LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của NÔNG dân TỈNH NAM ĐỊNH TRONG sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HIỆN NAY - Pdf 38

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Ban Chấp hành Trung ương

BCHTW

Chính trị quốc gia

CTQG

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH, HĐH

Hệ thống chính trị

HTCT

Nhà xuất bản

Nxb

Trang

tr

Trung ương

11

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn hiện nay và một số vấn đề đặt ra

33

Chương 2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
PHÁT HUY VAI TRÒ NÔNG DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI
HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN HIỆN NAY

57
2.1. Phương hướng phát huy vai trò nông dân tỉnh Nam Định
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn hiện nay
2.2. Một số giải pháp cơ bản phát huy vai trò nông dân tỉnh

57

Nam Định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay
KẾT LUẬN

62
84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

86

nông dân Việt Nam, cùng với sự phát triển của đất nước, nông dân tỉnh Nam
Định không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, đã và đang phát huy mọi tiềm năng
của tỉnh, đóng góp không nhỏ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh
và bền vững của tỉnh. Sự lớn mạnh của nông dân tỉnh là điều kiện tiên quyết


4

bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo
định hướng XHCN ở Nam Định.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp, nông thôn
ở Nam Định vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Nền kinh tế vẫn mang nặng
dấu ấn sản xuất nhỏ, độc canh cây lúa là chủ yếu. Đời sống của người nông
dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, những vấn đề chính trị, xã hội như
hiện tượng nông dân mất đất sản xuất, hiện tượng phân hoá giàu nghèo, tình
trạng ô nhiễm môi trường, tình trạng khiếu kiện, khiếu nại, gây mất ổn định về
trật tự an ninh ở một số địa phương vẫn tiếp tục diễn ra đang ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của người nông dân và tiềm ẩn nguy cơ đối với an ninh chính trị –
xã hội. Những hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên
nhân cơ bản là do vai trò chủ thể của người nông dân ở đây chưa được phát huy
cao độ. Vì vậy, phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở tỉnh Nam Định hiện nay không chỉ là vấn đề tất yếu khách
quan mà còn là đòi hỏi bức thiết của chính sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung
và phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Nam Định nói riêng.
Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Vai trò nông dân tỉnh Nam
Định trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nông dân và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò
quan trọng, có ý nghĩa chiến lược bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng

nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến năm 2006; rút ra một số kinh nghiệm
trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn;
cung cấp một số tư liệu tham khảo về đổi mới đối với khu vực này.
Một số công trình khoa học nghiên cứu về CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn như: “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn –


6

một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả Hồng Vinh chủ biên, Nxb
CTQG, Hà Nội (1998); “ Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” gồm 2 tập của Hội Khoa học Kinh tế Việt
Nam, Ban đào tạo và phổ biến kiến thức, Nxb CTQG, Hà Nội (1998);… Các
công trình này đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta, nêu lên một số xu hướng biến đổi, vận
động của kinh tế nông nghiệp trong những năm đầu thế kỷ XXI, làm rõ nội
dung, chủ trương, giải pháp chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông
thôn.
Nghiên cứu về nông dân có đề tài cấp bộ “Tác động của tâm lý làng,
xã trong việc xây dựng đời sống kinh tế – xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc
Bộ ở nước ta hiện nay” do Tiến sĩ Lê Hữu Xanh chủ biên, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2001, “Những căn cứ lý luận và thực tiễn cấp thiết để thực hiện tốt liên
minh công – nông – trí thức ở nước ta hiện nay” của Viện chủ nghĩa xã hội
khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (2001); “Để nông
nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, nông dân giàu hơn”, Nguyễn Tuấn
Dũng, Tạp chí Cộng sản, số 28 (tháng 10 – 2003); Các công trình trên đề cập
đến nhiều vấn đề khác nhau như đời sống vật chất, tinh thần, lối sống, phong
tục tập quán, xu hướng biến đổi của nông dân, quyền làm chủ của người nông
dân và các chính sách hỗ trợ, khuyến khích nâng cao đời sống của người nông
dân trong quá trình CNH, HĐH đất nước.

nông thôn tỉnh Hải Dương hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Triết học của Phạm
Văn Hiền (2009); “ Nông dân Tây Bắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn
dân hiện nay” - Luận án tiến sỹ Triết học của Đỗ Ngọc Sơn (2009), trong
luận án này tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về vai trò nông dân Tây Bắc trong
xây dựng nền QPTD giai đoạn hiện nay; đánh giá thực trạng vai trò nông dân
Tây Bắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân giai đoạn hiện nay và làm rõ
nguyên nhân của thực trạng đó; từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát


8

huy vai trò nông dân Tây Bắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân giai đoạn
hiện nay… Các đề tài này bước đầu đi nghiên cứu sự phân hoá giàu nghèo, đặc
điểm của giai cấp nông dân trong giai đoạn đổi mới đất nước, làm rõ xu hướng
biến đổi khách quan của giai cấp nông dân Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo,
trình bày một số phương hướng đưa giai cấp nông dân Việt Nam phát triển theo
định hướng XHCN. Các đề tài này tuy bàn đến đối tượng là nông dân nhưng chưa
đi sâu vào vai trò của nông dân cũng như việc phát huy vai trò của nông dân trong
sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn, nông dân dưới các góc độ khác
như: “Hệ thống chính trị ở nông thôn nước ta hiện nay từ nghiên cứu lý luận đến
ứng dụng thực tiễn” của tác giả Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6,
2002; tác giả Ngô Đức Thịnh, “Tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã hội
và vốn xã hội cho phát triển”, Tạp chí Cộng sản số 791, tháng 9 - 2008 với cách
tiếp cận nông thôn, nông dân Việt Nam mới đi từ các hình thức liên kết, các mạng
lưới xã hội và vốn xã hội từ đó có thể phát hiện và khơi thông các nguồn lực nông
thôn vốn tiềm ẩn thành nguồn lực cho phát triển trong thời đại CNH, HĐH.
“Những bài học kinh nghiệm về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ỏ cơ
sở” của tác giả Tòng Thị Phóng, Tạp chí Cộng sản số 804 (tháng 10 - 2009),
đã khẳng định thông qua 10 năm thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở nhận

+ Làm rõ về vai trò của nông dân tỉnh Nam Định trong sự nghiệp CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay.
+ Đánh giá thực trạng vai trò nông dân tỉnh Nam Định trong sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân và một
số vấn đề đặt ra cần giải quyết.
+ Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát
huy vai trò nông dân tỉnh Nam Định trong sự nghiệp CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn hiện nay.
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn


10

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò nông dân tỉnh Nam Định
trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vấn đề vai trò nông dân tỉnh Nam Định trong sự
nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 2006 đến năm 2010.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giai cấp nông
dân và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.


11

* Cơ sở thực tiễn của luận văn
Luận văn được xây dựng dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình
thực hiện vai trò của nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,

hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay
1.1.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Nam
Định hiện nay
* Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện
nay
Ở nước ta hiện nay, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có vị trí quan
trọng hàng đầu, tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn bộ quá trình CNH,
HĐH đất nước, góp phần quan trọng giải phóng sức lao động dồi dào và nguồn
đất đai rộng lớn ở nông thôn, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ được
độc lập chủ quyền của đất nước. Bởi nông nghiệp, nông thôn, nông dân là vấn
đề chiến lược, có tầm quan trọng chiến lược đối với sự ổn định và phát triển
của đất nước, chiếm vị trí, vai trò to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
XHCN. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không chỉ là vấn đề kinh tế đơn
thuần mà còn là vấn đề an sinh xã hội, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn, thay
đổi cơ cấu dân số nông thôn - thành thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu
nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn, làm cho thu nhập kinh tế khu
vực nông thôn không chênh lệch quá xa so với khu vực đô thị, đảm bảo cho
sự nghiệp CNH, HĐH thành công. Đảng ta khẳng định: “Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [18, tr.94]. Do vậy, trong
giai đoạn hiện nay nước ta cần tập trung trước tiên vào phát triển nông nghiệp và


13

nông thôn một cách toàn diện, đồng bộ nhằm tạo đà cho toàn bộ nền kinh tế tăng
trưởng nhanh và bền vững.
Chủ trương, đường lối của Đảng ta về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Từ thực tiễn thế giới và đất nước, Đảng ta từng bước đề ra chủ trương,
đường lối CNH, HĐH cho phù hợp. Đại hội lần thứ VI đánh dấu sự nghiệp

tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản
phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn
về an ninh lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công
nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài nước. Thực hiện thuỷ
lợi hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá... phát triển công nghiệp chế biến
nông, lâm, thuỷ sản với công nghệ ngày càng cao... phát triển các ngành
nghề, làng nghề truyền thống... xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại [14, tr.87].
Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: "Trong nhiều năm tới,
vẫn coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một trọng
điểm cần tập trung sự chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết" [17, tr.32]. Đặc biệt
tại Hội nghị TW 5 khoá IX (năm 2002) về “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010” đã tiếp tục làm rõ hơn
những quan điểm của Đảng về quan niệm, cũng như xác định các mục tiêu,
phương hướng, quan điểm và nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Nghị quyết TW 5 đã đưa ra tổng quát về CNH, HĐH nông nghiệp và CNH,
HĐH nông thôn nhằm tạo ra một bước đột phá, nhảy vọt mạnh mẽ để khai
thác hết mọi tiềm năng và nội lực của đất nước.
Đến Đại hội X của Đảng năm 2006 tiếp tục khẳng định: Đẩy mạnh
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân. Sau hơn 20 năm đổi mới, Đảng ta đã nhận
thức ngày càng đúng đắn vị trí và vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông
dân và nông thôn trong phát triển đất nước. Do vậy, tại Nghị quyết TW 7
khoá X (2008) đã đề ra quan điểm, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu để


15

phát triển toàn diện và vững chắc nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vì lợi ích
của người dân, vì sự phát triển cộng đồng và thực hiện đoàn kết dân tộc nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

những tiền đề cần thiết về vật chất, kỹ thuật, về con người, công nghệ,
phương tiện, phương pháp - những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho
chủ nghĩa xã hội. Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không chỉ
đơn giản là phát triển công nghiệp nông thôn và HĐH một số công đoạn sản
xuất nông nghiệp như cơ giới hoá, điện khí hoá mà nó còn bao gồm toàn bộ
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống vật chất và văn hoá tinh
thần nói chung ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp hiện đại
và phương thức tổ chức tiên tiến.
Mục tiêu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là: Phát triển toàn
diện nông nghiệp gắn với phát triển công nghiệp và dịch vụ, các ngành nghề
đa dạng, trú trọng phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông
nghiệp và kinh tế nông thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động theo hướng CNH, HĐH, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, góp phần
thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, tích cực giải
quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống cho dân cư
nông thôn, thực hiện xoá đói, giảm nghèo; phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
nông thôn; bảo vệ môi trường sinh thái, làm tốt công tác bảo vệ rừng và trồng rừng.
Nâng cao hiệu quả trong khai thác, nuôi trồng thuỷ, hải sản; gắn CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng
toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, làm chủ vùng biển của Tổ quốc bảo đảm
ổn định về chính trị - xã hội và đoàn kết trong dân cư nông thôn.
Quan điểm chỉ đạo trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay:
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới, đưa
nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn, là nhiệm vụ cực kỳ quan
trọng cả trước mắt và lâu dài.


17


Bốn là, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và các cơ
sở kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, cho nông nghiệp, nông thôn về điện
đường, trường, trạm, từng bước xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại.
* Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định
Đặc điểm tự nhiên: Tỉnh Nam Định nằm ở vùng duyên hải Bắc Bộ,
tiếp giáp các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, phía Đông Nam giáp
vịnh Bắc Bộ và nằm giữa hai con sông Hồng và sông Đáy, có diện tích tự
nhiên là 1.669km 2 bằng 0,52% diện tích cả nước, đứng thứ 57/63 tỉnh,
thành phố. Đất đai Nam Định được chia làm 2 vùng rõ rệt: đất đồng bằng
và đất ven biển. Khí hậu Nam Định thuận lợi cho phát triển kinh tế nông lâm - ngư nghiệp với các loại cây trồng vô cùng phong phú, nhiều nhất là
lúa, ngô, đỗ, lạc, vừng, các loại rau và hoa quả. Nam Định có bờ biển dài
72km, với nhiều hải sản quý theo thống kê có khoảng 746 loài, hàng năm
có thể khai thác được từ 100 đến 120 ngàn tấn hải sản. Vùng ven biển
Nam Định có những khu rừng ngập mặn, thu hút tới 150 loài chim sinh
sống, số lượng có khi lên đến 25.000 con. Vùng đất ngập mặn Xuân Thuỷ
là vùng đất đầu tiên của Việt Nam được ghi vào Công ước quốc tế bảo vệ
đất ngập nước (RAMSAR). Nơi đây có nhiều cánh đồng muối như cánh
đồng muối Văn Lý.
Đặc điểm văn hoá: Nam Định là địa phương có truyền thống văn hiến,
yêu nước và cách mạng, nơi phát tích của Vương triều Trần nổi tiếng với hào
khí “Đông A”, ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Cả tỉnh hiện nay có
khoảng 1.655 di tích lịch sử văn hoá, khoảng 300 nhà thờ, đặc biệt là hơn
3.000 từ đường dòng họ, hàng trăm vùng có làng nghề truyền thống và các làn
điệu dân ca, hàng ngàn bản hương ước, hàng trăm văn chỉ, văn từ. Nam Định
là mảnh đất có truyền thống hiếu học, trong chế độ khoa bảng thời phong
kiến, cả tỉnh có 5 trạng nguyên, 3 bảng nhãn, 3 thám hoa, 14 hoàng giáp, 62


19



đặt ra phải tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh. Trong quá
trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn luôn được tỉnh đặc biệt quan tâm, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh
lần thứ XVII nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã đề ra 6 chương trình kinh tế - xã hội,
trong đó có 3 chương trình liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XVI) đã ban hành Nghị quyết 10 NQ/TU về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, Chương trình 05/CTr TU về phát triển kinh tế biển. Để tiếp tục đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Đảng bộ
tỉnh khóa XVII ra Nghị quyết số 03 - NQ/TƯ tháng 12/2006 về phát triển
nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 - 2010,
định hướng đến năm 2020.
Căn cứ vào mục tiêu chung của cả nước, căn cứ vào điều kiện kinh tế
xã hội, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, nội dung của CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở tỉnh Nam Định hiện nay là:
Một là, phát huy lợi thế của tỉnh để chuyển nhanh sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Trong nông
nghiệp, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng giá trị ngành chăn nuôi và khai
thác, nuôi trồng thủy sản. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ. Đa dạng
hoá các loại hình dịch vụ, mở rộng giao lưu, trao đổi hàng hoá. Khuyến khích
và tạo điều kiện phát triển dịch vụ ở nông thôn, nhất là dịch vụ chế biến và
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Hai là, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên
tiến vào sản xuất, trọng tâm là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin. Có
chính sách thu hút các nhà khoa học trong hợp tác, chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất. Tăng dần hàm lượng khoa học - công nghệ trong giá trị


21



nhiều mặt đối với nhau. Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên
hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập với nhau” [26, tr.264]. V.I. Lênin cũng
đưa ra quan niệm về giai cấp nông dân (tiểu nông) “người tiểu nông tức là
những dân cày, ít ruộng, có riêng hay lĩnh canh được những mảnh đất nhỏ,
khiến khi họ cày cấy để cung cấp cho nhu cầu gia đình và nhu cầu sản xuất
của họ, họ không phải thuê nhân công bên ngoài”[24, tr.209]. Hồ Chí Minh
quan niệm: Giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao động, nhân tố
chủ yếu của lực lượng sản xuất và là những người tư hữu nhỏ. Người
khẳng định: “Nước ta là nước nông nghiệp, hơn 9/10 dân ta là nông dân.
Hơn 9/10 nông dân là trung, bần và cố nông” [30, tr.710].
Trong Từ điển “Chủ nghĩa cộng sản khoa học”, khái niệm giai cấp nông
dân cũng được khái quát như sau: “Nông dân là một giai cấp chuyên sản xuất
những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về
tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình” [42, tr. 227].
Từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với sự vận động phát
triển của đất nước, cơ cấu xã hội - giai cấp nói chung và giai cấp nông dân Việt
Nam nói riêng đang diễn ra rất phức tạp. Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Trương Thị
Tiến: “Giai cấp nông dân Việt Nam gồm nông dân nhận ruộng khoán của các
doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước, hộ nông dân trong các hợp tác xã nông
nghiệp đã chuyển đổi và hộ nông dân cá thể” [41, tr.65]. Tiến sĩ Đỗ Ngọc Sơn
quan niệm: “Giai cấp nông dân Việt Nam là cộng đồng những người lao động,
mà hoạt động của họ gắn liền với sản xuất nông nghiệp ở trình độ sản xuất nhỏ
là phổ biến dưới hình thức hộ gia đình, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân, hoặc sở
hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất” [38, tr.25].
Dựa trên các quan điểm giai cấp nông dân của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tham khảo quan điểm của các nhà khoa
học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước, tác giả đưa ra quan niệm về


23


24

lập nền chuyên chính vô sản dựa trên nền tảng liên minh công nông, đây
chính là điều cần và đủ cho sự vững mạng của chính quyền Xô viết. V.I.Lênin
chỉ rõ: “Nguyên tắc tối cao nhất của chuyên chính vô sản là duy trì khối liên
minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai
trò lãnh đạo chính quyền nhà nước” [23, tr.57]. Sau nội chiến, V.I.Lênin đã
thực hiện chính sách Kinh tế mới, trong đó chọn giải pháp “bắt đầu từ nông
dân”, từ khôi phục nông nghiệp, từ cải thiện đời sống nông dân để ổn định
tình hình đất nước, phát triển kinh tế - xã hội.
Nghiên cứu kế thừa và phát triển quan điểm về vai trò giai cấp nông dân
của chủ nghĩa Mác - Lênin và thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng phong
phú, Hồ Chí Minh là người đầu tiên nhìn thấy khả năng cách mạng to lớn của
nông dân. Theo Người, nông dân Việt Nam rất yêu nước, họ là lực lượng đông
đảo, hùng hậu trong dân tộc chống đế quốc, chống phong kiến, là bạn đồng minh
chiến lược của giai cấp công nhân trong đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo
của giai cấp công nhân. Người chỉ rõ: “Nông dân lao động là lực lượng rất to lớn
của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân” [33, tr.23].
Theo Hồ Chí Minh sức mạnh đoàn kết toàn dân - trong đó chủ yếu là
nông dân - là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng do Đảng Cộng sản
lãnh đạo. Nếu giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản không lôi kéo được lực
lượng cách mạng đông đảo nhất này trong dân tộc về phía mình thì không thể
đưa cách mạng đi đến thành công: “Cách mạng muốn thành công thì phải lấy
dân chúng (công nông) làm gốc” [31, tr.280]. Khẳng định vai trò to lớn của
nông dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng
bào nông dân lao động. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy sẽ làm xoay
trời, chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy
đánh tan” [34, tr.185].
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh nông dân là

Về cơ cấu và xu hướng biến đổi, trong cơ cấu giai cấp - xã hội của
tỉnh, nông dân chiếm một tỷ trọng lớn, năm 2009 dân số sống ở nông thôn
chiếm 84% số dân và chiếm 70,4% tổng số lao động trong toàn tỉnh. Họ là



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status