1
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban Chấp hàng Trung ương
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Chính trị quốc gia
Chủ nghĩa đế quốc
Chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc
Hội nghị Trung ương
Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân
Quốc phòng toàn dân
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
BCHTƯ
CMDTDCND
CTQG
CNĐQ
CNXH
ĐLDT
HNTƯ
Nxb
QĐND
QPTD
XHCN
2.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng chỉ đạo đẩy
mạnh đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ
năm 1965 đến năm 1968 trên cả hai miền Nam Bắc
2.2. Những vấn đề cần vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và
47
bảo vệ Tổ quốc hiện nay
82
98
101
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
3
Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân
dân ta là một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử đấu tranh chống
ngoại xâm của dân tộc. Trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và ác liệt, Chủ
tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh, đánh thắng tên đế quốc
xâm lược hùng mạnh nhất trong thế giới tư bản. Sau thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
trước thử thách hiểm nghèo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã
thể hiện bản lĩnh chính trị, tài thao lược của mình, giữ vững thế chủ động,
chấp nhận “cuộc đụng đầu lịch sử” với đế quốc Mỹ. Chính Người đã ra sức
động viên, cổ vũ và chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không ngại
gian khổ, không sợ hy sinh, kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước trên cả hai miền Nam Bắc. Từ đó, chúng ta đã đánh thắng chiến
lược “chiến tranh cục bộ”, tạo ra một bước ngoặt quan trọng để đưa cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng.
Nghiên cứu vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đánh thắng
chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968
là yêu cầu cần thiết. Làm tốt vấn đề này sẽ góp phần tích cực vào việc nghiên
cứu, làm sáng tỏ hơn về những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ tối cao của Đảng, của dân tộc đối với cách mạng Việt Nam. Đồng
thời còn góp phần làm sáng tỏ một thời kỳ đấu tranh hào hùng của dân tộc
chống đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Trung ương Đảng ta. Trên cơ sở đó, đấu tranh chống lại những quan điểm sai
trái, phản động cố tình hạ thấp vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như trong toàn bộ tiến trình lịch sử
cách mạng Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, khi các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách
chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực, việc nghiên cứu đầy đủ,
5
sâu sắc về những cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh đối với cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1968 còn có một ý nghĩa
giúp ta nâng cao lòng tự hào, niềm kính yêu vô hạn đối với vị cha già dân tộc,
cho ta những kinh nghiệm quí báu trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của
khối đại đoàn kết toàn dân, trong xây dựng các lực lượng cách mạng, trong
đoàn kết quốc tế... Để giúp Đảng ta kế thừa, vận dụng vào quá trình hoạch định
Nxb Sự thật, Hà Nội 1986 của đồng chí Lê Duẩn; “Hồ Chủ tịch lãnh tụ của
chúng ta”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1967 và “Hồ Chí Minh - một con người, một
dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1990 của đồng
chí Phạm Văn Đồng; “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt
Nam”, Nxb CTQG, Hà Nội 2000 và “Những chặng đường lịch sử”, Nxb
CTQG, Hà Nội 2001 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; “Bước ngoặt lớn của
cuộc kháng chiến chống Mỹ”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1989 và “Về cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước”, Nxb QĐND, Hà Nội 2005 của Đại tướng Văn
Tiến Dũng; “Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy
động sức mạnh cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 4 năm 2005 của Đại tướng Phạm
Văn Trà... Những văn kiện, công trình trên đã có những đánh giá sâu sắc,
khách quan về sự nghiệp cũng như những cống hiến lớn lao của Chủ tịch Hồ
Chí Minh qua các giai đoạn lịch sử. Song việc nghiên cứu về vai trò to lớn
của Người đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn từ năm 1965 đến
năm 1968 chỉ dừng lại ở những vấn đề lớn, phạm vi rộng. Đây là cơ sở và
nguồn tư liệu quí giúp tôi định hướng nội dung trong quá trình nghiên cứu đề
tài.
Những công trình của các cơ quan và các nhà nghiên cứu đó là: “Lịch
sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975”, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội
1999, Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng; “Sự nghiệp và tư tưởng quân
sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Nxb QĐND, Hà Nội 1990, Viện Lịch sử quân
7
sự - Bộ Quốc phòng; “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng
lợi và bài học”, Nxb CTQG, Hà Nội 1995 của Ban chỉ đạo tổng kết chiến
tranh; Hà Nội 2002; “Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử”, Nxb CTQG, Hà Nội
1996 do GS Đặng Xuân Kỳ chủ biên; “Tìm hiểu tư duy khoa học của Đảng ta
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Nguyễn Xuân Tú... và
các bài viết: “Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước”, Nxb KHXH, 1985 của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam; “Cục diện
kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ - Sự thống nhất giữa chiến lược của
Đảng với tiên đoán thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí QPTD, số 1
năm 2005 của Hồ Kiếm Việt... những công trình, bài viết này đã trình bày cụ
thể, có hệ thống về những đóng góp của Hồ Chí Minh trong kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc 1954 - 1975.
Những công trình trên lý giải nhiều nội dung về tư tưởng và hoạt động
lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào trình bày một cách cụ thể, có
hệ thống về vai trò của Hồ Chí Minh trong lãnh đạo đánh thắng chiến lược
“chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ giai đoạn 1965 - 1968. Tác giả kế thừa
những thành tựu nghiên cứu của những công trình trên trong việc thực hiện
luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Nhằm khẳng định công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong lãnh đạo đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” nói riêng,
trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung của dân
tộc và sự cần thiết vận dụng tư tưởng Hồ chí Minh vào nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay.
- Nhiệm vụ: Trình bày những khó khăn của nhân dân ta trong việc đế
quốc Mỹ leo thang chiến tranh giai đoạn 1965 - 1968 và những yêu cầu bức
9
thiết của cuộc kháng chiến.
Trình bày những quan điểm chỉ đạo và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ 1965 - 1968.
TÂM ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC
MỸ
1.1. Đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh - cách mạng Việt Nam
đứng trước thử thách mới
1.1.1. Đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam
Với vị trí địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực và
trên thế giới, đế quốc Mỹ từ lâu đã chú ý đến và ngày càng can thiệp sâu hơn
vào Việt Nam. Sau thất bại trong việc can thiệp giúp thực dân Pháp xâm lược
nước ta, đế quốc Mỹ đã trắng trợn gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam, thực hiện cuộc phản công lớn nhất của các nước đế quốc vào lực lượng
cách mạng thế giới, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trong những năm đầu cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ tiến hành chiến
tranh đơn phương chống lại nhân dân Việt Nam, nhưng chiến lược đó đã bị
thất bại, vì Mỹ không ngăn chặn nổi cuộc chiến tranh giải phóng ở Việt Nam,
không thể “biến Việt Nam thành con đê ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở phía
Đông Nam châu Á”. Từ đó, đế quốc Mỹ buộc phải áp dụng chiến lược quân
sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” vào Việt Nam. Căn cứ vào việc sử dụng lực
lượng, các nhà vạch chiến lược Mỹ phân chia chiến lược toàn cầu “phản ứng
linh hoạt” thành hai hình thức: Một là, hình thức “chiến tranh đặc biệt”, trong
đó Mỹ chỉ đóng vai trò cố vấn, chỉ huy, còn lực lượng chủ yếu là quân đội
nguỵ; Hai là, hình thức “chiến tranh cục bộ”, trong đó quân Mỹ làm lực
lượng chiến lược, trực tiếp tiến hành chiến tranh ngoài lãnh thổ nước Mỹ. Cả
hai hình thức chiến tranh hạn chế trên đây là một bộ phận quan trọng hợp
thành “chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt”, được các nhà quân sự Mỹ
đánh giá là “lưỡi kiếm” tiến công sắc bén vào những nơi nguy hiểm nhất đối
12
vào các thôn xóm của chúng đều bị bẻ gãy. Đầu năm 1963, chiến thắng Ấp
Bắc vang dội của Quân giải phóng và du kích Mỹ Tho đã mở đầu cho quá
trình đánh bại chiến thuật “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận” của địch, đồng
thời đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm và dấy lên phong trào thi đua
giết giặc lập công trong các lực lượng vũ trang yêu nước ở miền Nam. Trong
những năm chiến tranh du kích từ 1960 đến 1963, ta đã tiêu diệt và làm tan rã
hơn 25 vạn binh lính địch, trong đó có gần 1.500 tên Mỹ, bắn rơi và bắn hỏng
hàng trăm máy bay địch, thu trên 3 vạn vũ khí các loại.
Quốc sách “ấp chiến lược” là xương sống của “chiến tranh đặc biệt”;
Mỹ - Diệm rất hy vọng vào chủ trương này, do đó chúng đã đầu tư nhiều nhân
lực, vật lực để thực hiện cho kỳ được. Chúng tưởng rằng trong một thời gian
không lâu có thể thực hiện xong việc gom 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp
chiến lược trong tổng số 17.000 ấp đã dự định, biến miền Nam trở thành một
trại giam khổng lồ. Để thực hiện kế hoạch đó, địch tiến hành nhiều thủ đoạn
khốc liệt, đẫm máu, chúng mở hàng chục nghìn cuộc hành quân, càn quét dài
ngày, dùng bom đạn đánh phá ác liệt vào các nơi chúng cho là cần thiết, như
các khu căn cứ cách mạng, nơi bộ đội chủ lực và du kích ta đóng quân...
Chúng dùng cả máy bay trực thăng, xe cơ giới, thiết giáp để gom dân đến
những nơi tập trung lập ấp chiến lược. Trong các cuộc càn, địch áp dụng
những chiến thuật mới như “bủa lưới phóng lao”, “trên đe dưới búa”,
“phượng hoàng vồ mồi”... nhằm tiêu diệt bộ đội và du kích, thanh lọc quần
chúng, bắn giết cán bộ của ta.
Đế quốc Mỹ hy vọng rằng quốc sách “ấp chiến lược” thành công, khi
đó chúng sẽ tách dân chúng khỏi lực lượng cách mạng, khống chế quần
chúng, cô lập tiến tới tiêu diệt lực lượng cách mạng, khi đó trên toàn miền
Nam cộng sản sẽ suy tàn. Nhưng ngay từ đầu, chúng đã vấp phải sự kháng cự
quyết liệt của đồng bào miền Nam. Nhân dân miền Nam đã tiến hành cuộc
14
15
thống Mỹ phê chuẩn ngày 17 tháng 3 năm 1964. Tiếp theo, chúng đặt ra kế
hoạch L.Giônxơn - Mắc Namara nhằm bình định miền Nam trong vòng 2 năm
(từ 1963 đến 1964).
Thực hiện kế hoạch này, Mỹ đã tăng cường lực lượng cố vấn, yểm
trợ từ 22.400 người (năm1963) lên 26.200 người (năm 1964), trong đó
có 10.400 cố vấn Mỹ; quân nguỵ tăng từ 417.000 người (năm 1963)
lên 561.000 người (năm 1964). Về vũ khí trang bị cũng được tăng
cường cả về số lượng lẫn chất lượng: máy bay năm 1963 là 527 chiếc,
sang năm 1964 là 989 chiếc; xe cơ giới tăng từ 582 chiếc năm 1963
lên 732 chiếc năm 1964; pháo từ 248 khẩu năm 1963 lên 415 khẩu
năm 1964[10, tr.290-291].
Chúng sử dụng các thủ đoạn chiến tranh khốc liệt và đẫm máu như
gom dân, lập ấp chiến lược, đẩy mạnh bình định, càn quét ra các vùng chúng
không kiểm soát được. Từ cuối tháng 2 năm 1964, chúng vạch ra kế hoạch
bình định mang tên “Chiến thắng”, hòng tiêu diệt toàn bộ tổ chức quân sự,
chính trị, kinh tế của ta. Kế hoạch được bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 1964,
dự định chia làm hai bước:
Bước một, từ ngày 1 tháng 4 năm 1964 đến ngày 3 tháng 12 năm
1965, sẽ tiến hành bình định các vùng trọng điểm như vùng chiến thuật I (Bắc
Trung Bộ), vùng II (Trung Trung Bộ), vùng III (Đông Nam Bộ), bằng những
cuộc hành quân đánh phá liên tục, ác liệt, kết hợp với việc gom dân lập ấp.
Bước hai, bắt đầu từ năm 1966, tiến công vào các vùng căn cứ, tiêu
diệt các đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng, phá huỷ các cơ sở quân sự của ta.
Đồng thời, chúng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền
Bắc Việt Nam như dùng máy bay do thám, bắt cóc công dân Bắc Việt Nam để
khai thác tin tức; thả biệt kích, thám báo gây chiến tranh phá hoại mọi mặt;
dùng chiến tranh tâm lý gây mất ổn định đối với công cuộc xây dựng CNXH
17
trả quyết liệt những cuộc đánh phá bằng không quân, hải quân của Mỹ, gây
cho chúng nhiều tổn thất nặng nề. Từ đó, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn
của địch nhằm chống phá miền Bắc XHCN.
Thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” trên chiến trường miền
Nam, đã giáng một đòn chí mạng vào chính quyền và quân đội Mỹ - nguỵ,
đẩy chính quyền Sài Gòn lún sâu hơn vào cuộc khủng hoảng chính trị. Mặc
dù đội quân chủ lực nguỵ đã bị thua, có những trận bị ta tiêu diệt từng chiến
đoàn, tinh thần, ý chí của chúng bị sa sút, tuy nhiên ta chưa giành được thắng
lợi quyết định, vì đội quân nguỵ bị đánh bại, nhưng số lượng còn khá đông,
chưa tan rã về tổ chức. Trước tình hình đó, Mỹ buộc phải tăng viện trợ, ồ ạt
đưa quân viễn chinh và quân chư hầu vào miền Nam Việt Nam, thực hiện
chiến lược “chiến tranh cục bộ. Đây là một nỗ lực cao nhất trong chiến lược
toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Mỹ, nhằm cứu vãn tình thế bất lợi của
chúng trên chiến trường miền Nam Việt Nam.
Đế quốc Mỹ thi hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”, bằng cách đưa
quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến trên qui mô lớn ở miền Nam, đồng thời
đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc.
Sau khi dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” vào ngày 3 tháng 8 năm 1964, Tổng
thống L.Giônxơn ra lệnh cho không quân Mỹ mở cuộc tiến công “trả đũa” và
yêu cầu Quốc hội Mỹ ra nghị quyết trao toàn quyền cho Tổng thống sử dụng
lực lượng vũ trang đối phó với “cuộc khủng hoảng lớn” ở Việt Nam. Ngày 5
tháng 8 năm 1964 không quân Mỹ mở cuộc tiến công bằng bom đầu tiên
xuống miền Bắc Việt Nam.
Tháng 2 năm 1965, Mỹ mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không
quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến tranh đó đã diễn ra
qua ba bước leo thang:
đoàn chiến đấu khác sang trực tiếp chiến đấu trên chiến trường miền Nam,
từng bước leo thang chiến tranh. Tính đến ngày 27 tháng 7 năm 1965 Tổng
19
thống Mỹ L.Giônxơn đã quyết định tăng số quân Mỹ lên 125.000 quân, trực
tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Việt Nam. Đến tháng 12 năm
1965 quân số đó đã lên đến 184.314 tên, gồm 3 sư đoàn, sáu lữ đoàn và trung
đoàn cùng hai phi đoàn máy bay chiến đấu chiến thuật số 3 và 12, lực lượng
hải quân đặc nhiệm 115 và 116. Ngoài ra còn có quân đội các nước chư hầu
của Mỹ cũng trực tiếp tham chiến.
Như vậy từ giữa năm 1965, cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu
mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã leo lên nấc thang mới, “chiến tranh cục
bộ”. Đặc điểm chủ yếu của chiến lược “chiến tranh cục bộ” là đế quốc Mỹ
không chỉ lấy lực lượng tay sai phản động làm công cụ thống trị nhân dân ta
và tiến hành chiến tranh, mà còn trực tiếp tung đội quân viễn chinh Mỹ vào
tác chiến chống lại lực lượng vũ trang và nhân dân ta. Quân viễn chinh Mỹ
được huy động với qui mô lớn trong thời gian ngắn, kèm theo là một khối
lượng khổng lồ binh khí kỹ thuật, vật tư, bom đạn. Mỹ đã tung vào miền Nam
hầu hết các sư đoàn tinh nhuệ, sử dụng các loại vũ khí trang bị hiện đại nhất.
Đây là những nỗ lực cao nhất mà đế quốc Mỹ có thể huy động trong
cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, lực lượng quân viễn chinh
Mỹ chỉ là con chủ bài, là lực lượng nòng cốt để “tìm diệt” bộ đội chủ lực ta,
còn lực lượng chiếm đóng, bình định vẫn là quân đội nguỵ. Mục tiêu quân sự
của “chiến tranh cục bộ” là nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang ta, nhất là quân
chủ lực tập trung, nhằm giành thắng lợi về quân sự trong thời gian ngắn, buộc
ta phải ngồi vào đàm phán theo ý muốn của Mỹ, để Mỹ rút quân về nước trên
thế thắng.
Với sự leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ ở mức độ cao nhất, cách
chiến lược trên không phải là đơn giản, mà là quyết định “quyết liệt” nhưng
“day dứt” nhất. Ba phương án do Bộ Quốc phòng đệ trình lên Tổng thống Mỹ
đều khó lựa chọn cả:
Một là, rút lui mà chắc chắn đó là điều nhục nhã đối với nước Mỹ.
21
Hai là, tiếp tục chiến tranh như mức hiện có, điều đó sẽ làm cho nước
Mỹ sẽ ngày cành yếu đi.
Ba là, mở rộng và đẩy mạnh chiến tranh ra cả hai miền Nam - Bắc
Việt Nam, sẽ tránh được thất bại nhưng sẽ phí tổn lớn và sau này rút quân sẽ
rất khó khăn.
Sau nhiều ngày đêm trăn trở, với nhiều cuộc họp quan trọng trong giới
quan chức Mỹ, Tổng thống Mỹ đã đưa ra một quyết định đó là “bằng mọi giá
không để miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản”. Quá trình tính toán các
phương án leo thang chiến tranh, trong hai viện của Quốc hội Mỹ có một số ý
kiến do dự hoặc không tán thành. Số ít ý kiến này cho rằng nên tìm giải pháp
ngoại giao, thương lượng để tránh sa lầy trong cuộc chiến ở Việt Nam. Nhưng
những tiếng nói lừng chừng hoặc không đồng tình này nhanh chóng bị rơi vào
im lặng, bởi những nhân vật “diều hâu” chủ chốt trong chính quyền Mỹ rất
hiếu chiến, chúng không rễ ràng từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Nhưng để
cứu vãn tình thế bất lợi trên chiến trường, Mỹ không còn cách nào khác là
phải thay đổi chiến lược chiến tranh cho phù hợp với tình hình cuộc chiến
đang diễn ra ở Việt Nam.
Chính quyền Mỹ đánh giá rất cao việc trực tiếp dùng quân viễn chinh
đi xâm lược. Bởi cũng bằng chiến lược này, Mỹ đã làm thay đổi tình hình ở
Triều Tiên năm 1950. Chúng hy vọng rằng, với chiến lược này sẽ giáng một
đòn mạnh và đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, kết thúc chiến
tranh, rút quân về nước trong thế thắng. Mục tiêu bao trùm của chiến lược
lượng tiêu diệt chủ lực, bình định nông thôn, diệt cơ sở chính trị ta, leo thang
đánh phá miền Bắc, chặn mọi nguồn chi viện, cô lập miền Nam, giành thắng
lợi cho cuộc chiến tranh trong thời gian ngắn nhất. Bộ Quốc phòng Mỹ đánh
giá cao kế hoạch đó, họ cho rằng: “Đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của
địch, làm cho kẻ địch không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi nào trên đất nước...
và giáng cho kẻ địch những đòn thật nặng nề”[68, tr.136].
23
Với mục tiêu, kế hoạch đó, ngày 17 tháng 7 năm 1965, Tổng thống
Mỹ L.Giônxơn chuẩn y đề nghị tăng quân lên 44 tiểu đoàn và thực hiện kế
hoạch “tìm diệt” của tướng Oétmolen. Trước tiên ông ta ra lệnh triển khai vào
Nam Việt Nam 34 tiểu đoàn quân Mỹ gồm khoảng 100.000 quân, số còn lại
được dự kiến sẽ bổ xung tiếp sau. Quyết định này đã đưa nước Mỹ “vượt qua
ngưỡng cửa bước vào cuộc chiến tranh trên đất liền ở Châu Á”[68, tr.136].
Đây là bước ngoặt quan trọng đánh dấu quá trình thay đổi đường lối,
chính sách leo thang chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Kể từ
đây, quân Mỹ đóng vai trò là lực lượng chủ yếu, quyết định trên chiến trường.
Đồng thời đây cũng là những cố gắng quân sự lớn nhất, bước leo thang chiến
tranh cao nhất của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Đây cũng là lần đầu tiên Mỹ đưa
nhiều quân đi xâm lược nước khác nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Khi đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam, đồng thời leo
thang đánh phá miền Bắc làm cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam ngày càng trở
nên gay go, ác liệt. Bởi đế quốc Mỹ là tên đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân
sự hùng mạnh bậc nhất trong thế giới tư bản, với âm mưu, thủ đoạn hết sức
thâm độc, xảo quyệt, chúng không từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Trong
giai đoạn này, âm mưu trước mắt của chúng là:
Ra sức mở những cuộc tiến công nhằm tiêu diệt lực lượng ta - nhất là
lực lượng vũ trang tập trung của ta; giữ vững và củng cố hoặc chiếm
bất lợi cho ta, nhất là những bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế, những mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc có ảnh hưởng đến
cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Liên Xô đang bị chủ nghĩa xét
lại lũng đoạn, việc ủng hộ, giúp đỡ cách mạng nước ta chỉ trên lĩnh vực tuyên
truyền, còn viện trợ kinh tế, quân sự ít ỏi, chưa đáp ứng được yêu cầu cuộc
kháng chiến. Còn Trung Quốc, nước láng giềng gần gũi với Việt Nam đang
làm cuộc “Đại cách mạng văn hoá”, cho nên “Trung Quốc sẽ không phản ứng
theo bất kỳ cách nào đối với chiến dịch ném bom, trừ phi quân Mỹ hoặc Nam
25
Việt Nam xâm lược miền Bắc Việt Nam... Phản ứng của Trung Quốc đối với
cuộc ném bom có hệ thống Bắc Việt Nam chắc chắn sẽ có giới hạn”[68,
tr.12]. Lúc này nhân dân các nước trên thế giới bị Mỹ bưng bít hoặc tuyên
truyền sai sự thật, do đó họ chưa thấy hết bản chất cuộc chiến tranh xâm lược
của đế quốc Mỹ, chưa đứng hẳn về phía Việt Nam đấu tranh đòi Mỹ chấm dứt
chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Mặc dù đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân xâm lược Việt Nam, huy động
tối đa sức mạnh quân sự (thời điểm cao nhất vào cuối năm 1967 là 442.588
quân), trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta nhận
định so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường vẫn không có sự thay
đổi lớn, có lợi cho Mỹ. Bởi Mỹ giàu, quân Mỹ mạnh, trang bị hiện đại, nhưng
chúng vào miền Nam trong hoàn cảnh quân đội nguỵ đã thua trận, chính
quyền tay sai rệu rã, “chiến tranh đặc biệt” đã thất bại, chúng mất thế chủ
động chiến lược. Chỗ yếu cơ bản nhất của quân Mỹ từ trước đến nay vẫn là
chính trị. Cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ không thể là động lực cho binh
lính Mỹ chiến đấu. Binh lính, vũ khí trang bị hiện đại nhưng không phù hợp
điều kiện địa hình, thời tiết, cách đánh của ta, do đó sức cơ động, sức chiến
đấu không được phát huy. Hậu phương của Mỹ xa, cách ta nửa vòng trái đất,