LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của CÔNG đoàn TRONG NÂNG CAO ý THỨC XHCN CHO CÔNG NHÂN ở các DOANH NGHIỆP có vốn đầu tư nước NGOÀI của TỈNH ĐỒNG NAI - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1-

Tính cấp thiết của đề tài
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của GCCN Việt Nam. Công đoàn có vai trò quan
trọng trong việc tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng GCCN trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng
Việt Nam- Vai trò này đã được Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và luật Công đoàn khẳng
định.
Từ khi ra đời, trải qua các chặng đường lịch sử gian khổ và quang vinh của đất nước, Công đoàn Việt
Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện rõ vai trò của mình. Đặc biệt là trong tuyên truyền giáo dục ý thức
chính trị XHCN cho GCCN để GCCN giác ngộ và từng bước hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Công đoàn
Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đã xứng đáng là cơ sở xã hội chính trị
của Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước và là trường học cộng sản chủ nghĩa của GCCN.
Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được
nhiều thành tích to lớn và rất quan trọng, làm cho thế và lực của chúng ta lớn mạnh lên nhiều. Tuy nhiên, vẫn
còn nhiều yếu kém và khuyết điểm: kinh tế phát triển chưa vững chắc, một số vấn đề văn hóa- xã hội bức xúc
chưa được giải quyết, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, tệ tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo
đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên còn rất nghiêm trọng. Đất nước vẫn phải đối phó với
4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng XHCN; quan liêu tham nhũng và “diễn
biến hòa bình”.
Tất cả những vấn đề trên đã tác động trực tiếp theo hướng cả tích cực lẫn tiêu cực đến tư tưởng, nhận
thức, ý thức chính trị XHCN của GCCN nước ta. Làm cho một bộ phận công nhân chưa nhận thức đầy đủ vai trò
nhiệm vụ của giai cấp mình, thiếu tính tiền phong cách mạng. Vì vậy, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đòi hỏi
GCCN Việt Nam phải được “coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính
trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp”.
Đồng Nai là một vùng kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, ưu thế về quy mô, chất lượng các ngành công
nghiệp phát triển năng động của đất nước. Trong mấy năm gần đây, Tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh mẽ các khu
công nghiệp tập trung, hình thành và phát triển các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, đã thu hút một lực lượng lớn
công nhân tham gia, trong đó phần lớn là lao động trẻ. Theo báo cáo của Ban chấp hành liên đoàn lao động
Tỉnh Đồng Nai khoá VI: hiện nay còn một số ít công nhân chưa nhận thức đầy đủ về tổ chức Công đoàn, chưa
thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp, Nhà nước và xã hội, trình độ giác ngộ chính trị

cao ý thức chính trị XHCN của công nhân ỏ các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện
nay” mà tác giả lựa chọn là một công trình khoa học độc lập, không trùng lắp với bất kỳ công trình khoa học nào
đã công bố.

3-

Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của tổ chức Công đoàn trong nâng
cao ý thức chính trị XHCN của công nhân ở các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, luận văn đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn trong nâng cao ý thức chính trị XHCN của công nhân ở
các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ khái niệm ý thức chính trị XHCN và biểu hiện của nó ở GCCN Việt Nam. Sự cần thiết phải
nâng cao ý thức chính trị XHCN của GCCN nước ta hiện nay.
- Phân tích vai trò của tổ chức Công đoàn trong nâng cao ý thức chính trị XHCN của công nhân ở các
doanh nghiệp có vốn ĐTNN và thực trạng vai trò đó trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn trong nâng cao ý thức
chính trị XHCN của công nhân ở các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay.

4-

Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn


Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về GCCN và tổ chức Công đoàn của GCCN.
Cơ sở thực tiễn: Luận văn dựa vào kết quả nghiên cứu, khảo sát, điều tra của tác giả và kế thừa một
cách chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, những tổng kết, báo cáo chuyên ngành
về Công đoàn cả nước, đặc biệt là của tỉnh Đồng Nai.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy

Ở mỗi thời đại, tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thường có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng
đầu và tác động mạnh mẽ, chi phối các hình thái ý thức xã hội khác. Tuy nhiên, trong tính tổng thể của ý thức
xã hội thì ý thức chính trị có vai trò quan trọng nó quyết định đến xu hướng và nội dung của các hình thái ý
thức xã hội khác.


Theo tác giả : Ý thức chính trị là sự hiểu biết, sự quan tâm đến những vấn đề chính trị, là sự phản ánh
các quan hệ chính trị- xã hội, kinh tế- xã hội, quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia mà tập trung là phản ánh lợi
ích kinh tế cơ bản và địa vị của các giai cấp trong xã hội, mối quan hệ giữa các giai cấp đó trong việc giành và
duy trì quyền điều hành nhà nước.
Nội dung ý thức chính trị rất phong phú nhưng cái cốt lõi của nó là sự hiểu biết và nhận thức của chủ thể
về vai trò địa vị lịch sử, về đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và nhiệm vụ lịch sử của giai cấp mình
trong tiến trình phát triển của lịch sử. Theo V.I. Lênin khẳng định: “Chính trị là việc tham gia vào công việc quản
lý của Nhà nước, các định hướng của Nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ nội dung hoạt động của Nhà
nước”, do vậy, ý thức chính trị còn là sự nhận thức về Nhà nước, thái độ đối với Nhà nước của mỗi con người,
tập đoàn, giai cấp.
Nhà nước bao giờ cũng mang bản chất giai cấp, bị chi phối trực tiếp bởi một đảng của một giai cấp nào
đó, để đảm bảo quyền lực chính trị của giai cấp đó. Quyền lực chính trị là quyền làm chủ xã hội, chi phối mọi
hoạt động chính trị, xã hội của một giai cấp, liên minh giai cấp hay một tập đoàn xã hội. Quyền lực chính trị theo
đúng nghĩa của nó là: “Bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác” [20,Tr.628]. Quyền lực
chính trị nói lên thực chất hoạt động chính trị của một giai cấp, một đảng phái nhất định. Trong xã hội có giai cấp
thì giai cấp nào, nhóm xã hội nào cũng muốn nắm, muốn chi phối quyền lực chính trị, vì nếu nắm được quyền
lực chính trị là nắm được công cụ cơ bản, trọng yếu để giải quyết quan hệ lợi ích với các giai cấp khác, nhóm
xã hội khác theo hướng có lợi cho giai cấp mình. Do đó, ý thức chính trị còn là sự nhận thức về quyền lực
chính trị.
Trong xã hội có giai cấp , mỗi hình thái kinh tế -xã hội đều có một kết cấu giai cấp nhất định, trong đó có
những giai cấp cơ bản, những giai cấp không cơ bản và những tầng lớp xã hội khác. Vì vậy, ý thức chính trị còn
thể hiện ở quan điểm giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế, chính trị mà các giai cấp, tầng lớp đó đang
theo đuổi, ở sự liên minh giai cấp, đấu tranh và hợp tác giữa các giai cấp, tầng lớp vì những yêu cầu nhất định.
Vì vậy, chính trị thực chất là quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Trong

tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền có vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội: nó tác động trở lại cơ sở kinh
tế thông qua các tổ chức nhà nước, thông qua quyền lực nhà nước để bảo vệ và phát triển nền tảng kinh tế mà
giai cấp cầm quyền là người đại diện cho quan hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị trong xã hội. Hệ tư tưởng
chính trị còn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội nói chung; thông qua tổ chức nhà nước để
xác lập vị trí chi phối của hệ tư tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền trong văn hóa, nếp sống và mọi lĩnh vực
tinh thần của đời sống xã hội. Bằng cách đó giai cấp cầm quyền sẽ tiến tới hình thành được sự thống nhất về
chính trị, tư tưởng, tinh thần trong xã hội mà hệ tư tưởng chính trị của nó đứng ở vị trí trung tâm mang tính chi
phối.
Ý thức chính trị thực tiễn đời thường và ý thức chính trị tư tưởng lý luận có quan hệ biện chứng với
nhau, đều là sự phản ánh hiện thực đời sống chính trị. Ý thức chính trị thực tiễn đời thường tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tiếp thu hệ tư tưởng chính trị của giai cấp, ngược lại hệ tư tưởng chính trị của giai cấp lại củng cố,
định hướng cho sự phát triển tâm lý, tình cảm của giai cấp. Vì mối quan hệ đó mà trong hoạt động thực tiễn
giáo dục ý thức chính trị cho mỗi cá nhân, cộng đồng cần giáo dục, bồi dưỡng cả ý thức chính trị thực tiễn đời
thường và ý thức chính trị tư tưởng lý luận.
Ngoài việc phân theo trình độ phát triển, ý thức chính trị còn được phân theo chủ thể bao gồm ý thức
chính trị cộng đồng và ý thức chính trị cá nhân.
Ý thức chính trị cộng đồng (Xã hội, nhóm xã hội, giai cấp, tầng lớp…) là ý thức chính trị nảy sinh từ nhu cầu lợi
ích chính trị của cả cộng đồng, nó là chuẩn mực giá trị chung về nhu cầu, lợi ích chính trị được cả cộng đồng thừa nhận.
Ý thức chính trị cá nhân là sự đánh giá, hiểu biết thừa nhận của từng cá nhân về những vấn đề hiện
thực của đời sống chính trị. Vì vậy, ý thức chính trị cá nhân rất phong phú, đa dạng, mang đậm màu sắc chủ
quan. Một vấn đề hiện thực của đời sống chính trị có thể được nhìn nhận dưới những lăng kính khác nhau, cho


nên trong thực tiễn giáo dục chính trị cho mỗi cá nhân cần khuyến khích tính tích cực, sáng tạo, đồng thời phải
có sự định hướng để tránh những nhận thức lệch lạc, không thống nhất dẫn đến những hậu quả tiêu cực.
Ý thức chính trị cộng đồng và ý thức chính trị cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ý thức chính trị
cộng đồng chỉ tồn tại, phát triển, thể hiện thông qua ý thức chính trị của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, ý thức chính trị
cộng đồng không phải là phép cộng giản đơn của các ý thức chính trị cá nhân, mà nó là kết quả tổng hợp, kết
tinh những tinh hoa của ý thức chính trị cá nhân và được cả cộng đồng chấp nhận. Mỗi cá nhân là một phần tử
đơn nhất tạo thành cộng đồng xã hội, ý thức chính trị cá nhân được hình thành và phát triển trong quan hệ xã



sử, thể hiện ở tính tiên tiến, khoa học và triệt để cách mạng, đồng thời ý thức chính trị XHCN có vai trò to lớn
trong dự báo khoa học, định hướng chính trị cho hoạt động thực tiễn, xây dựng niềm tin cho con người.
Theo tác giả: Ý thức chính trị XHCN của GCCN Việt Nam chính là sự hiểu biết, sự quan tâm đến những
vấn đề chính trị của GCCN, phản ánh tâm tư, tình cảm, lập trường, thái độ, trình độ giác ngộ của GCCN về chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết
tâm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
*Biểu hiện ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân Việt Nam
Trước những biến động to lớn của tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt là sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước đã làm cho GCCN nước ta có sự trưởng thành cả về số lượng và chất lượng.
Trong điều kiện hiện nay, ý thức chính trị XHCN của GCCN nước ta có những biểu hiện chính sau
đây:
Một là: Sự giác ngộ về giai cấp
Giác ngộ về giai cấp (hay ý thức về giai cấp) là sự nhận thức về chính bản thân giai cấp mình trong mối
quan hệ với các giai cấp, tầng lớp khác và với tiến trình phát triển chung của xã hội. Trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta, giác ngộ về giai cấp là yếu tố hàng đầu của ý thức chính trị của GCCN. Sự giác ngộ về giai
cấp được biểu hiện ở hai vấn đề:
- Thứ nhất, Người công nhân hiểu về giai cấp mình ra sao? Giai cấp mình có vai trò lịch sử gì? Tại sao có
vai trò lịch sử ấy? Điều kiện để thực hiện được vai trò lịch sử này?
Nếu người công nhân chưa có sự giác ngộ giai cấp thì không hiểu được hoặc hiểu sai lệch những vấn
đề trên. Khi có giác ngộ giai cấp thì người công nhân sẽ ý thức được rằng: GCCN là giai cấp của những người
lao động trong nền công nghiệp hiện đại, là lực lượng tạo ra phần lớn sản phẩm vật chất cho xã hội, có sứ
mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng thành công CNXH và
CNCS. Sở dĩ GCCN có sứ mệnh lịch sử ấy là xuất phát từ địa vị KT-XH của nó, vì GCCN là sản phẩm của nền
đại công nghiệp, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất hiện đại, có tinh thần cách
mạng triệt để, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có lý luận cách mạng và khoa học dẫn đường - đó là Chủ nghĩa
Mác-Lênin – tư tưởng Hồ Chí Minh. Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình, GCCN phải có một trình độ
giác ngộ chính trị nhất định, phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phải xây dựng được khối liên minh vững
chắc với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức và thực hiện khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác- Lê nin:

lãnh đạo của Đảng, thờ ơ với những hoạt động của Đảng, không có ý thức phấn đấu để được đứng trong hàng
ngũ của Đảng
Người công nhân có ý thức chính trị khi nhận thức được rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên
phong của GCCN Việt Nam, là đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và của cả dân
tộc; vừa là bộ phận hợp thành vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN ở nước ta. Người công nhân
thấy được tầm quan trọng của vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng
XHCN. Người công nhân quan tâm đến hoạt động của Đảng mà cụ thể là hoạt động của các tổ chức cơ sở
Đảng và đảng viên trong các đơn vị của mình.
Người công nhân có ý thức chính trị cao phải hiểu được mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh; hiểu được hệ tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng là một tổ
chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực
hiện tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật tồn tại và phát
triển của Đảng. Đặc biệt người công nhân có ý thức chính trị cao phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, có ý thức phấn đấu để trở thành đảng viên, xác định động cơ vào Đảng đúng đắn, có thái độ đúng mức
trước những thiếu sót của Đảng, tích cực tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, thường xuyên theo dõi các đại
hội cũng như các hội nghị Trung ương của Đảng để nắm vững đường lối của Đảng và thực hiện nghiêm chỉnh
đường lối đó.
- Hiểu biết về Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


Nếu có ý thức chính trị thì người công nhân sẽ nhận thức được rằng: Nhà nước ta là Nhà nước của
dân, do dân, vì dân; là cơ quan hành pháp tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng và thực hiện ý chí,
quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân, quản lý toàn bộ hoạt động mọi
mặt của đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Với người công nhân có ý thức chính trị cao, sẽ nhận biết được sự khác nhau về bản chất giữa nhà
nước XHCN và Nhà nước tư sản. Nhà nước XHCN mang bản chất của GCCN, không ngừng mở rộng dân chủ
cho nhân dân lao động. Còn Nhà nước tư sản là công cụ áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đối với nhân dân
lao động, nhất là đối với GCCN. Từ đó, người công nhân có ý thức trách nhiệm đối với lá phiếu của mình trong
việc chọn lựa những đại biểu xứng đáng bầu vào các tổ chức Nhà nước, đồng thời có thái độ đúng mức đối với

Người công nhân có ý thức chính trị cao khi niềm tin này được dựa trên cơ sở nhận thức khoa học về
tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới, về truyền thống dân tộc và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, về sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng và người công nhân có nhận thức sâu sắc rằng sự nghiệp đổi mới là quá trình phấn đấu
lâu dài, đầy khó khăn nhưng nhất định sẽ thành công, qua đó người công nhân sẽ ý thức được trách nhiệm của
mình đối với sự nghiệp đổi mới, mà trước hết là ý thức đối với những hoạt động đổi mới của đơn vị mình.
Nếu người công nhân không có hiểu biết về sự nghiệp đổi mới, không tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới,
hoặc coi sự nghiệp đổi mới là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước, chứ không phải của chính bản thân mình,
của đơn vị mình thì đó là biểu hiện yếu kém về ý thức chính trị.
Bốn là: Sự nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ chính trị của mình
Người công nhân có ý thức chính trị sẽ nhận thức được và tuân thủ những quyền và nghĩa vụ cơ bản
của mình được ghi trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời
nắm và tuân thủ những quyền lợi về nghĩa vụ cụ thể trong quy chế của ngành, địa phương, đơn vị mình đề ra.
Có ý thức chính trị cao thì người công nhân không những hiểu được những quyền lợi và nghĩa vụ cơ
bản của mình, mà còn đấu tranh để đạt được những lợi ích chính đáng và tự giác trong việc thực hiện những
nghĩa vụ của mình đối với tập thể, đối với nhà nước và đối với xã hội.
Năm là: Thái độ của giai cấp công nhân đối với bạn đồng minh của mình là giai cấp nông dân, đội ngũ
trí thức và người sử dụng lao động trong đó có giới chủ.
Người công nhân có ý thức chính trị sẽ nhận thức được rằng: tất yếu phải liên minh với giai cấp nông
nhân và đội ngũ trí thức để tạo thành một lực lượng cách mạng đông đảo, mới có thể xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Có ý thức chính trị cao thì người công nhân không những hiểu được tính tất yếu của liên minh trong
đấu tranh giành chính quyền cũng như trong xây dựng xã hội mới, mà còn nắm được nội dung của liên
minh trong tất cả các lĩnh vực, đồng thời biết vận dụng những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
về vấn đề này để tham gia xây dựng các hoạt động của đơn vị mình, nhằm xác lập trực tiếp mối quan hệ
giữa công nhân với nông dân và đôi ngũ trí thức từ đó làm cơ sở để xây dựng mối liên minh trong phạm vi
toàn xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay, GCCN không còn ở vào địa vị bị áp bức bóc lột nữa
mà đã trở thành giai cấp làm chủ về chính trị, là giai cấp lãnh đạo toàn xã hội, trong cuộc đấu tranh cải tạo xã
hội cũ và xây dựng xã hội mới. GCCN cùng toàn thể nhân dân lao động trở thành người làm chủ xã hội, làm chủ
những tư liệu sản xuất chủ yếu. Tuy nhiên nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có

quyết định đến việc đạt hay không đạt được lợi ích chính trị, cho nên phải luôn luôn chú ý đến việc nâng cao ý
thức chính trị XHCN cho GCCN nói chung và công nhân trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN nói riêng.
1.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân nước
ta hiện nay
Việc khẳng định sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị XHCN của GCCN nước ta hiện nay được
quy định bởi nhiều lý do:
Một là, xuất phát từ vai trò của ý thức chính trị đối với các hoạt động của GCCN.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: GCCN là “con đẻ” của nền đại công nghiệp;
sự ra đời của GCCN gắn liền với nền sản xuất đại công nghiệp và GCCN chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi
sản xuất đại công nghiệp đã thay thế về cơ bản nền sản xuất thủ công. Trong chế độ TBCN, GCCN hoàn toàn
không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản, họ là giai cấp bị phụ thuộc, bị áp bức bóc lột
và có lợi ích đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản. Vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, GCCN đã đấu tranh chống giai
cấp tư sản.


Những cuộc đấu tranh đầu tiên của GCCN đều mang tính chất tự phát, mặc dù nó đã có sự phát triển
dần từ thấp đến cao và diễn ra khá sâu rộng. Khi phân tích cuộc cách mạng tháng 02 năm 1848 ở Pháp, C. Mác
đã đánh giá: “Ở Pháp cuộc đấu tranh tư bản, dưới hình thức hiện đại phát triển của nó, đã tới điểm bùng nổ của
nó, tức là cuộc đấu tranh giữa công nhân làm thuê trong công nghiệp với nhà tư bản công nghiệp, đang còn là
một hiện tượng cục bộ”[21,Tr30] và theo C. Mác, một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của cuộc cách
mạng này là do “công nhân không có lãnh tụ, không có kế hoạch hành động chung” [21,Tr.45]; hay phong trào
công nhân Mỹ, thời kỳ đầu cũng được Ph. Ăngghen nhận xét rằng: nó mới nhen nhóm lên, mới chỉ bao gồm một
loạt những chấn động vô ý thức và hình như rời rạc của các giai cấp mà do sự tiêu diệt chế độ nô lệ đối với người da
đen và sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp nên đã trở thành tầng lớp thấp kém nhất của xã hội Mỹ.
V.I. Lênin đã chỉ ra: “Nếu công nhân không tự giải phóng mình thì chẳng ai giai phóng cho họ cả. Nhưng
chỉ có bản năng thôi thì chẳng đi được xa”, và Người còn khẳng định: chỉ khi nào giai cấp vô sản và những
người nông dân nghèo tỏ ra có đầy đủ tinh thần tự giác gắn bó với lý tưởng của mình, có tinh thần hy sinh bền
bỉ, thì khi đó thắng lợi của cách mạng XHCN mới được bảo đảm, cho nên “phải nâng bản năng đó lên thành ý
thức” [17, Tr.491]. Do vậy, muốn đưa cuộc đấu tranh của GCCN chuyển từ tự phát lên tự giác thì phải đưa ý
thức giai cấp, ý thức chính trị XHCN vào phong trào công nhân, phải thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức

CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ trên lĩnh vực thông
tin, đồng thời do những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, do công tác giáo dục chính trị tư tưởng có
những biểu hiện buông lỏng…đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng, lối sống của công nhân. Có thể
đánh giá thực trạng ý thức chính trị của GCCN nước ta hiện nay như sau:
Nhìn chung, ý thức chính trị của GCCN nước ta còn thấp so với vị trí và vai trò quan trọng của mình
cũng như đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Phần lớn công nhân nhận thức được rằng mình là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho xã
hội, nhưng cũng có không ít công nhân không thấy được vị trí, vai trò lịch sử của giai cấp mình - đó là giai cấp
lãnh đạo cách mạng, là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến có vai trò quan trọng quyết định sự
nghiệp CNH, HĐH và sự phát triển của xã hội, số này chiếm tới 10%, chủ yếu là công nhân trong các doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Thực trạng này đã được Đảng ta đánh giá: “Một bộ phận công
nhân chưa nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của giai cấp mình, thiếu tính tiền phong gương mẫu. Không ít
cán bộ, đảng viên thoái hóa, quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí, xa rời bản chất GCCN” [5, Tr.68].
Chính vì không nhận thức được vai trò lịch sử của mình, cho nên một bộ phận công nhân hiện nay
không tích cực trong việc học tập nâng cao trình độ chính trị. Theo báo cáo kết quả điều tra xã hội học về thực
trạng GCCN Việt Nam của Viện công nhân và Công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đến năm
1999 số công nhân có trình độ văn hóa cấp I là 3,01%; cấp II là33,67%; cấp III là 58,16%; số công nhân lao
động giản đơn là 3,75%; công nhân từ bậc 2 đến bậc 3 là 71,4%; trung học chuyên nghiệp là10,74%; đại học là
10,16% trên dại học là 0,04%. Đặc biệt trong các doanh nghiệp liên doanh số lao động kỹ thuật chỉ
chiếm12,73% còn lại là lao động phổ thông, họ là những người từ nông thôn tới, hầu như chưa có tay nghề, chỉ
được đào tạo ngắn hạn từ các trung tâm sau khi được chọn vào doanh nghiệp, thời gian đào tạo từ 3 đến 6
tháng chiếm 32,5%.
Với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nước ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường định hướng XHCN đã đặt công nhân trước những khó khăn thử thách lớn về việc làm, đời sống, thu
nhập… vì vậy công nhân chủ yếu quan tâm đến việc làm và thu nhập, ít quan tâm đến hoạt động chính trị xã
hội, nhận thức không đầy đủ về vị trị vai trò của chính trị trong tình hình phức tạp hiện nay, thậm chí có thái độ
thờ ơ với chính trị, không quan tâm đến đời sống chính trị, trách nhiệm chính trị không cao, ngại học tập và xem
thường việc học tập chính trị, không thiết tha với học tập nâng cao trình độ chính trị. Theo báo cáo của Viện
công nhân và Công đoàn số công nhân chưa học lớp chính trị nào chiếm 43,59% ,chính trị sơ cấp là 27,54%,
chính trị trung cấp là 5,94%, cử nhân chính trị là 0,66%. Điều này, một mặt phản ánh sự buông lỏng trong công

1993 đội ngũ đảng viên là công nhân lao động chiếm 8,6%, năm 1995 chiếm 8,6%, năm 1997 chiếm 9,2%, năm
1998 chiếm 9,19%; ở nhiều doanh nghiệp có vốn ĐTNN và công ty tư nhân trong nhiều năm không kết nạp
được đảng viên. Theo điều tra của Viện công nhân và Công đoàn đến năm 1999 thì chỉ có 19,73% công nhân
được hỏi trả lời có nguyện vọng gia nhập Đảng. Trong số 19,73% đó có thể có nhiều người muốn gia nhập
Đảng để có điều kiện rễ ràng hơn trên con đường thăng quan tiến chức, chứ không phải vì mục đích phục vụ
đất nước, phục vụ nhân dân. Điều này phản ánh trình độ nhận thức của công nhân đối với Đảng chưa cao.
Về thái độ giai cấp công nhân đối với Nhà nước, nhìn chung đội ngũ công nhân của chúng ta đã thuộc
lòng bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đã biết đánh giá những cái đã thực hiện
được trong thực tiễn hoạt động của Nhà nước. Tuy nhiên, ý thức của công nhân trong việc góp phần xây dựng


một Nhà nước trong sạch vững mạnh chưa cao, thực trạng này là do bị ảnh hưởng của lối sống thực dụng, của
tư tưởng tiểu nông, công nhân thường nghĩ rằng mình là người làm công ăn lương, cho nên có đấu tranh thì
cũng không giải quyết được gì, mặc dù họ cũng rất bất bình nhưng rất ít giám đấu tranh chống những biểu hiện
tiêu cực ( như tham nhũng, quan liêu, xa hoa…); con số mà do Viện công nhân và Công đoàn đưa ra đã minh
chứng điều này khi được hỏi về vấn đề quan tâm nhất của công nhân hiện nay thì chỉ có 27,66% công nhân
đưa ra vấn đề chống tham nhũng, và 25,10% đưa ra vấn đề công bằng xã hội ( Mặc dù vấn đề tham nhũng và
bất công xã hội đang là vấn đề nổi cộm hiện nay)
Về thái độ giai cấp công nhân đối với tổ chức Công đoàn, hiện nay do tốc độ phát triển đoàn viên và xây
dựng tổ chức Công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn chậm so với quy định của Bộ luật lao
động và yêu cầu của Tổng Liên đoàn lao động( Theo đánh giá của Tổng Liên đoàn lao động thì cho đến cuối
năm 2003 trong khu vực có vốn ĐTNN mới chỉ thành lập được 1145 công đàon cơ sở, chiếm khoảng 60% tổng
số doanh nghiệp có vốn ĐTNN, thu hút được trên 300 ngàn công nhân, lao động vào Công đoàn, trong đó số
đoàn viên mới chiếm khoảng 70% tổng số công nhân, lao động trong các doanh nghiệp đã thành lập Công
đoàn. Và hiện nay còn khoảng 70% doanh nghiệp tư nhân tuy đã đủ điều kiện nhưng chưa thành lập Công
đoàn), do vậy còn nhiều công nhân chưa có ý thức về tổ chức chính trị xã hội này của giai cấp mình.
Ở những nơi có tổ chức Công đoàn, phần lớn công nhân nhận thức được vai trò, chức năng của Công
đoàn, tuy nhiên đó chỉ là sự thừa nhận về mặt lý thuyết. Trên thực tế, công nhân thiếu tin tưởng vào hiệu quả
hoạt động của tổ chức Công đoàn, họ cho rằng Công đoàn còn quá phụ thuộc vào chuyên môn, thậm chí Công
đoàn chỉ có chức năng cơ bản để bảo vệ giám đốc, Công đoàn có thì thừa mà không có thì thiếu. Theo báo cáo

đây: Theo tổng hợp kết quả điều tra tình hình công nhân tại các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội của Viện chủ
nghĩa xã hội khoa học- thuộc Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2001) thì: với Hiến pháp chỉ có 46,7%
tìm đọc; 45,6% có nghe tên, song chưa đọc; 7,7% ít quan tâm; với những luật liên quan trực tiếp đến công nhân
thì tỷ lệ có khá hơn, như Bộ luật lao động: 73,8% công nhân đã tìm đọc; 23,1% có nghe tên song chưa đọc.
Ngay cả những nội quy, quy chế, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của công nhân trong từng doanh nghiệp
công nhân cũng rất ít quan tâm. Theo báo cáo kết quả điều tra xã hội học của Viện công nhân và Công đoàn
năm 1999 cho thấy: về kết quả sản xuất kinh doanh thì chỉ có 50,47% công nhân trả lời là biết; 49,53% trả lời
không biết; về nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước thì chỉ có 46,8% công nhân trả lời biết; 53,2% trả
lời không biết; về đơn giá tiền lương thì chỉ có 63,87% công nhân trả lời biết; 36,13% trả lời không biết… chính
vì thiếu những hiểu biết cần thiết về quyền và nghĩa vụ của mình, cho nên nhiều công nhân bị thiệt thòi mà
không biết để đấu tranh, nhiều công nhân do không hiểu những nghĩa vụ của mình nên đã vi phạm kỷ luật lao
động và bị sa thải, hoặc thiệt mạng do vi phạm về an toàn vệ sinh lao động. Việc công nhân hiểu biết rất ít về
quyền và nghĩa vụ của mình, đặt ra yêu cầu cần phải đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục để công nhân hiểu rõ
hơn, giúp họ có cơ sở thực hiện tốt nghĩa vụ của mình và đấu tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, để
công nhân thực sự trở thành người chủ của doanh nghiệp, người chủ của xã hội.
Về thái độ của giai cấp công nhân đối với người sử dụng lao động, trong đó có giới chủ, hiện nay phần
đông công nhân đều khẳng định phải tuân thủ tuyệt đối lệnh của giám đốc- tức là đã thấy được mối quan hệ chủ
- thợ, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, nhưng có một bộ phận công nhân đã giám đứng lên đấu tranh, kể cả ở
mức đình công để bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị của mình. Cả hai chiều hướng trên đều có mặt trái của nó: Nếu
phục tùng một cách tuyệt đối thì sẽ không thể hiện được quyền làm chủ của mình, hay nói cách khác là chịu nhẫn
nhục trước giới chủ, sống an phận, thấy những việc làm sai trái của giới chủ mà chỉ biết im lặng, không giám phản
ứng. Hoặc các cuộc đình công ở nước ta diễn ra nhìn chung là không đúng luật, theo báo cáo của Tổng Liên đoàn
lao động Việt Nam thì từ năm 1995 đến năm 2000 cả nước có 351 vụ đình công, và cho đến cuối năm 2003 chỉ riêng
trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã xảy ra 295 cuộc đình công, chiếm 55,7% tổng số vụ đình công tập thể của
cả nước; tất cả các cuộc đình công xảy ra đều do công nhân, lao động tự phát, không theo trình tự thủ tục quy định,
không có sự lãnh đạo của Công đoàn - điều đó cho thấy ý thức chính trị của công nhân chưa cao.


Từ sự phân tích trên có thể thấy rằng, nhìn chung ý thức chính trị của GCCN Việt Nam hiện nay chưa
thực sự tương xứng so với vai trò sứ mệnh lịch sử của mình, có biểu hiện chưa đồng bộ và chưa nhất quán.

các tổ chức chính trị- xã hội trong doanh nghiệp đó như tổ chức Đảng, Công đoàn, đoàn thanh niên… thường ở
những doanh nghiệp mà hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng của các tổ chức chính trị xã hội được tiến hành tốt thì
ý thức chính trị của công nhân sẽ được nâng cao, ngược lại những doanh nghiệp mà hoạt động giáo dục chính trị tư
tưởng của các tổ chức chính trị - xã hội không tốt thì ý thức chính trị của công nhân sẽ thấp, công nhân thờ ơ với
những hoạt động chính trị.


Ba là: Xuất phát từ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với giai cấp công nhân nước ta.
Như đã trình bày ở trên, trong thực tiễn cách mạng GCCN Việt Nam thông qua Đảng tiên phong của
mình đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, giành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và đưa cả nước
đi lên xây dựng CNXH. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng đồng thời là thất bại của kẻ thù, do đó đã làm
cho kẻ thù nhục nhã và cay cú, đặc biệt trong khi công cuộc cải tổ, cải cách ở các nước XHCN bị thất bại - điều
đó đúng với âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, thì ở Việt Nam sự nghiệp đổi mới đã giành được thắng lợi, chúng ta
đã giành được nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, xã hội ổn định đời sống nhân dân không
ngừng được cải thiện, thế và lực của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế - điều đó làm cho
kẻ thù đã cay cú lại càng cay cú hơn. Với bản chất hiếu chiến xâm lược, các thế lực thù địch không từ bỏ dã
tâm xâm lược, chống phá cách mạng nước ta, chúng xác định Việt Nam là một trong những trọng điểm chống
phá.
Hiện nay, kẻ thù vẫn đang tiếp tục tấn công chúng ta bằng những phương thức và thủ đoạn mới. Nếu
như trước đây chúng lấy hình thức đấu tranh vũ trang làm chủ yếu thì ngày nay, chúng tập trung vào các hình
thức và thủ đoạn phi vũ trang kết hợp với răn đe bằng quân sự với chiến lược “Diễn biến hòa bình” kết hợp với
bạo loạn lật đổ, chúng tấn công ta một cách tổng lực trên tất cả các lĩnh vực, trong đó mặt trận chính trị - tư
tưởng là nóng bỏng nhất, hòng hạ bệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối đổi mới
của Đảng và mục đích cuối cùng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ CNXH ở nước
ta. Để thực hiện mục đích đó các thế lực thù địch một mặt lớn tiếng rêu rao, tuyên truyền những quan điểm sai
trái của mình để phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN, xuyên tạc và bôi nhọ Đảng và Nhà nước ta, nói
xấu chế độ ta, gây mất lòng tin trong công nhân. Có thể đưa ra một số ví dụ như: Họ cho rằng GCCN mà các
nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nói đến chỉ là những người “vai u thịt bắp”, lao động nặng nhọc, là tầng
lớp xã hội nghèo khổ, dốt nát, tối tăm, chỉ là những “đám dân đen đáng thương hại”, không thể có khả năng giải
phóng xã hội và cải tạo thế giới; họ còn cho GCCN mà C. Mác- Ph. Ăngghen nói tới ở thế kỷ XIX ngày nay đã

nào?
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ. “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội
của GCCN và của người lao động. Cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo bảo vệ
quyền lợi của cán bộ, công nhân viên chức và những người lao động khác, tham gia quản lý nhà nước và xã
hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục công nhân, viên
chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [12, Tr.17].
Như vậy, Công đoàn Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, một bộ phận hợp thành của hệ thống
chính trị XHCN ở Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của GCCN, đội ngũ trí thức và những người lao động khác,
được Hiến pháp thừa nhận.
Những năm đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, GCCN và nhân dân lao động Việt
Nam chịu 2 tầng áp bức bóc lột rất nặng nề và hà khắc, cuộc sống vô cùng cơ cực lầm than. Do đó, mặc dù còn
non trẻ nhưng GCCN Việt Nam đã vùng dậy tiến hành hàng loạt các cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột
đó. Tuy nhiên, những cuộc đấu tranh của công nhân ở các hầm mỏ, đồn điền, xưởng thợ lúc này mới chỉ mang
tính tự phát, diễn ra lẻ tẻ, chưa có sự phối hợp liên kết trong phạm vi lớn, thiếu sự tổ chức tập trung, cho nên
kết quả các cuộc đấu tranh này còn rất hạn chế, mới chỉ dừng lại ở đòi một số quyền lợi kinh tế trước mắt nào
đó, thậm chí còn nhiều cuộc đấu tranh bị đàn áp đẫm máu. Thực tế đó đã làm cho GCCN nhận thức được rằng
nếu không tổ chức, liên kết nhau lại để tạo ra sức mạnh cần thiết thì không thể giành được thắng lợi và do đó
GCCN Việt Nam đã đứng ra thành lập các tổ chức như hội nghề nghiệp, nghiệp đoàn, công hội. Chẳng hạn Hội
ái hữu viên chức ngành lục lộ ở Bắc kỳ, sau đó là hội Trí tri, hội Hợp thiện và tiêu biểu nhất là Công hội đỏ Ba
Son do đồng chí Tôn Đức Thắng đứng đầu. Sự ra đời của tổ chức Công hội đỏ Ba Son chứng tỏ phong trào
công nhân đã bước đầu có tổ chức, chuẩn bị cơ sở để chuyển thành đấu tranh mang tính tự giác. Tuy nhiên,


trên thực tế tổ chức Công hội đỏ Ba Son chỉ hoạt động trong phạm vi hẹp, thời gian tồn tại không lâu, bản thân
tổ chức này chưa có chính cương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích, cho nên tổ chức này chỉ được coi là tổ chức Công
đoàn sơ khai ở Việt Nam.
Người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập Công đoàn Việt Nam là Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Thực tiễn nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Người đã tiếp cận được với chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng
thời thông qua hoạt động thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân Quốc tế, Người đã nhận thức được sự
cần thiết phải thành lập tổ chức Công đoàn. Trong tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người đã


Đối với Công đoàn Việt Nam, GCCN Việt Nam là cơ sở xã hội để hình thành, tồn tại và phát triển tổ
chức Công đoàn. Công đoàn sinh ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của công nhân, đồng thời mọi hoạt động của
Công đoàn đều phải đặt đươi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong, bộ tham mưu chiến
đấu của GCCN Việt Nam. Công đoàn hoạt động theo đường lối, mục tiêu chính trị do Đảng đề ra, bảo đảm sự
thống nhất hành động trong GCCN để GCCN hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình. Công đoàn kết nạp
đông đảo công nhân, viên chức vào tổ chức Công đoàn. Mọi công nhân viên chức đều có quyền tự nguyện gia
nhập và ra khỏi tổ chức Công đoàn theo quy định của điều lệ Công đoàn Việt Nam. Cơ quan lãnh đạo của Công
đoàn Việt Nam bao gồm những người được quần chúng công nhân viên chức tín nhiệm bầu bằng phiếu kín, đại
diện cho tiếng nói của công nhân viên chức và đấu tranh bảo vệ lợi ích của họ. Nội dung hoạt động của Công
đoàn nhằm bảo vệ lợi ích vật chất, tinh thần và đáp ứng yêu cầu nguyện vọng chính đáng của công nhân viên
chức.
Từ vấn đề trên cho thấy tổ chức Công đoàn Việt Nam là một tổ chức mang tính chất giai cấp của GCCN
và tính chất quần chúng rộng rãi. Hai tính chất này có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, do vậy trong hoạt động
thực tiễn xây dựng và phát triển tổ chức Công đoàn cần phải quán triệt sâu sắc hai tính chất này. Nếu chỉ coi
trọng tính chất giai cấp thì về mặt tổ chức sẽ bị bó hẹp, tự thu mình lại, không tập hợp đoàn kết được đông đảo
quần chúng công nhân, viên chức vào tổ chức Công đoàn, và trên thực tế sẽ khó tồn tại đúng với bản chất của
nó; ngược lại nếu quá coi trọng tính chất quần chúng, xem nhẹ tính chất GCCN thì sẽ dẫn tới xa rời mục tiêu
chính trị, biến Công đoàn trở thành tổ chức phường hội mất phương hướng hoạt động và sẽ đánh mất bản chất
cách mạng của tổ chức Công đoàn.
Công đoàn Việt Nam là một tổ chức chính trị- xã hội của GCCN và người lao động Việt Nam nó là một
bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị XHCN. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin Công đoàn là tổ
chức đứng giữa Đảng và chính quyền Nhà nước - đứng giữa có nghĩa là Công đoàn không phải là tổ chức
mang tính chất đảng phái, nhà nước mà Công đoàn là tổ chức chính trị- xã hội độc lập, có tổ chức, có tôn chỉ
mục đích hoạt động riêng. Tuy vậy, Công đoàn không tách biệt, đối lập với các thành viên trong hệ thống chính
trị XHCN, đặc biệt là đối với Đảng và Nhà nước, mà trái lại có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau.
Trong mối quan hệ với Đảng, Công đoàn phải chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng
lãnh đạo tổ chức Công đoàn nhằm phát huy có hiệu quả vai trò của Công đoàn thông qua các nghị quyết đại
hội, nghị quyết của các cấp uỷ Đảng; Đảng tôn trọng tính độc lập tương đối về mặt tổ chức của Công đoàn,
nghĩa là việc xây dựng tổ chức và tiến hành hoạt động của Công đoàn phù hợp với điều lệ của tổ chức Công

Việt Nam còn là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam. Quan hệ giữa Công đoàn với các thành viên khác
trong Mặt trận tổ quốc Việt Nam là quan hệ bình đẳng, hợp tác, phối hợp và thống nhất hành động nhằm thực
hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Công đoàn Việt Nam là một thành viên trong hệ thống chính trị XHCN ở Việt Nam, có mối quan hệ chặt
chẽ, gắn bó hữu cơ với các tổ chức trong hệ thống chính trị. Công đoàn có trách nhiệm vận động, tập hợp, tổ
chức, giáo dục và xây dựng GCCN thành lực lượng cách mạng chủ yếu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Thực tiễn đã chứng minh từ khi ra đời đến nay, hoạt động của Công đoàn Việt Nam đã góp phần không
nhỏ vào tiến trình phát triển của lịch sử cách mạng nước ta.
Khi GCCN chưa giành được chính quyền, với tư cách là trường học đấu tranh giai cấp, Công đoàn đã
tập hợp tổ chức công nhân đấu tranh chống lại bọn thực dân, phong kiến. Nhờ có sự chỉ đạo của tổ chức Công
đoàn cho nên những cuộc đấu tranh của GCCN Việt Nam những năm 20 của thế kỷ XX đã phát triển mạnh mẽ
với quy mô rộng lớn, đã thể hiện được sức mạnh của sự đoàn kết và nòng cốt của khối liên minh công nông
trong đấu tranh giành chính quyền.
Khi GCCN đã giành được chính quyền và trở thành giai cấp lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội thì Công
đoàn là trường học quản lý, trường học kinh tế và trường học giáo dục cộng sản chủ nghĩa của GCCN.
Là trường học quản lý, Công đoàn giúp cho công nhân nâng cao trình độ hiểu biết về kinh tế và tham gia
vào qúa trình quản lý sản xuất, quản lý xí nghiệp và quản lý xã hội.


Là trường học kinh tế, Công đoàn đã vận động công nhân tích cực tham gia vào việc hoàn thiện các
chính sách kinh tế, đẩy mạnh phong trào thi đua XHCN, nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm,
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay Công đoàn vận động công nhân tích cực tham
gia vào việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng
XHCN, nhằm góp phần khắc phục tình trạng nước nghèo và chậm phát triển để đến năm 2020 nước ta trở
thành một nước công nghiệp;
Là trường học giáo dục cộng sản chủ nghĩa, Công đoàn đã giáo dục công nhân và người lao động có
thái độ lao động mới, tích cực tự giác, có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, chân trọng thành quả lao động và sống
bằng kết quả lao động chân chính của mình. Cùng với việc giáo dục thái độ lao động mới, Công đoàn còn tham
gia giáo dục chính trị tư tưởng, pháp luật, văn hóa, lối sống để hình thành thế giới quan khoa học, phương pháp
luận biện chứng và nhân sinh quan cộng sản cho GCCN.

chỉ ra: sự tham gia của Công đoàn vào công tác quản lý kinh tế, và việc Công đoàn lôi cuốn quần chúng rộng
rãi tham gia vào công tác đó, đồng thời cũng là biện pháp chủ yếu để đấu tranh chống sự quan liêu hoá bộ máy
kinh tế của chính quyền Xô Viết và tạo khả năng thực sự kiểm tra thực tế của nhân dân đối với kết quả sản xuất
kinh doanh. Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu khác
nhau, với nhiều loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Vì vậy nội dung tham gia quản lý của Công đoàn rất đa dạng,
phong phú, tuỳ theo tính chất của mỗi đơn vị mà tổ chức Công đoàn có những nội dung tham gia quản lý khác
nhau. Chẳng hạn trong các doanh nghiệp nhà nước, Công đoàn có thể tham gia vào việc xây dựng chiến lược
phát triển sản xuất kinh doanh, tham gia xây dựng và củng cố bộ máy quản lý của doanh nghiệp, hoặc trong các
doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Công đoàn có thể tham gia kiểm tra giám sát việc thực hiện các hợp đồng, thoả
thuận của chủ doanh nghiệp, việc chấp hành pháp luật, chấp hành các luật định của doanh nghiệp, việc thực
hiện chế độ phân phối phúc lợi đối với công nhân…
Ba là, chức năng giáo dục: đây là chức năng cơ bản của Công đoàn. Trước đây, khi GCCN còn bị áp
bức bóc lột thì Công đoàn đã tổ chức giáo dục để công nhân thấy rõ bản chất của giai cấp bóc lột, hình thức
biện pháp để đấu tranh chống giai cấp bóc lột đạt hiệu quả. Trong giai đoạn hiện nay, chức năng giáo dục của
Công đoàn được thể hiện ở việc giúp đỡ công nhân không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị tư tưởng, lý
tưởng niềm tin cách mạng, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác. Nói cách khác, chức năng giáo dục của
Công đoàn hiện nay là Công đoàn phải thực sự là trường học CSCN của GCCN. Nội dung giáo dục của Công
đoàn bao gồm cả giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo
dục truyền thống….Tất cả những nội dung đó đều nhằm xây dựng một đội ngũ công nhân sống có lý tưởng, có
hoài bão, có niềm tin, có văn hóa, có đạo đức, có lỷ luật; qua đó đảm bảo cho GCCN có đủ cơ sở hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình, xứng đáng là giai cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo trong quá trình xây dựng CNXH,
đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Ba chức năng trên của Công đoàn có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó chức năng bảo vệ lợi ích là
trọng tâm, là mục tiêu hoạt động của Công đoàn, chức năng tham gia quản lý là phương tiện để đạt được mục
tiêu, chức năng giáo dục là động lực tinh thần để đạt mục tiêu. Việc xác định đúng chức năng của Công đoàn có
ý nghĩa rất quan trọng, về mặt lý luận nó phản ánh đầy đủ bản chất của tổ chức Công đoàn , về mặt thực tiễn
nó tránh được sự trùng lặp chồng chéo giữa Công đoàn với Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội khác,
đồng thời làm cho công nhân có niềm tin vào tổ chức Công đoàn, thấy được sự cần thiết của việc tồn tại tổ
chức Công đoàn .

“Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” và
đến đại hội Đảng IX, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt
Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”[8, Tr.20].
Công đoàn với tư cách là tổ chức chính trị- xã hội của GCCN, là trường học CSCN của GCCN, do đó
Công đoàn phải có trách nhiệm góp phần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục để công nhân hiểu được bản chất cách
mạng và khoa học, nắm được vị trí, vai trò cũng như những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, có như vậy công nhân mới có cơ sở để đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, những luận
điệu và thủ đoạn xuyên tạc, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù
địch. Đây có thể coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao ý thức chính trị XHCN cho GCCN trong
giai đoạn hiện nay, như nghị quyết 9 của Bộ chính trị đã chỉ rõ: “khi các thế lực thù địch ra sức tấn công nền tảng
tư tưởng của Đảng nhằm đẩy chúng ta đi chệch hướng, thì đấu tranh để bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng là vấn đề quan trọng, trở thành nhiệm vụ hàng đầu trong công
tác chính trị, tư tưởng và lý luận của toàn Đảng, toàn dân ta” [6, Tr.7- 8].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status