh, quyền sát” như vua chúa thời phong kiến, mà chỉ là người đầy
tớ của nhân dân, người đại diện, đại biểu cho lợi ích, nguyện vọng của nhân
dân, có trách nhiệm thi hành nhiệm vị mà nhân dân giao phó. Người cán bộ
khơng được cho mình đứng ở vị trí lãnh đạo, chỉ tay năm ngón điều hành
cơng việc mà phải sâu sát cơ sở, bám sát quần chúng nhân dân, xây dựng mối
quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.
Đối với Hồ Chí Minh, cán bộ các cấp đều có vị trí quan trọng và có liên
hệ chặt chẽ với nhau trong tổ chức của Đảng. Nếu cán bộ lãnh đạo ở cấp
Trung ương là những cán bộ cấp chiến lược có trách nhiệm hoạch định hoặc
gắn với việc hoạch định chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, thì cán
bộ lãnh đạo cấp cơ sở lại có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng tổ chức Đảng và
hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, trực tiếp lãnh đạo các tầng lớp nhân dân
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Họ là những người hội tụ đầy đủ
các yếu tố: gần dân nhất, trực tiếp nhất, công việc nhiều nhất nên sự nghiệp
14
cách mạng có thành cơng hay khơng phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ này.
Người khẳng định “Cấp xã là người gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành
chính. Cấp xã làm được việc thì mọi cơng việc đều xong xi” [11,371].
Mở rộng quan điểm về vị trí, vai trị của người cán bộ, Hồ Chí Minh
đồng thời cũng khẳng định vai trị, vị trí của người Đảng viên. Theo quan
nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và địa phương”.
2. Cán bộ là người đưa đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào
trong cuộc sống. Muốn để người dân tiếp nhận những đường lối chính sách
của Đảng cũng như chính sách pháp luật của Nhà nước, địi hỏi người cán bộ
phải có phẩm chất đạo đức sao cho để cho dân tin, dân mến, dân làm theo.
Nếu dân khơng tin thì cán bộ khơng thể tiếp cận được với dân để tìm hiểu về
dân. Muốn dân hiểu, dân làm thì người tuyên truyền phải biết cách tuyên
truyền, do đó người cán bộ tuyên truyền phải hiểu đường lối đó một cách thấu
đáo, phải có tài trong tuyên truyền, thuyết phục nhân dân một cách có lý, có
tình, làm cho họ hiểu rõ “thì việc gì khó mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy
họ cũng không sợ” [14,241]
3. Cán bộ là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của
Nhà nước và là người bày cách cho dân làm. Cán bộ không chỉ là người tổ
chức thực hiện đường lối cho nhân dân trong thời kỳ đấu tranh giành chính
quyền mà ngay cả trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Vì: đấu tranh
giành chính quyền đã khó nhưng xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa trên
các lĩnh vực lại khơng hề đơn giản. Q trình xây dựng xã hội mới là một q
trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, gian khổ bởi: Việt Nam từ một nước sản
xuất nhỏ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lại
càng khó khăn hơn các nước khác, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn,
16
năng suất lao động thấp, trình độ dân trí cịn hạn chế. Vì vậy, trong các lĩnh
vực xây dựng chính quyền kinh tế- xã hội địi hỏi phải có đội ngũ cán bộ có
năng lực để đảm nhiệm được những nhiệm vụ của cách mạng. Do đó, cán bộ
phải thật sự “nhúng tay” vào việc, cùng với nhân dân bàn bạc và tìm ra cách
giải quyết có hiệu quả nhất “việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng và giải
thích cho dân dân chúng” [14,295]
4. Cán bộ là người tổng kết thực tiễn, từ thực tiễn cuộc sống phải tiếp tục
lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới
lá cờ tất thắng của Chủ nghĩa Mác- Lênin” [19,197]. Do đó, Người ln đề
cao vai trị của quần chúng nhân dân và đặt người cán bộ trong mối quan hệ
với nhân dân “dân như nước, cán bộ như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhở ở
dân hết”. Người khẳng định “nước lấy dân làm gốc” còn “cán bộ quyết định
mọi việc” [18,480]. Sự “quyết định” ở đây là cán bộ phải đi trước, làm gương
về tư tưởng đạo đức, thái độ, lề lối làm việc. Muốn phát huy được đầy đủ tính
sáng tạo của hàng triệu quần chúng nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì
Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao
động sáng tạo của hàng chục triệu người, thì cán bộ phải đi trước, tự cải tạo
mình, tự nâng cao mình. Cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản vững chắc,
giác ngộ về Chủ nghĩa xã hội cao; phải rửa sạch ảnh hưởng của những tư
tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện tinh thần và
ý thức tập thể.
1.3. Tiêu chuẩn của ngƣời cán bộ theo Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức của người cán bộ
1.3.1.1. Người cán bộ phải có phẩm chất đạo đức cách mạng
Đây là một trong những phẩm chất hàng đầu và quan trọng bậc nhất đối
với người cán bộ làm cách mạng. Trong thời đại Hồ Chí Minh, đất nước ra,
18
dân tộc đang trải qua một giai đoạn gay go khốc liệt, vừa phải đâu tranh giành
độc lập dân tộc, vừa phải thực hiện cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, xây
dựng một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa. Đó là một q trình cải tạo xã
hội cũ, đã lỗi thời thành xã hội mới tiến bộ hơn, một cuộc đấu tranh giữa cái
mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu…đan xen, chuyển hóa lẫn nhau.
Vì vậy để hồn thành được sự nghiệp cách mạng dân tộc trước hết phải có
những người cách mạng chân chính, đủ bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn và nghị lực
để vượt qua. Người cán bộ cách mạng ấy phải lấy đạo đức cách mạng làm nền
một thế giới đại đồng. Vì thế, với Hồ Chí Minh người cán bộ, đảng viên để
hoàn thành tốt sự nghiệp mà nhân dân giao phó, thực sự xứng đáng là người
đầy tớ trung thành của nhân dân thì yêu cầu mà Người đặt ra là tinh thần hy
sinh, phục vụ nhân dân, tin tưởng và yêu mến nhân dân, quan hệ mật thiết với
nhân dân, yêu thương đồng bào, nhân loại. Người cán bộ đảng viên phải biến
tình yêu ấy thành lẽ sống: sống có tình, có nghĩa, sống có trước có sau. Người
ln căn dặn cán bộ, đảng viên phải có tình đồng chí, u thương lẫn nhau,
khơng bao che, bảo vệ nhau điều sai, điều không đúng, kéo bè, kết cánh mà
nên tơn trọng ngun tắc tự phê bình và phê bình để góp ý, sửa chữa cho nhau
một cách chân thành. Người nói “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình
có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng
cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào đồng chí, tình nghĩa năm châu
bốn biển một nhà. Biết chủ nghĩa Mác- Leenin là phải sống với nhau có tình
có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống khơng có tình có nghĩa thì sao
gọi là hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin” [13,554]. Tình yêu thương con người
trong tư tưởng Hồ Chí mInh được thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng
trước hết là tình yêu với đại đa số nhân dân, những người lao động hết sức
bình thường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị áp bức bóc lột. Yêu
20