Lời mở đầu
Lý do chọn đề tài: Đảng ta đóng vai trò lãnh đạo toàn xã hội và trong thực tế
mấy chục năm qua đã dược dân tin yêu vì “Đảng là đạo đức, là văn minh”, tiêu
biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc. Nhưng Đảng sẽ mất vai trò lãnh
đạo toàn xã hội và sẽ không được nhân dân tín nhiệm nữa nếu Đảng yếu kém,
không trong sạch, không vững mạnh. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc
thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng càng phải được đặc biệt chú ý, nó trở
thành một quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.
Tình hình nghiên cứu: thực tiễn qua hơn 20 năm đổi mới, hệ thống quan
điểm lý luận về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới luôn được bổ
sung và phát triển ngày càng hoàn thiện.
Đối tượng nghiên cứu: bao gồm hệ thống quan diểm, lý luận về cách mạng
Việt Nam trong dòng chảy của thời đại mới mà cốt lõi là sự vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay. Trên
cơ sở đó có thể làm rõ một số tồn tại cần khắc phục để Đảng ta ngày càng trở nên
trong sạch, vững mạnh.
Phương pháp nghiên cứu: Hồ Chí Minh sử dụng phương pháp biện chứng
duy vật hành động khoa học, không giáo điều, rập khuôn, máy móc hoặc xét lại,
bảo thủ trì trệ. Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta học đi đôi với hành, lý luận gắn
liền với thực tiễn, bất cứ ai làm việc gì, ở cấp bậc nào đều phải đi sâu nghiên cứu
lý luận, không ngừng học tập nâng cao trình độ, đồng thời phải coi trọng tổng kết
thực tiễn, bổ sung để làm sáng rõ cho lý luận.
Ý nghĩa của đề tài: soi đường cho Đảng và nhân dân trên con đường xây
dựng đất nước, nâng cao tư duy lý luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao
đạo đức cách mạng năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng đại của
Đảng và nhà nước ta.
Kết cấu tiểu luận: ngoài lời nói đầu và kết luận gồm hai chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và chỉnh đốn Đảng
trong giai đoạn hiện nay
Do điều kiện thời gian cũng như trình độ am hiểu về vấn đề này còn hạn chế,
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị là kiên định con đường mà Đảng và
Bác Hồ đã lựa chọn, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong
những bài học mà Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết sau mười năm đổi mới, bài
học về giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đưa lên hàng
đầu. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt trong lịch
sử lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng về tổ chức là tăng cường sức chiến đấu của Đảng từ
Trung ương đến cơ sở. Đại hội VIII của Đảng nhận định: ''Tổ chức cơ sở Đảng ở
nhiều nơi yếu kém, phương thức lãnh đạo và sinh hoạt lúng túng, có trình trạng
vừa kém dân chủ, vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương. Một số cán bộ và cấp uỷ chưa tôn
trọng và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, bệnh quan liêu, độc đoán, cục bộ,
địa phương, kèn cựa, địa vị, cá nhân chủ nghĩa rất nặng. Không ít nơi nội bộ mất
đoàn kết nghiêm trọng''.Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng muốn có hiệu quả
thiết thực, trước hết, phải gắn liền với phong trào quần chúng và phải dựa vào quần
chúng.Thông qua phong trào quần chúng, Đảng kiểm nghiệm, hoàn chỉnh và cụ thể
hoá đường lối chính trị. Và cũng từ phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng
lựa chọn những người ưu tú kết nạp vào Đảng. Thực tiễn cách mạng cho thấy nơi
nào có phong trào quần chúng mạnh mẽ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị
thì ở đó, tổ chức Đảng được phát triển và củng cố, cán bộ, Đảng viên được rèn
luyện và thử thách. Trái lại, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng làm tốt thì
phong trào quần chúng càng lớn mạnh. Quá trình phát triển và lớn mạnh của Đảng
gắn liền với sự phát triển của xã hội và sự lớn mạnh của phong trào quần chúng.
Phong trào quần chúng là cơ sở, là nguồn sống của Đảng, là mảnh đất tốt, từ đó,
Đảng lớn lên không ngừng.
Sức mạnh của Đảng và sự thắng lợi của cách mạng bắt nguồn từ chỗ Đảng luôn
luôn gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Nhân dân ta vốn rất cách mạng,
hết mực tin yêu và kính trọng Đảng. Mọi hành động của cán bộ, đảng viên đều có
ảnh hưởng đến lợi ích của nhân dân. Vì vậy, quần chúng rất mong muốn và đòi hỏi
được góp phần tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Hàng ngày, tiếp xúc với cán
bộ, đảng viên, quần chúng hiểu được và đánh giá đúng hoạt động của các tổ chức
không hề thay đổi: đó là Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, là đội tiên phong
của giai cấp vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng luôn tuân thủ những nguyên tắc của
một đảng kiểu mới: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng lý luận, kim chỉ
nam cho hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy tự
phê bình và phê bình làm quy luật phát triển; Đảng phải có kỷ luật sắt và kỷ luật tự
giác; Đảng viên phải tuân theo tôn chỉ, mục đích của Đảng và hoạt động trong tổ
chức cơ sở của Đảng…Đây là những nguyên tắc căn bản của một Đảng Cộng sản
chân chính, một đảng chiến đấu theo tổ chức và đường lối của Quốc tế Cộng sản,
khác với Đảng xã hội dân chủ, Đảng của Quốc tế II. Đây cũng là một trong những
vấn đề cơ bản, Người đã coi là một căn cứ để lựa chọn và quyết định đứng về phía
Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tua (1920)
3. Đảng Cộng sản Việt Nam là “sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước”
Ngay sau khi trở thành đảng viên Đảng cộng sản Pháp và là cán bộ của Quốc
tế cộng sản, Người đã nhận thức rõ việc thành lập ở Việt Nam một đảng cách mạng
theo nguyên tắc Đảng của Lênin và của Quốc tế Cộng sản là cần thiết, nên Người
đã quyết định phải về nước để thực hiện nhiệm vụ ấy.
Người cho rằng: xuất phát từ tình hình kinh tế, chính trị. xã hội ở Việt Nam
khác các nước phương Tây, con đường của cách mạng Việt Nam là đi từ cách
mạng dân tộc dân chủ tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào yêu nước
giải phóng dân tộc thì rộng rãi, sôi nổi, còn giai cấp công nhân thì mới hình thành,
phong trào công nhân còn non yếu; do vậy quá trình thành lập Đảng không thể chỉ
dựa vào phong trào công nhân mà còn phải dựa vào phong trào yêu nước.
Nhận thức và vận dụng đúng quy luật về sự ra đời của Đảng cộng sản Việt
Nam để hưởng tới việc thành lập Đảng thực sự là một sự sáng tạo, thể hiện quá
trình phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như của các thế hệ cộng sản Việt
Nam là từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản;
từ giác ngộ dân tộc phát triển đến giác ngộ giai cấp, kết hợp giác ngộ dân tộc với
giác ngộ giai cấp trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin.
thành sự nghiệp độc lập dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Người nhấn mạnh:
a. Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ. Mọi “quyền hành và lực lượng đều ở
nơi dân”. Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề này, cho rằng đây là điểm khác biêt
giữa Đảng cộng sản và Đảng tư sản trong cầm quyền. Đảng lãnh đạo cách mạng,
lãnh đạo chính quyền là nhằm thiết lập và củng cố quyền làm chủ của dân, mọi
quyền lực thuộc về dân. Trái với nguyên tắc đó, Đảng sẽ thoái hóa, biến chất, trở
thành Đảng đối lập với dân, đứng trên dân, trên pháp luật; còn đảng viên, cán bộ
của Đảng sẽ trở thành những “ông quan cách mạng”, những kẻ “vinh thân phù
gia”, vì quyền lợi ích kỷ của bản than, gia đình, dòng họ.
b. Đảng cầm quyền – một số lớn cán bộ, đảng viên của Đảng được giao
những nhiệm vụ trong bộ máy quyền lực, bộ máy hành chính – xã hội có quan hệ
đến quyền lực, quyền lợi. Nhưng người cộng sản không bao giờ được rời xa mục
tiêu, lý tưởng cao đẹp của mình.
c. “Nhiệm vụ của Đảng cầm quyền” khó khăn hơn, to lớn hơn, phức tạp
hơn. Đảng phải làm rất nhiều việc, phải chăm lo đầy đủ đến moi mặt của đời
sống nhân dân, từ việc nhỏ đến việc lớn.
Trong Di chúc, Người nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi
đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là
người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
6. Thường xuyên xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng
“Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà
phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ
trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính
sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh
đạo”.
Trong Di chúc (bản bổ sung tháng 5- 1968), Người chủ trương rằng: “Việc
cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục
đích của xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng là nhằm làm cho Đảng luôn trong sạch,
hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh” theo đúng nguyện ước của Bác Hồ. Vì vậy, càng
đòi hỏi chúng ta phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về chỉnh đốn, xây dựng
Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong
tình hình mới.
Thời gian qua, Đảng ta có rất nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng và coi xây
dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Công tác xây dựng Đảng ở các tổ chức cơ sở
Đảng đã có nhiều chuyển biến, tuy nhiên, nhìn chung việc thực hiện chưa đạt được
kết quả như mong muốn. Để đạt được hiệu quả cao trong công tác này, trước hết,
phải làm cho các tổ chức Đảng thật sự tiên phong về đạo đức cách mạng. Toàn
Đảng và mỗi đảng viên phải kiên định mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, luôn đặt lợi ích của dân tộc, của
giai cấp lên trên hết, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng là phải giáo dục đảng viên, cán bộ
nêu cao đạo đức “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, làm cho Đảng thật sự
trong sạch. Bên cạnh đó, phải làm cho Đảng thật sự tiên phong về trí tuệ và năng
lực tổ chức thực tiễn, thật sự tiêu biểu cho đỉnh cao trí tuệ của giai cấp công nhân
và của dân tộc Việt Nam. Tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi Đảng phải không
ngừng nâng cao trình độ mọi mặt. Phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác -
Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở nắm vững lý luận với tư cách là kim
chỉ nam ấy, cần coi trọng nâng cao kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, nhất là
khoa học quản lý, khoa học kinh tế, lịch sử nước ta và thế giới, tình hình và xu thế
của thời đại. Đồng thời, nâng cao kiến thức về khoa học và công nghệ hiện đại,
nhất là những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước. Kết hợp nâng cao trình độ lý luận, nhận thức với tổng
kết kinh nghiệm thực tiễn nước ta và tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của
thế giới để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, sáng
tạo, đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: Muốn Đảng mạnh, phải thực hiện
với yêu cầu mới của cách mạng là nhiệm vụ then chốt, quyết định.
2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí minh về đổi mới và chỉnh đốn Đảng
Đảng Cộng sản VN là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là
đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc VN; đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng lên ngang tầm với yêu cầu
và nhiệm vụ của tình hình mới là đòi hỏi có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân
dân ta.
2.1 Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng trong điều
kiện mới.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu đôc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tổng kết
thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đế do cuôc
sống đặt ra.
Nâng cao trình độ trí tuệ, chất lượng nghiên cứu lý luận của Đảng, tiếp tục
làm sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội của nước ta, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối, chính sách của Đảng
trong thời kỳ mới. Đổi mới công tác giáo duc lý luận chính trị, tư tưởng trong
Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp, đổi mới
nội dung, phương pháp hoc tập và giảng dạy trong hệ thống trường chính trị, nâng
cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình.
Củng cố, nâng cao chất lượng các cơ quan chuyên ngành về công tác tư
tưởng, lý luận. Tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận,
nhất lf cán bộ chủ chốt. tiến hành đồng bộ công tác tư tưởng, công tác lý luận, gắn
các công tác này với công tác tổ chức – cán bộ, với phát triển kinh tế, giải quyết
hài hòa các lợi ích. Gắn “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính. Đặc biệt quan
tâm chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Kiên quyết đấu tranh
bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan
Thường xuyên sang lọc đảmg viên. Động viên quần chúng giám sát, đóng
góp ý kiến về đảng viên, lịp thời đưa ra khỏi Đảng những nghười không đủ tư
cách.
2.3 Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng,
thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, nâng cao chất lượng và
hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.
Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật trong Đảng. Mọi cán bộ,
đảng viên có quyền bàn bạc, tham gia quyết định công việc của Đảng, quyền được
thông tin, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức, khi đã thành
nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết của Đảng.
Các cấp lãnh đạo, cán bộ lãnh đạo phải thật sự lắng nghe ý kiến của cấp
dưới, của đảng viên và nhân đân. Xây dựng quy chế ra quyết định của Đảng, bảo
đảm phát huy trí tuệ tập thể, có cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến đối với những
quyết định lớn, tham gia giám sát Đảng, tham gia các công việc của Đảng, khắc
phục lối làm việc quan lieu, xa dân.
Hoàn thiện quy chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá
nhân, của tổ chức đối với tổ chức, của cá nhân đối với cá nhân và tổ chức, kể cả
đối với người lãnh đạo chủ chốt và tổ chức cấp trên. Kết hợp giám sát trong Đảng
với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân.
Xxây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối
với công tác tổ chức và cán bộ.
Đổi mới phương phápkiểm tra và bổ sung chức năng giám sát cho ủy ban
kiểm tra Đảng các cấp. Tăng cường công tác kiểm tra phòng ngừa. Xây dựng quy
chế phối hợp công tác giữa Ủy ban kiểm tra của Đảng với Thanh tra của Chính
phủ.
2.4 Đổi mới công tác cán bộ.
Cán bộ phải là người có đức, có tài, có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối
trung thành với Tổ quốc với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của
phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế: thực hiện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.
Khâu mấu chốt cần tập trung hiện nay là đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước ở cấp trung ương và chính quyền ở cấp địa phương. Đảng
lãnh Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết, quyết định, nguyên tắc
giải quyết những vấn đề trọng đại về quốc kế dân sinh. Lãnh đạo thể chế hóa, cụ
thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng thàmh hiến
pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước. Xây dựng
Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Bố trí
đúng cán bộ ngang tầm nhiệm vụ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
Đảng không buông lỏng lãnh đạo, đồng thời không bao biện, làm thay Nhà
nước. Trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong
quản lý đất nước và xã hội.
Khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ
thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trng từng
lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức Nhà
nước.
Lãnh đạo viêc cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu
quả các nghị quyết của Đảng. Ra nghị quyết đi liền với đề ra các kế hoạch thực
hiện nghị quyết.
Sớn xây dựng quy chế về sự phối hợp giữa kiểm tra của Đảng với Thanh tra
của chính phủ, kịp thời kết luận các vụ vi phạm, xử lý đúng người, đúng tội, đúng
điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Xây dựng quy chế phối hợp công tác giữa các ban tham mưu của cấp ủy
đảng và cơ quan chính quyền tương ứng cùng cấp, nhất là giữa văn phòn trung
ương Đảng, văn phòng Quốc hội, văn phòng Chíng phủ, văn phòng Chủ tịch nước,
giữa văn phòng cấp ủy và văn phòng hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dan các cấp.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân, giúp mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương
hướng phát triển và nội dung hoạt động tronh từng thời kỳ, đồng thời phát huy tinh
bộ, đảng viên và việc xử lý kỷ luật Đảng có tiến bộ.
3.2 Khuyết điểm.
Trong điều kiện cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với bên
ngoài, cán bộ , đảng viên, hành ngày, hàng giờ chịu sự tác động nhiều nhân tố phức
tạp, kể cả những hoạt động chống phá Đảng, vấn đề giữ vững bản chất giai cấp
công nhân của Đảng đứng trước những thách thức mới. Song, Đảng thiếu sự chuẩn
bị đầy đủ cho bước chuyển này, chưa chú ý đúng mức vấn đề giáo dục, rèn luyện
phẩm chất chính trị và đạo đưc đi đôi với cán bộ, đảng viên. Một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác,
giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa dọa về đạo đức và lối sống. Một số
thóa hóa về chính trị, tuy rất ít nhưng hoạt động của họ gây hậu quả hết sức xấu.
Trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo của Đảng có mặt chưa theo kịp yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới. Còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được làm
sáng tỏ.
Tổ chức cơ sở Đảng ở nhiều nơi yếu kém, có nơi tê liệt, phương thức lãnh
đạo và sinh hoạt lúng túng, có tình trạng vừa kém dân chủ vừa thiếu kỷ luật, kỷ
cương. Một số cán bộ va cấp ủy chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ, bệnh quan liêu, độc đoán, cục bộ, địa phương, kèn cựa, địa vị cá
nhân chủ nghĩa rất nặng. Không ít nơi nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng.
Công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, quan điểm chỉ thị, nghị quyết
của Đảng chưa được chú trọng.
Để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ của mình, Đảng ta phải tiếp tục sự
đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của
mình, khắc phục cho được các khuyết điểm, các biểu hiện tiêu cực và yếu kém.
Đảng phải mạnh từ trung ương đến cơ sở, ở tất cả các cấp, các ngành.
Kết luận
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, chủ tịch Hồ Chí Minh thường
xuyên quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng phải là đội tiên
phong của giai cấp và dân tộc, phải hoàn thiện mình để lãnh đạo đất nước. Mỗi khi
cách mạng chuyển giai đoạn chiến lược, Người đều nhắc nhở phải chỉnh đốn Đảng,