BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG
NGHỆ CẤP CƠ SỞ
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN
GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO TRONG CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mã số đề tài: CS.2011.19.10
Chủ nhiệm đề tài:
T.S. NGUYỄN NGỌC KHÁ
TP. HỒ CHÍ MINH- NĂM 2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................ 2
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 7
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................................... 7
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài ............................................................................. 8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................10
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .....................................................................10
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ............................................................................11
5. Kết cấu của đề tài .................................................................................................................11
Chương 1 : Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo................. 12
1.1. Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo ..............12
1.1.1. Truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam ..........................................................12
1.1.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại .......................................................................................13
1.1.3. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo và công tác tôn giáo ............15
2.3.3. Phát huy bài học kinh nghiệm trong công tác tôn giáo đã được tích lũy ............68
2.3.4. Đẩy mạnh công tác tư tưởng trong quản lý xã hội về tôn giáo .............................69
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 74
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo trong
công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Mã số:
CS.2011.19.10
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Ngọc Khá
E-mail:
Tel : 091.802.9.802
Cơ quan và cá nhân phối hợp: Không
Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm TP. Hồ
Chí Minh.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 06/2011 đến tháng 06 năm 2012.
1. Mục tiêu:
Khảo sát và lý giải tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, từ đó nêu
Duration: From June 2011 to June 2012
1. Objectives:
The Investigation and the explanation of Ho Chi Minh ideology for religion and
religious activities, which show the application of
his great ideas in the process of
renovation in Vietnam today.
2. Main contents:
- Ho Chi Minh ideology to religion and religious activities.
- The application of Ho Chi Minh ideology to religion and religious activities in the
process of renovation in Vietnam today: The reality, orientations and solutions.
3. Results obtained:
- Science report: “The application of Ho Chi Minh ideology to religion and religious
activities in the process of renovation in Vietnam today”
- CD of the materials collected
- Journal article
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia thống nhất có nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng khác
nhau. Do đặc điểm vị trí địa lý, lịch sử nên sự hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, vai trò
xã hội cũng như tác động chính trị của các tôn giáo ở nước ta cũng khác nhau. Sự tồn tại,
hoạt động của các tôn giáo làm phong phú bộ mặt văn hóa tinh thần của đất nước. Chính vì
vậy, ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ
chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước
công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu
tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối
đại đoàn kết toàn dân tộc” [17, 81].
Chính vì thế, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo
có ý nghĩa quan trọng trong công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn, góp phần thực hiện
tốt công tác tôn giáo của Đảng.
Do đó, tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn
giáo trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học của
mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò là kim chỉ nam
cho đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã
trở thành đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đặc biệt, trong đó có nhiều công
trình nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo ở những góc
độ khác nhau.
Các công trình của các tác giả như Đào Phan, Đạo Khổng trong văn Bác Hồ, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2004: Công trình này chủ yếu nói đến sự ảnh hưởng của Nho giáo đối
với tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh trong suốt thời gian từ 1921 khi Người giới thiệu
Học thuyết Khổng Mạnh trên Tạp chí Cộng sản của Quốc tế ba cho đến năm 1969; Tác phẩm
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo do Hoàng Thông sưu tầm và biên soạn, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2004: Tác giả chủ yếu trích dẫn những bức thư và câu nói
của Người khi nói chuyện với đồng bào Công giáo hoặc với các vị chức sắc tôn giáo;
Tác phẩm Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, Nxb Khoa học xã hội, Hà
nội, 1998 đã bàn về cách tiếp cận của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; Tác giả
Nguyễn Đức Lữ với công trình Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam,
Nxb Tôn giáo, 2007 đã tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo và
tôn giáo, các vấn đề mấu chốt của công tác tôn giáo và vận dụng cụ thể tư tưởng của Người
trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay thì các công trình còn thể hiện một cách mờ nhạt.
Chính vì vậy, công trình này góp phần làm rõ hơn và hệ thống hóa nội dung tưởng Hồ
Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, từ đó đưa ra những định hướng cơ bản và những
giải pháp chủ yếu trong sự vận dụng tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công
tác tôn giáo, từ đó nêu lên những định hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu trong việc
vận dụng tư tưởng của Người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện được mục đích trên đây, đề tài cần phải thực hiện những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn
giáo.
Hai là, trình bày những tư tưởng cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và
công tác tôn giáo.
Ba là, nêu lên thực trạng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công
tác tôn giáo trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Bốn là, nêu lên những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu của sự vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong công
công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của công trình là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật
lịch sử, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn
giáo và công tác tôn giáo.
Phương pháp xuyên suốt mà tác giả sử dụng là phương pháp biện chứng duy vật;
ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp thống nhất giữa phân tích và tổng hợp, lịch
sử và lôgíc, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa,....
cơ sở xuất phát và sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung hết sức
phong phú và sâu sắc. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt
Nam đều được tiếp nhận, khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước. Hồ Chí Minh khi
tiếp cận các học thuyết chính trị, tôn giáo đã sử dụng lăng kính ấy để tiếp biến những giá
trị tích cực thành cái riêng cho dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [49, 171 – 172].
Truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần, mà
đã phát triển thành chủ nghĩa dân tộc chân chính, là cốt cách của lịch sử dân tộc. Chủ
nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức và
hành động của mỗi người. Chính truyền thống yêu nước đó đã thúc đẩy người thanh niên
Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước. Chính Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội
dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước, đối với Người, là gắn liền với yêu nhân dân, là
“ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Thứ hai, tư tưởng nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân, tương ái.
Đó là những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh
đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng
minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình, có nghĩa.
Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí,
tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà.
Hồ Chí Minh chỉ rõ đời sống mới là phải “cần, kiệm, liêm, chính”, giữ được thuần
phong mỹ tục, “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”, “tối lửa tắt đèn có
nhau”. Nếu một mình no ấm mà để đồng bào xung quanh đói rét… thì dù giàu cũng không
hưởng được. Người khuyên cán bộ, đảng viên khi cư xử với đồng bào thì cần phải thành
đánh giá cao những đóng góp của chủ thuyết Tam dân và khẳng định: “Độc lập – tự do –
hạnh phúc” là tư tưởng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Văn hóa phương Tây được Hồ Chí Minh tiếp nhận đồng thời với quá trình tiếp thu
chủ nghĩa Mác – Lênin, là một phần hết sức quan trọng trong tư tưởng của Người, xét cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu tư tưởng. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước đã giúp Hồ
Chí Minh tiếp cận và chịu ảnh hưởng nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.
Những tư tưởng về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ; tư tưởng về
tự do, bình đẳng, bác ái của các nhà Khai sáng Pháp,…đóng vai trò quan trọng về mặt lý
luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo.
Nắm được quy luật hình thành và phát triển của văn hóa, Hồ Chí Minh cho rằng, đã
là văn hóa thì phải giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hóa của các dân tộc khác. Người nói:
“Ta phải “giữ cốt cách dân tộc, còn phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt
là phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa
xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam
để hợp với tinh thần dân chủ”[48, 163].
Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc và
vận dụng tinh hoa đó một cách phù hợp vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, vì mục đích
không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình, mà còn góp phần tích cực vào sự
nghiệp giải phóng nhân loại.
1.1.3. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo và công tác tôn giáo
Về bản chất của tôn giáo:
Chủ nghĩa Mác- Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội
phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua hình thức phản ánh của
tôn giáo, những hiện tượng tự nhiên trở thành lực lượng siêu nhiên. Điều này đã được Ph.
Ăngghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong
đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày
của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những
lực lượng siêu trần thế” [42, 437].
tôn giáo đã phủ định sức mạnh ở chính con người. Với tôn giáo, con người chỉ là “con cừu
bé nhỏ”, là “chúng sinh đau khổ”, cần được “chǎn dắt”, “cứu vớt”, “giải thoát”. Tôn giáo
có lý tưởng mang lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, nhưng không phải ở thế giới
trần gian, trần tục, mà là ở “thế giới bên kia”.
Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin
về tôn giáo để giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam một cách đúng đắn, sáng
tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Về nguồn gốc của tôn giáo:
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội và khi nghiên cứu vấn đề này, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã sớm nhận ra tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề liên quan đến
tôn giáo đối với sự nghiệp giải phóng giai cấp và nhân loại. Để giải quyết vấn đề tôn giáo,
hai ông đi tìm nguồn gốc hình thành và cơ sở tồn tại của tôn giáo.
* Nguồn gốc kinh tế- xã hội:
Dựa vào quan điểm duy vật về lịch sử, C. Mác và Ph. Ăngghen đã coi tôn giáo là một
hiện tượng xã hội tùy thuộc vào sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội.
C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ ra nền tảng cho sự tồn tại của tôn giáo là những xã hội cụ
thể với những mối quan hệ vật chất và tinh thần. Trong đó, sản xuất vật chất là cơ sở
khách quan quyết định mọi quan hệ xã hội, quan hệ tôn giáo. Căn nguyên sâu xa của sự
tồn tại tôn giáo chính là sự bất hợp lý trong mối quan hệ giữa người với người. Sự tha hóa
lao động cùng với bất lực của con người trước những chà đạp và bóc lột của chính đồng
loại là một trong những nguyên nhân đưa con người đến với tôn giáo.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp kém,
con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên. Vì vậy, người nguyên thủy đã
gán cho thiên nhiên một sức mạnh siêu nhiên.
Khi chế độ tư hữu xuất hiện, giai cấp được hình thành, các mối quan hệ xã hội ngày
càng phức tạp và con người càng chịu tác động của những yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may
rủi,…thì con người lại bị động, bất lực trước những lực lượng tự phát nảy sinh trong xã
hội. Sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, những bất công xã hội - đó là nguồn
Nhưng không chỉ sự sợ hãi trước sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội đã dẫn con
người đến nhờ cậy thần linh, mà ngay cả những tình cảm, tâm lý tích cực như tình yêu,
lòng biết ơn, sự kính trọng,… nhiều khi cũng được thể hiện qua tín ngưỡng, tôn giáo.
Về công tác tôn giáo:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, công tác tôn giáo là khái niệm dùng để
chỉ những công việc, những nhiệm vụ, những hoạt động liên quan đến việc giải quyết các
vấn đề tôn giáo của một quốc gia theo những quy định, chuẩn mực pháp lý của quốc gia
ấy.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định bản chất sâu xa của công tác tôn giáo là “tính
chất quần chúng của tôn giáo”. Do vậy, công tác vận động quần chúng là nội dung cốt lõi,
là một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của công tác tôn giáo. Trong Bản thảo
kinh tế- triết học năm 1844, C. Mác viết: “Chủ nghĩa vô thần phủ định thượng đế và đặt
thành định đề sự tồn tại của con người thông qua sự phủ định đó, nhưng chủ nghĩa xã hội
như chính nó không cần đến cầu nối đó” [43, 63].
Khi viết Góp phần phê phán dự thảo cương lĩnh năm 1891 của Đảng Dân chủ xã
hội, Ph. Ăngghen đã phê phán nghiêm khắc chủ trương cấm đoán tôn giáo của Đuyrinh;
kịch liệt phê phán quan điểm vô thần quá khích của phái Blăngki – một phái cực tả trong
Công xã Pari.
V. I. Lênin là người kế thừa, bảo vệ và phát triển học thuyết của C. Mác và Ph.
Ăngghen một cách xuất sắc. V. I. Lênin có nhiều đóng góp trong việc thể chế hóa quyền
tự do tôn giáo, tín ngưỡng của công dân, nhất là trong môi trường xã hội chủ nghĩa. V. I.
Lênin đặc biệt lưu ý tuyệt đối tránh lối đấu tranh chống tôn giáo một cách trừu tượng, mà
phải căn cứ vào điều kiện thực tế và chú ý công tác giáo dục quần chúng.
V. I. Lênin phê phán gay gắt những phần tử tả khuynh, vô chính phủ khi chúng tuyên
chiến với tôn giáo. Trái lại, V. I. Lênin cho rằng cần phải có thái độ mềm dẻo và khôn
khéo, bởi vì: "tuyên chiến ầm ĩ... với tôn giáo là dại dột" [39, 512].
Nguyên tắc cơ bản trong công tác tôn giáo được V. I. Lênin chỉ rõ: “Đấu tranh chống
lại các thành kiến tôn giáo thì phải cực kỳ thận trọng; trong cuộc chiến đấu này, ai làm tổn
sát và phê phán tinh tường. Đặc biệt, Người có tình thương yêu nhân dân sâu sắc, có lòng
tin mãnh liệt vào nhân dân, có tác phong giản dị, khiêm tốn, gần gũi, hòa mình với quần
chúng và sức cảm hóa kỳ diệu đối với mọi người.
Chính những phẩm chất cao đẹp ấy đã giúp cho Người phân tích, tổng kết phong trào
yêu nước từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX để tự tìm một hướng đi mới cho cách mạng
Việt Nam. Cũng chính điều đó đã thôi thức Nguyễn Tất Thành ở tuổi 20 ra đi tìm đường
cứu nước, cứu dân, giải phóng cho dân tộc Việt Nam.
Từ khát vọng giải phóng dân tộc, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, “tựa như
người đi đường đang khát nước mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn” [53, 28].
Người đã phấn khởi reo lên như phát minh ra một sáng kiến vĩ đại: “Đây là cái cần thiết
cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” [53, 28]. Người sớm đi tới kết luận:
“Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [53, 28]. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin,
Người đã tìm thấy ở đó một động lực to lớn của thời đại. Ngoài việc nắm vững những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh còn vận dụng một cách sáng
tạo vào điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
Những tư chất và phẩm chất cao đẹp của Hồ Chí Minh đã được phát huy trong suốt
cuộc đời hoạt động của Người. Nhờ vậy, Hồ Chí Minh có được tầm nhìn chiến lược rộng
lớn để giải quyết thành công các vấn đề của cách mạng nói chung, trong đó có vấn đề tôn
giáo nói riêng.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo là kết quả của sự kế thừa
có chọn lọc những giá trị tư tưởng của nhân loại, mà trực tiếp là chủ nghĩa Mác – Lênin, trên
nền tảng truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Đồng thời, nó cũng là sản phẩm của một thời
đại mà Hồ Chí Minh và quần chúng nhân dân là chủ thể của nhận thức và hành động.
1.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là một trong những bộ phận cấu thành toàn bộ tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về
vật, Người đã thấy các tôn giáo đều phản ánh niềm tin, khát vọng tự do và hạnh phúc của
những người bị áp bức, đau khổ, hướng tới bình đẳng, tự do, bác ái, hướng thiện, trừ ác.
Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân vǎn trong các tôn giáo.
Vì vậy, khi nhìn nhận và xử lý các vấn đề tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn tìm đến giá trị sáng
tạo và phương thức sử dụng tôn giáo nhằm phát huy những tác động tích cực của tôn giáo
để phục vụ lợi ích của nhân dân.
Hồ Chí Minh ca ngợi chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, coi đó là thiên đàng
của nhân loại, nhưng đồng thời, Người cũng không quên ca ngợi những giá trị nhân bản
của các tôn giáo. Người không bao giờ có thái độ kỳ thị tôn giáo này, coi trọng tôn giáo
kia, mà trái lại, mỗi tôn giáo đều có những điểm giá trị mà có thể kế thừa, nhất là mặt đạo
đức. Bằng lời văn mộc mạc, chân thành có sức thuyết phục lòng người, khi nói về các vị
sáng lập ra các tôn giáo, Hồ Chí Minh viết: "Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái. Phật
Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa" [49, 225]. Hoặc
là: "Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn
giáo Giê-su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả...” [49, 225]. Từ đó Người đi đến kết
luận: “Nếu các vị ấy còn sống, cùng với C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin ngồi lại một
chỗ, thì sẽ tìm ra được một quan điểm chung đó là mưu cầu hạnh phúc cho con người; còn
tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy” [49, 225].
Người đã nhấn mạnh điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và
các học thuyết có tính tiến bộ, đó là mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Đây là một đặc
điểm lớn được Hồ Chí Minh khai thác một cách triệt để và tài tình trong việc giải quyết
các vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Tình cảm trân trọng của Hồ Chí Minh đối với giá trị nhân bản của tôn giáo, khác với
đức tin của các tín đồ của các tôn giáo ấy. Nó xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo có sẵn
trong con người Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người vô thần đầy tư tưởng bao dung,
không giáo điều, cục bộ, hẹp hòi; Người đã “gạn đục khơi trong”, kế thừa những giá trị
vǎn hóa mang tính nhân vǎn cao đẹp của các tôn giáo. Điều đó cho ta thấy các tôn giáo
không hoàn toàn đối lập với chế độ xã hội chủ nghĩa, trái lại, các giá trị vǎn hóa, đạo đức
tôn giáo có thể hòa nhập cùng dân tộc trên con đường xây dựng một xã hội dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, vǎn minh.
của con người, làm cho con người có cảm giác được an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt
trong cuộc sống. Theo Hồ Chí Minh, chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ
yếu, đặc thù, mà còn là chức năng phổ biến của các tôn giáo. Ở đâu có tôn giáo ở đó có
chức năng đền bù hư ảo. Người lấy ví dụ về một bà mẹ người công giáo: “Mẹ Tài là bần
nông Công giáo. Mẹ rất tin rằng đời này chịu đau khổ, thì đời sau sẽ hưởng phúc lành. Mẹ
chỉ có một người con trai, bị tên Hưng đánh chết. Mẹ cho như vậy là linh hồn con sớm
hưởng phúc thiên đường” [78, 224].
Thứ hai, chức năng thế giới quan:
Tôn giáo phản ánh một cách hư ảo hiện thực, có tham vọng tạo ra một bức tranh về
thế giới nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người dưới một hình thức phi hiện thực. Bức
tranh tôn giáo ấy bao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục, trên cơ sở
đó tôn giáo giải thích các vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội. Sự lý giải của tôn giáo về
thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên, thần thánh và phụ thuộc vào cái siêu
nhiên, thần thánh ấy. Không phải ngẫu nhiên, trong những bức thư gửi cho tín đồ tôn
giáo, Hồ Chí Minh viết: “Tôi cầu nguyện Đức Cha phù hộ đồng bào giữ vững tinh thần ái
quốc, đủ sức chống lại giặc Pháp, đặng làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng là: Phụng sự Đức
Chúa! Phụng sự Tổ quốc” [48, 302]. Hoặc là: “Tôi kính cẩn cùng đồng bào, cầu nguyện
Đức Chúa ban phúc cho nước ta” [78, 179]. Đặc biệt, Người kết luận: “Trên nhờ Đức
Chúa, dưới nhờ nhân dân, kháng chiến nhất định thắng lợi” [48, 326].
Thứ ba, chức năng điều chỉnh:
Hồ Chí Minh nhìn thấy trong mỗi học thuyết tôn giáo đều có một hệ thống các
chuẩn mực ứng xử trước tiên với vị sáng lập tôn giáo, với con người nhằm điều chỉnh
hành vi của các tín đồ. Người thuật lại giới răn trong Kitô giáo: “Chúa dạy, phải yêu
thương và cứu giúp người nghèo khổ. Người nghèo khổ nhất nước ta là nông dân lao
động mà giúp đỡ nông dân chỉ có cách làm cho dân cày có ruộng” [78, 221-222].
Những chuẩn mực ấy, theo Người không chỉ có tác động đến những hành vi trong
quá trình sinh hoạt tôn giáo, mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày của gia đình cũng
như ngoài xã hội. Vì vậy, hệ thống những chuẩn mực, giá trị đạo đức trong các học
Về tác dụng của tôn giáo đối với đạo đức của con người:
Điều quan trọng là cần quan tâm khai thác các giá trị đạo đức của các tôn giáo trên
một tầm nhìn mới và phương pháp mới nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã lồng vào trong các
giá trị đạo đức của các tôn giáo những nội dung mới mang tính thời đại, gắn liền với thực
tiễn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.