MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng kết hợp kinh tế với quốc phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là
một bộ phận hữu cơ trong hệ thống quan điểm của Người về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó đã có vai trò to lớn trong cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cũng như trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của dân tộc ta. Mặc dù khả năng đáp ứng của nền kinh tế cho chiến tranh
và quốc phòng còn có hạn chế, song Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn phát
huy tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường; đồng thời ra sức tranh thủ sự giúp đỡ to
lớn về vật chất và tinh thần của các nước XHCN, các lực lượng cách mạng tiến
bộ trên thế giới, chúng ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh thắng chủ nghĩa
thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả
nước tiến lên CNXH. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành
tựu to lớn đó của cách mạng Việt Nam là do sự thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và sự sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết hài
hoà mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.
Sau hơn mười lăm năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta tiếp tục vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng và đã góp phần
tạo nên những thành tựu rất đáng tự hào về phát triển kinh tế cũng như QPAN. Một số mặt còn chưa được củng cố vững chắc, nhưng nước ta đã ra khỏi
khủng hoảng, QP-AN được giữ vững và đang chuyển sang một thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trên cơ sở tổng kết những bài học
kinh nghiệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục chủ trương:
"Kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN". Mà mục tiêu của CNH,
HĐH là QP-AN vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Những kết luận trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng về tư tưởng Hồ
Chí Minh cũng như về kết hợp kinh tế với quốc phòng; một mặt khẳng định
Đảng ta tiếp tục kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc
phòng; mặt khác tiếp tục vận dụng tư tưởng đó trong thực tiễn xây dựng
CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh CNH,
quả kết hợp kinh tế với quốc phòng theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
Những nghiên cứu của luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế chính trị XHCN, kinh tế quân
sự, học thuyết bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh quân đội; đường lối, quan điểm của
Đảng. Đồng thời còn dựa trên sự tham khảo một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ, bài
viết, bài phát biểu của một số tác giả trong và ngoài quân đội đã được công bố
trên sách, báo, tạp chí...
Các phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng trong triển khai đề
tài là: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp hệ
thống, phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn dịch, thống kê so sánh và phương
pháp trừu tượng hoá cùng một số phương pháp khác.
5. Ý nghĩa của luận văn
- Góp phần làm rõ những nội dung cơ bản tư tưởng kết hợp kinh tế với
quốc phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó thấy được tính đúng
đắn, sáng tạo của Đảng ta trong việc vận dụng những tư tưởng của Người qua
các thời kỳ cách mạng.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy một số
nội dung thuộc các môn: kinh tế chính trị học, kinh tế quân sự, học thuyết bảo
vệ Tổ quốc trong các nhà trường quân đội.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu làm 2 chương, 4 tiết.
Chương 1
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
KẾT HỢP KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG
TA TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về kết hợp
kinh tế với quốc phòng, với nhãn quan chính trị sâu, rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn thấy rõ vai trò quyết định của nhân tố kinh tế trong mối quan hệ thống nhất,
biện chứng giữa kinh tế với quốc phòng. Kinh tế có mạnh mới có điều kiện để xây
dựng, củng cố một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, mới có thể bảo đảm cho
sự thắng lợi của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Vai trò quyết định của kinh tế
đối với quốc phòng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ nét nhất ở khả
năng bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, vũ khí trang bị, lương thực, thực phẩm, quân
trang, quân dụng... cho LLVT. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Cung cấp đủ
súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận, điều đó rất rõ ràng dễ
hiểu” [28, tr.295]. Bộ đội ta dù có bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm, ngoan
cường, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh thân mình vì độc lập tự do của Tổ quốc... Song
những nhu cầu thiết yếu như cơm ăn, áo mặc, súng đạn để chiến đấu... không được
cung cấp, đảm bảo đầy đủ, thì bộ đội cũng không thể đủ sức để chiến đấu và chiến
thắng được quân thù. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm
lược, mặc dù kẻ thù của chúng ta có tiềm lực kinh tế, tiềm lực quốc phòng mạnh
hơn ta gấp nhiều lần, song rút cục chúng ta vẫn giành được thắng lợi to lớn. Một
trong những lý do đưa đến thắng lợi vẻ vang ấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Là
do nơi chúng ta động viên kinh tế được thành công, vì chúng ta có biết động viên
kinh tế một cách khôn khéo, thực lực của chúng ta mới được đầy đủ và bền bỉ"
[19, tr.479]. Trong thư gửi nông dân thi đua canh tác, Hồ Chủ tịch còn chỉ ra rằng:
"Muốn đánh thắng thì quân ta phải ăn no. Muốn ăn no thì phải có nhiều lương
thực..., thực túc thì binh cường!" [27, tr.178].
Kinh tế giữ vai trò quyết định đối với quốc phòng song đến lượt nó, quốc
phòng và chiến tranh lại có sự tác động trở lại đối với kinh tế. Sự tác động trở lại
đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong bài "Toàn dân kháng chiến" rằng:
"Một khi chiến tranh đã bùng nổ ở nơi nào, ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn khắp các
nơi khác. Chẳng những thế, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các hoạt động
kiệt quệ, thù trong giặc ngoài hùa nhau chống phá, thực dân Pháp quay lại đánh
chiếm miền Nam, gây chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. Nền độc lập và
sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta lúc này như "nghìn cân treo sợi tóc". Trước
tình thế đó, đòi hỏi Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải chủ động, linh hoạt giải
quyết đồng thời hai nhiệm vụ: đánh bại chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp,
giữ vững nền độc lập dân tộc và củng cố, xây dựng đất nước về mọi mặt. Vận dụng
sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc
phòng, Đảng và Hồ Chủ tịch kính yêu đã đề ra đường lối "vừa kháng chiến vừa
kiến quốc".
Kháng chiến là để bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững nền độc lập, tự do
của dân tộc vừa mới giành được. Muốn kháng chiến thắng lợi phải xây dựng căn
cứ địa, hậu phương vững chắc. Trong hoàn cảnh nước ta phải tiến hành một cuộc
kháng chiến không cân sức với địch, thì điều đó càng bức xúc hơn bao giờ hết.
Kiến quốc, xây dựng chế độ mới về mọi mặt, thực sự đưa lại cho nhân dân quyền
lợi là phát huy thành quả của cách mạng, đồng thời cũng là tạo dựng căn cứ địa hậu phương vững mạnh, làm cơ sở để giành thắng lợi trong kháng chiến. Kháng
chiến và kiến quốc theo Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đi đôi với nhau. Hồ Chủ
tịch viết: "Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc [17, tr.99]. Điều đó có nghĩa là
vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới về mọi mặt từ kiến trúc thượng tầng
đến cơ sở hạ tầng, vừa đánh vừa xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, vừa
đánh địch ở tiền tuyến, vừa củng cố mở rộng hậu phương, vừa đánh vừa bồi dưỡng
sức dân. Tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc phản ánh qui luật của cách
mạng Việt Nam là xây dựng chế độ mới phải gắn liền với bảo vệ chế độ mới và
ngược lại, bảo vệ chế độ mới phải dựa trên cơ sở xây dựng chế độ mới. Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh, giữa kháng chiến và kiến quốc có mối quan hệ mật thiết với
nhau: "Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến
quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng
lợi" [17, tr.99]. Đây là luận điểm tiêu biểu nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về kết
hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.
một nội dung cốt lõi của công cuộc xây dựng chế độ mới. Nước ta vốn đã nghèo
nàn, lạc hậu lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá
nặng nề. Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu
người, lại đe doạ hoành hành dữ dội trở lại vào đầu năm 1946. Sản xuất nông
nghiệp bị tiêu điều; sản xuất công nghiệp bị đình đốn; ngoại thương bế tắc; kho
bạc trống rỗng, ngân hàng còn nằm trong tay tư bản Pháp. Trước tình hình đó, việc
quan trọng nhất, cấp bách nhất ở miền Bắc lúc bấy giờ là phải nhanh chóng khắc
phục hậu quả của nạn đói khủng khiếp. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và
Chính phủ đã chủ trương mở ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để cứu đói.
Người đã kêu gọi toàn dân, toàn quân từ nông thôn đến thành thị thực hiện khẩu
hiệu: "Tất đất, tấc vàng", "Tăng gia sản xuất ngay ! Tăng gia sản xuất nữa"; kịp
thời cấy "tái giá" và trồng các loại cây lương thực ngắn ngày, rau màu, khoai sắn
để đồng bào có cái ăn chờ đến vụ sau. Theo Hồ Chủ tịch: "đó là cách thiết thực để
giữ vững nền tự do, độc lập" [18, tr.115].
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn kêu gọi đồng bào: "Nhường cơm sẻ áo, đùm bọc
lẫn nhau", và đích thân Hồ Chủ tịch đề xướng và gương mẫu đi đầu trong việc
thực hiện cuộc vận động: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, để giành gạo cứu giúp
người nghèo. Với những biện pháp thiết thực, vừa mang ý nghĩa KT-XH, vừa thấm
nhuần tinh thần cách mạng, nhân đạo ấy, nhân dân ta đã thắng được "giặc đói",
góp phần tạo nên những tiền đề vật chất, tinh thần hết sức quan trọng cho công
cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau khi khắc phục được nạn đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đã đề ra
nhiều biện pháp đẩy mạnh sản xuất, tự cấp, tự túc, từng bước xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Trên cơ sở đó để thoát dần
khỏi tình trạng lệ thuộc vào nền kinh tế của chủ nghĩa thực dân, để từng bước đáp
ứng nhu cầu mọi mặt, bảo đảm cho cuộc kháng chiến thắng lợi. Hồ Chủ tịch luôn
chú trọng chỉ đạo phát triển nhiều ngành kinh tế, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực
hành tiết kiệm và ưu tiên hàng đầu là phát triển nông nghiệp, thực hiện "Thực túc
Việt Bắc đã hình thành một hệ thống công nghiệp quốc phòng, sản xuất mỗi năm
được trên 6.000 tấn vũ khí, đạn dược và bảo đảm quần áo, thuốc men cho bộ đội.
Cùng với công nghiệp quốc phòng, các cơ sở sẵn có ở trong vùng căn cứ kháng
chiến như khai thác than, khoáng sản cũng được phục hồi; đồng thời ta đã xây
dựng một số cơ sở công nghiệp mới phục vụ cho cả quốc phòng và dân sinh như:
các cơ sở sản xuất thuốc chữa bệnh, hoá chất, cơ khí... Phát triển một số xí nghiệp
công nghiệp nhẹ qui mô nhỏ, một số xưởng tiểu thủ công nghiệp nhằm đáp ứng
nhu cầu của nhân dân và bộ đội trong vùng tự do như vải, đường, muối, giấy, dầu
ăn, nông cụ...
Bên cạnh nông nghiệp và công nghiệp, giao thông vận tải cũng luôn được
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm chỉ đạo việc củng cố và phát triển. Bởi vì theo Hồ
Chủ tịch, giao thông vận tải là một ngành hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng trực
tiếp đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự của đất nước. Vai trò, tác dụng của
cầu đường đối với các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội đã được Bác phân
tích, chỉ rõ: "Cầu đường là mạch máu của đất nước. Cầu đường tốt thì lợi cho kinh
tế: hàng hoá dễ lưu thông, sinh hoạt đỡ đắt đỏ... Cầu đường tốt thì lợi cho quân sự:
bộ đội ta chuyển vận nhanh, đánh thắng nhiều. Cầu đường tốt thì lợi cho chính trị:
ý nguyện và tình hình của nhân dân nhanh chóng lên đến Đảng và Chính phủ,
chính sách và chỉ thị của Đảng và Chính phủ mau chóng thông đến nhân dân. Nói
tóm lại, cầu đường tốt thì nhiều việc dễ dàng và thuận lợi hơn" [31, tr.86].
Do điều kiện nền kinh tế đất nước còn nghèo, nước ta lại chưa sản xuất được
xe, xăng dầu lại hết sức khan hiếm trong khi đó kháng chiến còn dài, chiến dịch
ngày một mở rộng, yêu cầu vận chuyển ngày càng cao cho nên trong dịp đến thăm
đoàn xe đầu tiên của quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Xe, xăng là mồ
hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, yêu xe như
con, quí xăng như máu" [26, tr.193]. Giao thông vận tải vừa mang ý nghĩa quân sự
vừa mang ý nghĩa kinh tế; nó đảm bảo điều kiện thuận lợi cho kháng chiến và phát
triển kinh tế. Nếu giao thông bị ách tắc không thuận lợi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
tính từ khu IV trở ra) đã đạt hơn 2.757.000 tấn thóc và hơn 650.000 tấn hoa màu.
Liên khu V trước đây còn là một vùng nông nghiệp kém phát triển, thiếu ăn, thiếu
mặc, thiếu đủ mọi thứ lại nằm giữa vòng vây của địch, đã tự sản xuất đủ lương
thực, thực phẩm để nuôi quân và cung cấp cho 2,5 triệu dân, đồng thời còn dành
một phần để tiếp tế cho các chiến trường bạn.
- Công nghiệp quốc phòng đạt được tốc độ phát triển cao, trong 9 năm đã tự
sản xuất hơn 7.000 tấn vũ khí và hơn 5.000 tấn nguyên liệu. Đã sản xuất được một
số loại vũ khí phức tạp như súng Ba-dô-ca, súng ĐKZ, súng cối 60 ly, 80 ly và các
nguyên liệu cơ bản như diêm tiêu, phốt phát, than, a xít-sun-fua-ríc... Sản xuất tiểu
công nghiệp, thủ công nghiệp được khôi phục và mở rộng thêm.
- Ngành mậu dịch quốc doanh được thành lập từ năm 1951 đến năm 1954
cũng có bước phát triển đáng kể; cung cấp phục vụ cho công nghiệp (trong đó có
công nghiệp quốc phòng), từ 180 triệu lên 3.000 triệu đồng (tăng 23 lần). Thu mua
hàng thủ công từ 962 triệu đồng lên 9.704 triệu đồng (tăng hơn 10 lần), bảo đảm
cung cấp những mặt hàng thiết yếu cho tiền tuyến và hậu phương như: muối, giấy,
thuốc chữa bệnh, quần áo, một số phụ tùng thay thế, công cụ sản xuất nông nghiệp
và thủ công nghiệp. Tới đầu năm 1954, tất cả những mặt hàng chủ yếu ở hậu
phương đều được ổn dịnh về giá cả.
- Các tuyến giao thông bị phá hoại trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến đã
từng bước được xây dựng lại để đáp ứng yêu cầu cơ động của các LLVT và giao lưu
hàng hoá; các vùng tự do, vùng căn cứ dần dần được nối liền thành những vùng hậu
phương liên hoàn ngày càng rộng lớn [37, tr.357].
1.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng quân đội trong nhiệm vụ lao động
sản xuất tham gia xây dựng kinh tế
Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng,
gắn bó máu thịt với nhân dân. Dưới sự lãnh đạo dìu dắt, giáo dục của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Quân đội ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và
luôn mang trong mình bản chất, truyền thống là một đội quân chiến đấu, đội quân
không được để lãng phí" [34, tr.466]. Trước khi qua đời, một lần nữa Chủ tịch Hồ
Chí Minh lại căn dặn các cán bộ cao cấp của quân đội: "Phải xây dựng lực lượng
thật tốt, chất lượng thật cao. Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu
giỏi, bảo vệ tốt miền Bắc XHCN. Chú ý tiết kiệm sức người và sức của, giữ gìn
thật tốt vũ khí trang bị. Bộ đội phải hết lòng giúp dân, tham gia củng cố hậu
phương ta ngày càng vững mạnh" [33, tr.456]. Những lời căn dặn đó của Hồ Chủ
tịch tuy ngắn gọn, song đã khái quát đầy đủ và sinh động tư tưởng kết hợp chặt chẽ
giữa kinh tế với quốc phòng trong hoạt động của LLVT nhân dân. Tư tưởng đó
còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích, chỉ rõ khi nói về tình hình và nhiệm vụ
trước mắt của quân đội: "Một là, chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng
mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước.... Hai là, tích
cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế... Hai nhiệm vụ ấy đều rất
quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau.... Đảng và Chính phủ giao cho
quân đội hai nhiệm vụ đó, và quân đội phải cố gắng hoàn thành cho thắng lợi" [32,
tr.140].
Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh, đủ sức để đấu tranh
chống lại kẻ thù xâm lược nhằm gìn giữ hoà bình, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời quân
đội cũng phải tích cực tham gia lao động sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế
của đất nước. Vấn đề này ngay thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến. Chủ trương xây dựng LLVT
của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã toát lên rằng, ngay bản thân LLVT - lực lượng
làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc cũng không tách rời với mặt trận lao động
sản xuất. Đối với mỗi dân quân, du kích đều vừa là lực lượng sản xuất ở ruộng
đồng, bám chặt các cơ sở sản xuất để làm ra của cải vật chất, vừa là những tay
súng đánh giặc giữ làng, bảo vệ địa bàn, bảo vệ sản xuất. Đối với mỗi tự vệ đều
vừa là những công nhân sáng tạo ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu của cuộc
kháng chiến, vừa là người chiến sĩ tích cực chiến đấu bảo vệ nhà máy, bảo vệ địa
bàn và là lực lượng quan trọng phối hợp với các chiến sĩ quân đội trên các hướng
hiện kế hoạch "vườn không, nhà trống", "các phố nhỏ nên tản cư", "các chiến khu
và căn cứ địa phải hỗ trợ, tương ứng cùng nhau".
Nghị quyết về "lập khu giải phóng" (ngày 4/8/1945) đã nêu lên một cách toàn
diện các vấn đề chính trị, quân sự (trong đó có các vấn đề về vũ khí, tổ chức các
xưởng sửa chữa và lò chế tạo), giao thông, kinh tế - tài chính, tiền tệ, văn hoá, cán
bộ (trong đó có các vấn đề cụ thể như: "Khuyến khích thủ công nghiệp", "tổ chức
việc buôn bán", ra "phiếu cứu quốc", "khuyến khích tiết kiệm, ngăn ngừa xa xỉ...").
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời,
chưa đầy một tháng, thực dân Pháp đã quay trở lại tấn công miền Nam nước ta.
Ngay sau khi thực dân Pháp gây chiến ở Sài Gòn hai ngày, ngày 25/11/1945 Ban
Chấp hành Trung ương đã ra chỉ thị "kháng chiến kiến quốc". Thực chất nội dung
của chỉ thị này là chỉ đạo sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế. Chỉ thị
đã vạch rõ những nhiệm vụ trước mắt của nhân dân lúc này là phải củng cố chính
quyền cách mạng vừa mới giành được, cải thiện đời sống nhân dân, sẵn sàng với
cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược ở phía Nam, hoà hoãn với quân
Tưởng ở phía Bắc, kiên quyết bảo vệ chính quyền nhân dân và chủ quyền dân tộc.
Tiếp đó là chỉ thị "Hoà để tiến" của Ban Thường vụ Trung ương (ngày 9/3/1946),
đã vạch rõ sự "chuyển hướng về chiến thuật". Cuộc đấu tranh vũ trang về quân sự
phải chuyển thành cuộc đấu tranh về chính trị, kinh tế và văn hoá. Ở đây ta lại thấy
một sự năng động, sáng tạo về sách lược của Đảng, mà trọng tâm chiến thuật được
vạch ra một cách cụ thể là gắn chặt giữa quân sự, chính trị và kinh tế.
Ngày 19/12/1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với chỉ thị "Toàn dân
kháng chiến" (ra ngày 22/12/1946) thể hiện rõ tư tưởng kết hợp giữa quân sự và
kinh tế của Đảng. Tư tưởng ấy đã được cụ thể hoá và gắn chặt với nhau ở một mức
độ cao hơn để: "Trường kỳ kháng chiến, toàn dân kháng chiến".
Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ II (họp ngày 5, 6 tháng
4/1947), trong phần nhiệm vụ quân sự đã vạch rõ sự cần thiết cũng như những
cách thức, biện pháp để duy trì chiến lược kháng chiến lâu dài là phải tổ chức "căn
Thứ ba, Đảng ta hết sức chú trọng và quan tâm cải thiện đời sống nhân dân,
trên cơ sở đó bồi dưỡng nguồn nhân lực tăng cường sức chiến đấu và quốc phòng.
Ở đây nói lên bản chất giai cấp của kinh tế - quốc phòng của giai cấp vô sản. Nó
khác về bản chất với kinh tế - quân sự tư bản, chạy đua vũ trang và buôn bán vũ
khí của các nước đế quốc.
Thứ tư, Đảng ta luôn luôn đặt vấn đề xây dựng và củng cố hậu phương, coi đó
là một nhiệm vụ chiến lược. Tổ chức, huy động hậu phương quân đội; chăm lo hậu
cần, bảo đảm các yếu tố vật chất và kỹ thuật cũng như động viên về tinh thần cần
thiết đối với tiền tuyến nhằm đánh thắng kẻ thù, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
mọi tình huống.
Thứ năm, trên cơ sở dựa vào sức mình là chính, chúng ta đã phối hợp, đoàn
kết tốt với các nước anh em cả về kinh tế lẫn quân sự; đồng thời tranh thủ được sự
đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân và các lực lượng tiến bộ trên thế giới,
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
1.2.2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc
phòng của Đảng ta trong giai đoạn từ năm 1976 đến nay
1.2.2.1. Thời kỳ 1976 đến 1986
Sau khi cả nước được hoàn toàn độc lập, thống nhất cùng đi lên xây dựng
CNXH, qua thực tiễn 30 năm chiến tranh giải phóng, Đại hội lần thứ IV của Đảng
một lần nữa khẳng định vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng là một trong những
nội dung cơ bản và quan trọng của đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN trên
phạm vi cả nước. Đại hội đã chỉ rõ: "Phải kết hợp đúng đắn kinh tế với quốc
phòng. Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước đó là yêu cầu sống còn
của dân tộc ta" [5, tr.58]. Đường lối đó chỉ ra rằng, công cuộc xây dựng nền kinh
tế XHCN trong phạm vi cả nước trong thời bình phải đồng thời đáp ứng cùng một
lúc các nhu cầu: cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN; mở rộng quan hệ kinh tế với
quốc phòng được bố trí làm hàng kinh tế kết hợp với việc làm hàng quân sự.
Tuy nhiên, mọi công việc mới bắt đầu được vạch ra với mục tiêu phục hồi
nền kinh tế sau chiến tranh thì chúng ta phải đương đầu với những khó khăn, phức
tạp mới. Đó là liên tiếp trong các năm 1976, 1977 ở biên giới Tây Nam bọn Pôn
Pốt - Iêng xa ri - Khiêu Xăm phon liên tục xua quân xâm phạm lãnh thổ nước ta.
Đầu năm 1979, Trung Quốc đã huy động hơn 60 vạn quân với hàng trăm xe tăng,