1
- 2012
2
- 2012 3
6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài. 11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12
6. Đóng góp mới của đề tài. 12
7. Kết cấu của đề tài 12
NỘI DUNG 14
14
14
14
1.1.1 Con người là vốn quý nhất 19
1.1.2. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng 21
1.1.3. Có mục tiêu, phương hướng đúng đắn sáng tạo để giải phóng con
người, phát triển con người. 25
1.1.4. Kết hợp giải phóng con người về mặt chính trị với giải phóng con
người về mặt kinh tế, văn hóa. Không ngừng phát triển sản xuất để không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 29
1. 2. Quan nim ca H Chí Minh v chic "tri" và mc
a giáo dc trong chic. 35
1.2.1. Chiến lược" trồng người" của Hồ Chí Minh 35
1.2.2. Hồ Chí Minh bàn về vai trò, mục đích của giáo dục trong chiến lược "
trồng người" 37
1.2.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các lực lượng tham gia giáo dục 41
92
5
BCHTW Ban chấp hành Trung ương.
CNH Công nghiệp hóa.
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
CNXH Chủ nghĩa xã hội.
CNTB Chủ nghĩa Tư bản.
CTQG Chính trị quốc gia.
ĐH Đại học.
ĐHQG Đại học quốc gia
GDP Tổng sản phẩm trong nước.
HDI Chỉ số phát triển con người.
HĐH Hiện đại hóa.
Nxb Nhà xuất bản.
TBCN Tư bản chủ nghĩa.
WTO Tổ chức thương mại thế giới.
WDI Chỉ số phát triển thế giới.
XHCN Xã hội chủ nghĩa.
việc giải quyết các vấn đề chung và các vấn đề cụ thể của cách mạng Việt
7
Nam trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần làm
phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối mà Đảng vạch ra.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào
tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư
cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển" [24, tr.77] .Vậy muốn tiến hành
CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn
lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững.
"Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta" [21, tr.21].
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nảy sinh nhiều vấn đề phức
tạp, khó khăn đòi hỏi phải làm sáng tỏ thì việc nghiên cứu, bảo vệ, vận dụng
và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế
cuộc sống càng trở lên cấp bách, quan trọng.
Vậy, với lý do trên tác giả chọn chủ đề: "
(1991-2011)" làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược "trồng người" là
một chủ đề hấp dẫn, được các nhà khoa học rất quan tâm nghiên cứu. Các tác
giả đã đạt được những thành tựu quan trọng khi nghiên cứu về chủ đề này.
Những thành tựu đó có thể khát quát với những nét cơ bản sau:
2.1. Luận án, luận văn
Tác giả Lê Quang Hoan (2001) Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài, Tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người với phát huy nhân tố con người trong CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay.
Minh về giáo dục và đào tạo" ban biên soạn gồm PGS, TS Lê Văn Tích, TS
9
Nguyễn Thị Kim Dung, CN Trần Thị Thuần đã góp phần vào công tác nghiên
cứu tư tưởng, kinh nghiệm Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo để "tạo được
chuyển biến cơ bản về giáo dục đào tạo" như Nghị quyết Đại hội đại biểu lần
thứ X đã chỉ ra và đáp ứng yêu cầu của nhiều độc giả.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Nxb
Công an Nhân dân, năm 2004 của tác giả PGS - TS Nguyễn Bá Linh có mục
X nói về Tư tưởng chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau của Hồ
Chủ Tịch; "Tìm hiểu công tác khoa giáo trong tình hình mới" Chủ biên Đặng
Hữu, Đỗ Nguyên Phương, Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Nguyễn Hữu
Tầng Nxb CTQG, Hà Nội 2003; Tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
(dùng cho cán bộ chủ chốt), Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2003 của Ban tư
tưởng Văn hoá Trung ương; Đảng Cộng sản Việt Nam: - Văn kiện Hội nghị
Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X (Hội nghị lần thứ ba, tư, năm, sáu,
bảy và chín) Nxb CTQG, Hà Nội 2009.
"Nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư
tưởng Hồ Chí Minh" Nxb CTQG, Hà nội 2010 của tiến sĩ Lương Thùy Liên.
Nội dung cuốn sách đi sâu phân tích sự thống nhất biện chứng trong nguyên
tắc giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một trong
những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Trong công cuộc đổi
mới đất nước hiện nay, bài học về nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai
cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đối với
quá trình xây dựng và bảo về Tổ quốc Việt Nam XHCN.
2.3. Các bài báo đăng trên các tạp chí.
Nguyễn Văn Huyên, "Cội nguồn và bản chất trong tư tưởng nhân văn
Hồ Chí Minh", Tạp chí Triết học, số 4, 1996
Nguyễn Tuấn Dũng, "Hồ Chí Minh về chiến lược trồng người trong
cách mạng Việt Nam", Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5, 2000
11
- http://www.gso.gov.vn
.
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích một cách khái quát những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược "trồng người", luận văn làm
sáng tỏ thực trạng chiến lược " trồng người" trong quá trình giáo dục - đào tạo
ở nước ta những năm qua, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế, tìm nguyên
nhân để từ đó đề xuất những giải pháp phát triển giáo dục - đào tạo trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
3.2.Nhiệm vụ
Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và chiến lược "trồng người", giá trị của những quan điểm đó
Làm rõ thực trạng chiến lược "trồng người' trong quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước.
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục -
đào tạo trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
4.1. Đi tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược "trồng người" thể
hiện trong các bài phát biểu, bài viết, các tác phẩm, hoạt động thực tiễn của
Người
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chiến lược "trồng người";
Thực trạng chiến lược "trồng người' trong quá trình đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước;
Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược
"trồng người, luận văn tập trung nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
và chiến lược "trồng người" vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước(1991 - 2011)
14
1.1. Quan niệm cơ bản của Hồ Chí Minh về con người
Suốt cuộc đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng con người, Hồ Chí Minh quan tâm đến luân lý cách
mạng, đạo đức làm người. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con
người, nhưng quan niệm về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú,
trở thành một vấn đề xuyên suốt, trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người.
Ngoài ra còn những quan hệ vô cùng quan trọng khác như: giữ được
mình (tính độc lập, tự chủ) hay đánh mất mình (tha hoá). Bản thân mỗi con
người cũng từ mối quan hệ riêng và từ vị trí riêng của mình mà có những cách
nhìn nhận, cảm nhận khác nhau.
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm
trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa, khái quát hóa, mà được đề cập đến
một cách cụ thể. Đó là nhân dân Việt Nam vào những năm 20 của thế kỷ XX
- những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị
của phong kiến, đế quốc Pháp; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ
nghĩa thực dân. Mở rộng hơn nữa là những "người nô lệ mất nước", "người
cùng khổ". Lôgíc phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh là xuất phát từ chủ
nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế chân
chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí
Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản cách mạng". Người đề cập đến
giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó
với các tầng lớp nhân dân lao động khác, đặc biệt là nông dân. Người nhận
thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất - cách mạng vô
sản và tất yếu đạt tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
16
phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng,
lý luận bàn về cách mạng Việt Nam về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng
thực tiễn tư tưởng về con người Việt Nam của Hồ Chí Minh.
Có thể nói, khái niệm "con người" tựa hồ như đã mở ra và khép lại quá
trình tư duy và hoạt động của Hồ Chí Minh. Suốt quá trình ấy, vấn đề giải
phóng dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người, xây dựng và rèn
luyện con người bao giờ cũng là trung tâm của tư duy, mục tiêu của mọi hoạt
động yêu nước và cách mạng của Hồ Chí Minh. Con người - độc lập - tự do
và hạnh phúc của con người, đó là mục tiêu cao nhất và thường xuyên; vì nó
mà Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn cuộc đời của mình: "Tôi chỉ có một sự
Chính vì vậy sự gặp gỡ giữa Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là
điều rất tự nhiên. Tư tưởng của Người phù hợp với hệ tư tưởng lớn nhất của
thời đại. Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường để thực hiện
ước muốn của Người là giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, đế quốc Pháp
và giải phóng những người cần lao khỏi chế độ người áp bức bóc lột người và
suốt đời phấn đấu cho mục tiêu cao quí đó, bất chấp mọi khó khăn gian khổ,
kể cả sự đe dọa đến tính mệnh của mình.
Hồ Chí Minh không chỉ yêu thương những người bị áp bức bóc lột mà
còn nhận thấy một cách sâu sắc sức mạnh và tiềm năng cách mạng to lớn của
họ. Theo Người nếu họ được thức tỉnh và tổ chức lại, có sự lãnh đạo đúng đắn
của một đảng cách mệnh thì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
nhất định sẽ thành công. Ngay từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã thấy ở nhân dân
bị áp bức, bóc lột, gầy còm xơ xác ấy cái sức mạnh lấp biển vá trời, đã thấy ở
họ trí tuệ lớn lao. Người đã chỉ ra rằng: " Đằng sau sự phục tùng tiêu cực,
người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ
một cách ghê gớm, khi thời cơ đến" [40, tr.28].
Ở Hồ Chí Minh là cả một tình thương bao la rộng lớn. Trong tình
thương yêu đó có chỗ cho mọi người, không sót một ai. Lòng nhân ái và tình
18
người của Hồ Chí Minh sâu thẳm như biển cả, nhưng lại gần gũi, thiết thực
như nắm gạo, hạt muối; Hồ Chí Minh vĩ đại và cao cả nhưng lại rất đỗi bình
dị, thân thương. Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh trong suốt như pha lê, sáng
như sao Khuê. Sống khiêm tốn giản dị, hoà nhập, không chút mảy may màng
danh lợi cho bản thân. Sự bình dị, khiêm tốn của Người làm cho biết bao
người nước ngoài phải ngạc nhiên, coi như thần thoại. Một lãnh tụ nổi tiếng
của Ấn Độ, Thủ tướng Indira Gandi viết: Đức độ, tính giản dị, tình yêu nhân
loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Hồ Chủ tịch sẽ cổ vũ thế hệ mai
sau.
Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố
Người. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định con người là vốn quý nhất ;
chăm lo hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ
ta. Bởi vậy, phải hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam và con người Việt Nam
không phải là hai phạm trù tách rời nhau mà là sự gắn kết chặt chẽ. Đảng vì
nhân dân, nhân dân cần sự lãnh đạo của Đảng và bảo về đóng góp xây dựng
Đảng.
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người lao động, là nhân
dân cần lao. Bác đã từng sống thời thơ ấu ở làng quê nghèo đói, Bác càng
hiểu hơn ai hết về nỗi khổ của người dân mất nước, người dân nô lệ sống dươí
roi vọt và sự trà đạp nhân phẩm con người. Người đã quyết tâm ra đi tìm
đường cứu nước, cứu nhân dân thoát khỏi ách nô lệ. Không chỉ hơn 90%
nông dân Việt Nam và nông dân cả châu Phi và châu Úc trong trái tim của
Người dành đủ chỗ cho tình thương đối với mọi người, không chỉ từ em bé
đến cụ già của nước mình mà cả năm châu bốn biển.
Những luận điểm của Hồ Chí Minh về con người nói chung và con
người là vốn quý nhất là sự hun đúc, chắt lọc những thành quả trí tuệ loài
người qua các thời đại và được nâng lên tầm cao trên cơ sở của thế giới quan
khoa học và nhân sinh quan cách mạng. Người nhìn nhận tin tưởng con người
20
là nhân tố quyết định tiến bộ xã hội, quyết định sự thành công của sự nghiệp
giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới. Không chỉ khẳng định vai trò to lớn
của nhân dân, Người còn tôn vinh nhân dân: Trong bầu trời không có gì quý
bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của
nhân dân. Người chỉ rõ: Nhân dân là người xây dựng, là người đổi mới, làm
nên sự nghiệp lớn, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nhân dân. Ham muốn
tột bậc của Người là làm cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người cho rằng: Nếu nước đã được độc
lập mà dân không có tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy, trong
Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta phải có kế hoạch thật tốt để phát triển
thấy rõ tính độc lập của nó. Mục tiêu cốt lõi phấn đấu của Hồ Chí Minh cho
con người Việt Nam là độc lập cho dân tộc, tự do cho hạnh phúc cho nhân
dân. Đó là mục tiêu xuyên suốt và nhất quán trong cả lý luận và hành động
của Người.
Trong khi khẳng định mục tiêu cách mạng là giải phóng con người,
mang lại tự do, hạnh phúc cho con người, Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng
định sự nghiệp giải phóng là do chính bản thân con người thực hiện. Đây là tư
tưởng chủ đạo bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát
đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, trước khi bí mật rời
Pari sang nước Nga Xôviết, (tháng 6 - 1923), Nguyễn Ái Quốc viết: " Chúng
ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân.
Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và
giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta.
…Chúng ta phải làm gì?
Đối với tôi, câu trả lời rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức
tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự
do độc lập"[40, tr.191 - 192]. Như vậy, quần chúng nhân dân không chỉ đơn
22
thuần là đối tượng giải phóng mà họ còn phải đồng thời là chủ thể giải phóng,
mục đích giải phóng. Họ cần được tôi luyện, thử thách và trưởng thành trong
cuộc đấu tranh vì quyền lợi của chính mình.
Với lý tưởng đó, suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Mính không làm bất cứ một
việc gì khác ngoài mưu cầu tự do - hạnh phúc cho nhân dân. Chính vì vậy,
Nguyễn Ái Quốc là ngòi bút viết nhiều nhất tố cáo chế độ thực dân, bênh vực
mạnh nhất quyền của các dân tộc bị áp bức, đấu tranh không khoan nhượng
giành lại nhân phẩm và tự do cho con người.
Hồ Chí Minh xác định: "cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ
không phải việc một hai người" [41, tr.261-262]. Tuy nhiên dân chúng cũng
tiêu lâu dài của đất nước, trong đó độc lập là điều kiện xây dựng CNXH,
CNXH củng cố độc lập, thì độc lập - tự do, ấm no - hạnh phúc là mục tiêu cho
con người Việt Nam, trong đó độc lập - tự do là điều kiện để cho ấm no -
hạnh phúc củng cố thêm giá trị độc lập - tự do.
Con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người. Có
thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ
phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân. Với hoạt động thực tiễn thì "việc gì lợi
cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh" [43,
tr.47]. Hồ Chí Minh tin ở dân còn xuất phát từ niềm tin vào tình người. Đã là
người cộng sản thì phải tin nhân dân và niềm tin quần chúng sẽ tạo nên sức
mạnh cho người cộng sản. Lòng tin của Hồ Chí Minh vào đồng bào mình là
có sở khoa học. Người tin vào:
- Truyền thống lịch sử của dân tộc và của con người Việt Nam - sức
mạnh của lòng yêu nước nồng nàn, bất kể thuộc giai tầng nào trong xã hội -
sức mạnh dân tộc;
- Vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam: sức
mạnh giai cấp, sức mạnh quốc tế
24
Hai sức mạnh đó khi được gắn bó, thống nhất sẽ trở thành sức mạnh vô
địch cho cách mạng Việt Nam.
Con người vừa là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi
cả nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông
dân. Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây
dựng CNXH.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh không phải mọi con người đều trở
thành động lực, mà phải là những con người được giác ngộ và tổ chức. Họ
phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hoá, đạo đức, được nuôi dưỡng trên truyền
thống lịch sử và văn hoá hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam …Chính trị,
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong nhận thức
của Người mới còn ở phạm vi của đất nước mình. Nhưng cuộc hành trình tới
các nước khác để xem "họ làm thế nào" nhằm "trở về giúp đồng bào chúng
ta", đã mở rộng nhận thức của Người.
Qua khảo sát thực tế, bằng lao động thực sự, kéo dài hàng chục năm,
trên các lục địa, cùng với nhân dân của nhiều chủng tộc, màu da, ở các quốc
gia có nền văn minh kỹ thuật cao và cả dân tộc còn chìm đắm trong vòng lạc
hậu và nô lệ. Đây là cơ sở để sau này Người đi tới nhận xét: " Vậy là, dù màu
da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và
giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi:
tình hữu ái vô sản" [40, tr. 266]. Chính sự nhìn nhận có tính quốc tế về vấn đề
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người vì mục tiêu
độc lập dân tộc đã giúp Người nhận thấy vấn đề lớn nhất bao trùm tất cả các
dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam, suốt hơn 50 năm đầu của thế kỷ
XX là vấn đề dân tộc thuộc địa, kinh tế chưa phát triển, nông dân chiếm 95%
số dân, giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dân tộc đang trong bước đầu
hình thành, cả dân tộc chìm đắm trong đêm dài nô lệ. Do đó, nếu ở phương
Tây, các nhà kinh điển Mácxít cho rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải