LUẬN văn THẠC sĩ tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về dân CHỦ với VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ dân CHỦ HIỆN NAY (QUA KHẢO sát ở QUẢNG NAM và đà NẴNG) - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà mác xít sáng tạo lớn của cách
mạng Việt Nam. Tư tưởng bao trùm của Người thể hiện ở nguyên lý độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh,
Người đặc biệt chú trọng tới vấn đề dân chủ từ cách mạng dân tộc dân chủ
tới cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh không chỉ để lại những kiến giải sâu sắc về dân chủ và
thực hành dân chủ mà Người còn trực tiếp nêu gương về lối ứng xử dân chủ
đối với con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống. Tư tưởng dân
chủ Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trong tư tưởng chính trị của Người mà
còn thể hiện sinh động trong mọi lĩnh vực khác thuộc hệ thống tư tưởng Hồ
Chí Minh. Do đó, chúng ta cần vận dụng tư tưởng dân chủ của Người vào sự
nghiệp đổi mới hiện nay, đặc biệt trong cuộc vận động dân chủ hóa để thực
hiện QCDC ở cơ sở. Lúc sinh thời Người đã từng nhấn mạnh dân chủ là của
quý báu nhất của nhân dân, là chìa khóa vạn năng để giải quyết các vấn đề
kinh tế - xã hội trong phát triển.
1.2. Chủ nghĩa xã hội, như Hồ Chí Minh khẳng định là xã hội do
nhân dân lao động làm chủ. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá
trình xây dựng chế độ xã hội mới đảm bảo thực hiện và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân lao động. Trong xã hội đó, dân chủ thể hiện lợi ích và
quyền lực chân chính của nhân dân. Hồ Chí Minh đã khẳng định dân chủ là
"dân làm chủ" và "dân là chủ".
Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất
nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI đến nay, chúng ta đã
thu được những thành tựu to lớn: kinh tế phát triển, dân chủ bước đầu được
phát huy, chính trị - xã hội ổn định, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và
chủ nghĩa xã hội được tăng cường...
1





Chí Minh vào việc xây dựng và phát triển dân chủ ở nước ta, đặc biệt là dân
chủ ở cơ sở.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ lâu vấn đề dân chủ đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà
hoạt động chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã
hội và nhân văn ở trong nước và trên thế giới.
Ở nước ta trong 15 năm đổi mới vừa qua, thành tựu nghiên cứu
những vấn đề lý luận về dân chủ và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
dân chủ được thể hiện ở những công trình của nhiều tác giả và các tập thể
tác giả. Ví dụ:
- Những lực cản đối với quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam - Báo
Nhân Dân, số ra ngày 22/4/1998 của Hoàng Chí Bảo.
- Dân chủ trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, Tạp chí TTLL số 7/1989
của Hoàng Chí Bảo.
- Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nxb Sự thật, H, 1991
của Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo.
- Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ: quan điểm, lý luận
và phương pháp nghiên cứu, Tạp chí TTLL số 9/1992 của Hoàng Chí Bảo.
- Để thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản số 2/1999 của
Trần Quang Nhiếp.
- Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ. Tạp
chí QLNN, số 1/1999 của Lê Minh Châu.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới: Sự hình thành và
phát triển, Nxb CTQG, H, 1995 của Hoàng Văn Hảo.
- Dân chủ - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh, Sự thật, H, 1997 của
Nguyễn Khắc Mai.
- Về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lịch sử Đảng, số
6/1998 của Hoàng Trang.

cơ sở trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay.
4


4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lênin, các quan
điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về dân chủ và xây dựng thể
chế dân chủ.
Ngoài ra, tác giả luận văn còn vận dụng phương pháp lôgic và
phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, tổng kết thực tiễn để
nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ và
những biện pháp thực hiện dân chủ thể hiện trong những tác phẩm chủ yếu
của Người ở thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Khảo sát thực tế tại địa bàn Quảng Nam, Đà Nẵng để đánh giá hiện
trạng và các vấn đề đặt ra trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở từ năm 1998
đến nay.
6. Cái mới về mặt khoa học của luận văn
Góp phần hệ thống hóa và làm rõ những nội dung lý luận về dân chủ
trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng tư tưởng đó vào việc xây dựng và
thực hiện QCDC ở cơ sở trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận danh mục các tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương và 7 tiết.

5



phục đã nổi lên đấu tranh nhiều lần chống xâm lược, để tự giải phóng mình.
Nhiều lần nước ta bị phương Bắc xâm lược nhưng dân tộc ta vẫn giữ vững

8


được lãnh thổ và chủ quyền quốc gia dân tộc của mình. Những trang sử
vàng của dân tộc đã được làm nên bởi sức mạnh đoàn kết của cộng đồng
Việt Nam. Trong sức mạnh cộng đồng đó, thường nổi lên những người đứng
đầu đất nước - những thủ lĩnh chính trị biết dựa vào dân và tin vào sức
mạnh của dân. Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng có
những con người như thế.
Lý Thường Kiệt nêu lên tư tưởng: "Người làm vua của dân, cốt phải
nuôi dân" [34, 319]. Với ông, "nuôi dân" (dưỡng dân) thì phải bỏ các kế
sách tham tàn, phải loại trừ sự sách nhiễu làm hại dân, phải ngăn chặn sự
đục khoét dân để làm giàu cho mình. Nhờ đó mà cuộc hành quân đánh Tống
của ông đạt kết quả rực rỡ ở thế kỷ X, mở ra thời kỳ phát triển mới của Nhà
nước phong kiến Việt Nam độc lập.
Trần Quốc Tuấn lãnh đạo quân dân nhà Trần đã ba lần đánh thắng
quân Nguyên - Mông ở thế kỷ XIII. Đó là đội quân hùng mạnh nhất thế giới
lúc bấy giờ. Nước Trung Hoa rộng lớn đã bị chúng thôn tính, vậy mà ba lần
xâm lược Việt Nam cả ba lần chúng đều chịu thất bại phải rút quân về nước.
Nhìn lại ba lần chống quân Nguyên - Mông, Trần Quốc Tuấn rút ra một số
bài học về giữ nước, trong đó có bài học về thái độ đối với dân. Ông nêu:
phải làm sao để "lòng dân không xa rời mình", muốn vậy, phải có kế sách cố
kết được lòng dân, đó là nới lỏng sự đóng góp của dân. "Khoan sức cho dân
để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách của sự giữ nước" [35, 398].
Sinh hoạt chính trị đời Trần có yếu tố rất đáng lưu ý là tổ chức một số hội
nghị bàn việc nước có tính chất dân chủ. Năm 1282, Trần Nhân Tông họp
vương hầu và trăm quan ở Bình Than để bàn về sách lược công thủ. Năm

nước lại không phải là của dân, mà là của vua, của dòng họ vua thống trị,
cha truyền con nối. Các triều đại đang lên và các nhà tư tưởng của triều đại
ấy dù có nêu trách nhiệm "nuôi dân", "chăn dân" coi "dân là gốc nước", xem
"dân là quý", dù trong đời sống chính trị ở một mức độ biểu hiện nào đó
cũng có ít nhiều tính chất dân chủ song điều đó cũng chỉ là biểu hiện của
chủ nghĩa nhân bản của tinh thần dân tộc chứ chưa phải là tư tưởng dân chủ,
dân quyền theo nghĩa đích thực của nó.

10


Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng dân chủ trên thế giới ở thời
cận đại thường gắn liền với các cuộc Cách mạng tư sản ở châu Âu vào thế
kỷ XVIII. Giai cấp tư sản ra đời đảm đương vai trò lịch sử chống phong
kiến, chống thần quyền đòi tự do, bình đẳng, đòi quyền quản lý xã hội. Vào
lúc này, tư tưởng dân chủ mới trở thành một trào lưu tư tưởng có ý nghĩa
tích cực, tiến bộ, thúc đẩy sự ra đời các thiết chế dân chủ tư sản. Đây quả là
một sự chuyển biến có tính cách mạng trong quan niệm về dân và về vai trò
của dân. Nó có ảnh hưởng tích cực tới sự hình thành tư tưởng dân chủ ở
Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi mà tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp qua
"Tân Thư", "Tân Văn" từ Trung Quốc và Nhật Bản truyền vào Việt Nam.
Phan Bội Châu nêu lên quan niệm "nước lấy dân làm chủ, dân coi việc nước
như việc nhà", "Dân là dân nước, nước là nước dân" hoặc "Chỉ nên đề
xướng dân quyền, dân đã giác ngộ được quyền lợi của mình dần dần mới có
thể mưu tính đến việc khác, dân quyền là phép đổi dời non sông". Trang đầu
của cuốn sách về lịch sử dân chủ, dân quyền ở Việt Nam bắt đầu từ đây. Tuy
nhiên, bên cạnh mặt tích cực và có ý nghĩa tiến bộ, dân chủ tư sản không
tránh khỏi những hạn chế thuộc về bản chất của nó. Nó biểu hiện ở chỗ, dân
chủ chỉ có đối với giai cấp tư sản còn nhân dân lao động vẫn bị áp bức, bóc
lột thậm tệ ở ngay cả những nơi sinh ra nó. Ở Việt Nam những tư tưởng dân

cực và tiến bộ của Nho, Phật, Lão để trở thành nguồn di sản văn hóa của dân
tộc tạo nên động lực tinh thần của những triều đại phong kiến khi chống
ngoại xâm, đặc biệt là Nho giáo.
Đối với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Nho giáo đã có ảnh hưởng
sâu sắc đối với Người ngay từ thời niên thiếu. Hồ Chí Minh tiếp thu Nho
giáo, nhưng là Nho giáo của những người yêu nước qua bổn phận trung hiếu
của người dân đối với sự mất còn của dân tộc. Những giá trị văn hóa
phương Đông đặc biệt là Nho giáo mà Hồ Chí Minh tiếp thu đó là phải xem
dân là gốc nước. Sách "Thượng thư" nói: "Dân có thể gần, không thể coi
thường. Dân là gốc nước. Gốc có vững thì nước mới yên" Hồ Chí Minh đã

12


phát triển quan niệm đó. Người khẳng định: nhân dân là gốc, công nông là
gốc của cách mạng:
"Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" [19, 410]
Trong Nho giáo cũng đã nói đến chữ tín, đến dân tin. Có được dân
tin thì triều chính mới vững vàng. Khổng Tử đã nói như thế. Và để được dân
tin thì theo Khổng Tử phải làm hàng loạt việc có liên quan tới dân như phải
làm sao cho được lòng dân, đáp ứng nguyện vọng của dân, loại trừ cái dân
không thích... Kế thừa và phát triển quan niệm này, Hồ Chí Minh luôn đề
cao yêu cầu đối với những người làm chính trị, những cán bộ lãnh đạo chính
trị phải làm sao được dân tin, dân yêu, không phải để lấy lòng dân, để lợi
dụng dân mà phải rèn luyện phẩm chất, năng lực để vừa là người đầy tớ vừa
là người lãnh đạo dân, hết lòng thương dân, vì dân, việc gì có lợi cho dân
phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh.
Mạnh Tử cho rằng có ba đối tượng mà người thực hành triều chính
phải tính tới, đó là: dân, xã tắc, vua. Theo ông cả ba đều quan trọng song

(1789). Những mỹ từ về quyền con người đó đã thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi
đến tận quê hương của nó để tìm hiểu sự thực đằng sau những khẩu hiệu đẹp
đẽ ấy. Trong thời gian ở Pháp, Hồ Chí Minh đã có điều kiện đọc những tác
phẩm của các nhà tư tưởng, các triết gia lớn ở châu Âu, đặc biệt những nhà
tư tưởng, triết học thời khai sáng và thời kỳ cách mạng tư sản Pháp như
Diderot, Voltaine, Montesquieu, Rousseau... Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt
đến những tác phẩm bàn về nhân quyền, dân chủ, nhân đạo như "tinh thần
pháp luật" (Montesquieu), "Bàn về khế ước xã hội" (JJ. Rousseau). Tư
tưởng nhân đạo, dân chủ, nhân quyền thế kỷ XVIII đã dẫn đến cuộc cách
mạng năm 1789, cuộc cách mạng đã tấn công vào chế độ phong kiến và giáo
hội. Nhưng chẳng bao lâu, chính quyền tư sản lại khôi phục nhà thờ, lại tiếp
tục sử dụng tôn giáo làm công cụ ru ngủ nhân dân trong nước và làm
phương tiện xâm lược thuộc địa. Người đã thấy rất rõ rằng, khẩu hiệu "Tự
do, Bình đẳng, Bác ái" chỉ tồn tại trên lý thuyết còn thực tế đã mất dần ý
nghĩa. Sự thật là dưới chế độ tư bản thực dân, không hề có tự do, bình đẳng,

14


bác ái dành cho dân chúng, chỉ có áp bức, bóc lột và các cuộc đàn áp tàn bạo
đối với nhân dân lao động. Người đã nhìn rõ hai mặt tích cực và tiêu cực của
nền dân chủ tư sản, của cách mạng tư sản. Thực tiễn sống, hoạt động và đấu
tranh phong phú qua gần 10 năm khảo sát (1911 - 1920) ở nhiều nước châu
Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh đã đem lại cho Người những nhận thức mới: ở
các nước thuộc địa, đâu đâu người lao động cũng bị chủ nghĩa thực dân đế
quốc đầy ải trong tủi nhục, đói nghèo, bị bóc lột đàn áp dã man, và ở đâu các
dân tộc bị áp bức cũng đều có khát vọng đấu tranh đòi giải phóng. Ngay ở
những nước tự xưng là văn minh nhất cũng vẫn có hai loại người: tầng lớp
trên sống hết sức xa hoa, thừa thãi còn đa số nhân dân lao động phải sống
cuộc đời nheo nhóc, bần hàn. Chính do sự yêu thương thông cảm những

Thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí
Minh nhìn nhận, đánh giá, phân tích, tổng kết các học thuyết tư tưởng đương
thời cũng như kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để tìm ra con
đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Tình cảm yêu
nước thương dân, quan niệm về dân, hành động tất cả vì dân trong tư tưởng
của Người khi bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin đã được nâng lên một trình độ
mới mang tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc, tính khoa học và cách
mạng triệt để nhất.
Cần phải nói thêm rằng: việc tiếp thu, vận dụng, phát triển chủ nghĩa
Mác-Lênin của Hồ Chí Minh là cả một quá trình kết hợp nghiên cứu lý luận
gắn với hoạt động thực tiễn. Người đã vận dụng và phát triển lý luận MácLênin một cách sáng tạo chứ không giáo điều, kinh viện. Người cho rằng
học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, trước hết phải nắm vững cái cốt lõi, "linh hồn
sống" của nó là phép biện chứng. Phép biện chứng được Hồ Chí Minh diễn
đạt theo ngôn ngữ phương Đông "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Nhờ nắm vững
"linh hồn sống" đó, Hồ Chí Minh đã có quan điểm và hành vi đúng đắn
trong việc kế thừa, tiếp thu truyền thống dân tộc và nhân loại, tránh được
thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ nhận mọi thành tựu quá khứ. Người cũng tránh
được thái độ bảo thủ, khư khư giữ lấy mọi di sản tư tưởng của quá khứ. Hồ
Chí Minh đã biết gạn đục khơi trong, gạt bỏ những nhân tố tiêu cực của quá
16


khứ mà chỉ giữ lại và phát huy những tinh hoa của dân tộc và nhân loại
trong mọi lĩnh vực của đời sống. Phép biện chứng cũng giúp cho Hồ Chí
Minh có cái nhìn đúng đắn ngay cả đối với chủ nghĩa Mác-Lênin. Đối với
Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác không phải là kinh thánh để cho mọi người
tụng niệm mà là kim chỉ nam dẫn đường cho mọi suy nghĩ và hành động, nhờ
vậy Hồ Chí Minh đã tránh được cách nhìn siêu hình, phiến diện và bệnh giáo
điều mà nhiều người mắc phải.
Với tư duy biện chứng và tầm nhìn khoáng đạt, Người còn nhận thấy

Năng lực trí tuệ của Hồ Chí Minh thể hiện ở trình độ vận dụng lý
luận vào thực tiễn một cách sáng tạo, nhuần nhuyễn. Hồ Chí Minh là một
nhà cách mạng, một nhà hoạt động chính trị mẫu mực về "học đi đôi với
hành, lý luận gắn liền thực tiễn", thực tiễn cuộc sống và thực tiễn đấu tranh
cách mạng. Đây là phẩm chất và năng lực tạo nên nhân cách chính trị Hồ
Chí Minh, hơn nữa đó là nhân cách văn hóa của Người.
Phẩm chất của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sức mạnh và ý chí. Sức
mạnh và ý chí đó của Người đã cổ vũ sự quyết tâm cao độ của hàng triệu
triệu con người Việt Nam và nhân loại tiến bộ trong đấu tranh cách mạng để
thực hiện mục tiêu giải phóng.
Tất cả những phẩm chất, trí tuệ và nhân cách của Hồ Chí Minh được
phát huy trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị của Người. Nhờ vậy, giữa
muôn vàn lý thuyết và học thuyết khác nhau, đối lập nhau, đúng - sai, thật giả đan xen lẫn lộn, Hồ Chí Minh vẫn tìm ra được mục tiêu, lý tưởng cách
mạng đúng đắn và con đường đi tới mục tiêu, lý tưởng đó. Giữa thực tiễn vô
cùng sinh động với bao tình huống phức tạp, khó khăn, bao sóng gió thử
thách, có khi đe dọa cả cuộc sống và sinh mệnh của mình, Người vẫn vươn
lên, vẫn kiên trì chân lý, để có những quyết định đúng đắn và sáng suốt,
những hoạt động sáng tạo để biến tư tưởng thành hiện thực.
1.2. NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH

18


1.2.1. Về vai trò của dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Dân chủ từ bao đời nay luôn là đề tài hấp dẫn đối với các học giả
trong nước và ngoài nước bởi dân chủ liên quan mật thiết tới cuộc sống của
con người và sự phát triển của xã hội. Đối với chúng ta, thực hiện và phát
huy dân chủ của quần chúng nhân dân là điều hệ trọng đối với sự thành bại
của chế độ, của thể chế. Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ
vừa biểu hiện là giá trị xã hội mà con người và loài người đạt được trong

năm bị chủ nghĩa thực dân thống trị và trình độ dân trí thấp như nước ta, điều
đó làm Người luôn phải trăn trở, dồn hết tâm lực để tranh đấu thực hiện. Với
Hồ Chí Minh, "dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân" [22, 279], là chìa
khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người ý thức sâu sắc rằng, dân
chủ không chỉ là "dân là chủ" mà còn là "dân làm chủ". Dân có thực sự làm
chủ thì mới tiếp tục bắt tay vào "xây dựng một nước Việt Nam dân chủ mới"
[20, 15], "thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã
hội" [20, 174]. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấy rõ dân chủ là động lực, là sức
mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc, tự do và bình đẳng. Chính
vì vậy Người luôn nhắc nhở những người lãnh đạo rằng: "Có phát huy dân
chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân, đưa
cách mạng tiến lên". Bằng cách đó, CNXH hiện thực mới có thể tồn tại và
phát triển.
Như thế, dân chủ không chỉ là quyền lực thuộc về nhân dân, làm cách
mạng không chỉ là trao quyền làm chủ cho nhân dân lao động là đủ mà quan
trọng hơn là bằng phương pháp quản lý dân chủ mà "làm sao cho nhân dân
biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám
làm". Tư tưởng ấy có sức mạnh khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân.
1.2.2 Bản chất của dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Bất kỳ lý thuyết dân chủ nào cũng lấy vấn đề địa vị của dân làm hòn
đá tảng. Quá trình phát triển dân chủ cũng chính là quá trình đấu tranh,
giành giữ cho được địa vị của dân bằng những thiết chế chính trị xã hội cụ
thể phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, thể hiện cho được giá

20


trị của dân chủ trong thực tiễn, đó là hòn đá thử vàng cho thấy nền dân chủ
là đích thực hay giả hiệu.
Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất


tột bậc là làm cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Người đã làm tất cả để thực
hiện Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho Tổ quốc, dân tộc và nhân dân. Người
đã rút ra một chân lý vĩnh hằng không chỉ cho dân tộc mà còn cho cả nhân
loại "không có gì quý hơn độc lập tự do". Trong "Tuyên ngôn độc lập" khai
sinh ra chế độ dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Người đã thể hiện ý chí và
quyết tâm của cả dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do: "Nước Việt
Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước độc
lập. Toàn dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính
mạng của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy" [18, 56]. Đó chính là
tuyên ngôn về dân chủ gắn liền với tự do, bình đẳng và công bằng xã hội.
Nó thể hiện khát vọng chính đáng về quyền dân chủ và làm chủ của nhân
dân Việt Nam, khẳng định thành quả vĩ đại trong cuộc đấu tranh vì dân chủ
mà nhân dân Việt Nam đã giành được với một ý chí quyết tâm không gì lay
chuyển nổi cùng tinh thần đoàn kết muôn người như một của dân tộc Việt
Nam để giữ vững nguồn của cải vô giá đó của nhân dân. Nhưng "nếu nước
độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng
có nghĩa lý gì" [18, 56].
Vì vậy, tiêu ngữ "Việt Nam dân chủ cộng hòa, Độc lập - Tự do Hạnh phúc" có một ý nghĩa lịch sử thiêng liêng. Nó là mục tiêu phấn đấu
của cả dân tộc Việt Nam thể hiện đầy đủ, toàn diện nội dung nhân quyền và
dân quyền mà bất cứ quốc gia văn minh nào cũng phải hướng tới. Giải
phóng con người, thực hiện tự do và hạnh phúc của con người, đó là mục
tiêu phấn đấu cao nhất, thường xuyên chi phối mọi suy nghĩ và hành động
của Hồ Chí Minh.. Khi đặt câu hỏi: "Mục đích của CNXH là gì? Người đã
trả lời: Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động" [23,
271].

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status