Tiểu luân ảnh hưởng của quá trình sản xuất công nghiệp đến vấn đề đình công của công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) - Pdf 26

Tiểu luân: Ảnh hưởng của quá trình sản xuất công nghiệp đến vấn đề
đình công của công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài (FDI)
1. Đặt vấn đề
Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam được hình thành từ Đại hội III
của Đảng, tiếp theo đó là khoảng 25 năm từ 1960 đến 1985 trước đổi mới tiến
hành công nghiệp hóa nhưng mắc phải nhiều hạn chế nghiêm trọng, không đạt
được kết quả rõ rệt. Sau Đại hội VI của Đảng năm 1986 thì mới rút ra được
những bài học kinh nghiệm và tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, trong đó
có việc phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, từng bước hội nhập với
thế giới. Kể từ năm 1986 đến nay, sự phát triển công nghiệp hay sự nghiệp
công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở nước ta đã có những thành tựu nhất định, tuy
chưa có được một nền công nghiệp phát triển nhưng cũng đã góp phần thay
đổi diện mạo đất nước, nâng cao đời sống cho nhân dân, từng bước hoàn
thành mục tiêu.
Qua nhiều lần đánh giá, rút kinh nghiệm, sửa đổi theo tình hình phát triển
của đất nước thì tháng 6 năm 2014, Chính phủ đã ban hành quyết định số
880/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó chính thức mở ra
một giai đoạn phát triển mới với nhiều mục tiêu cụ thể, và tư duy đổi mới.
Tuy nhiên, có thể nói rằng, với xuất phát điểm thấp, trình độ khoa học lạc
hậu, thiếu vốn và công nghệ thì nền sản xuất công nghiệp của Việt Nam rất
khó khăn để có thể phát triển được như ngày nay nếu như không có sự tham
gia của những nguồn lực bên ngoài, chứng minh cho điều này đó là giai đoạn
công nghiệp hóa trước đổi mới khi Việt Nam không có sự tiếp xúc với những
cường quốc về công nghiệp. Nhận biết được điều đó thì những năm sau đổi
mới ở nước ta đã tích cực kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều lĩnh vực
trong nền kinh tế mà trong đó công nghiệp được ưu tiên chú trọng phát triển.
Từ đó hình thành nên thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) liên tục được thành lập
ở Việt Nam và có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế.

Như vậy: phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng. Nói
cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có
thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai.
- Khái niệm công nghiệp
2
Công nghiệp là bao gồm toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác
các tài nguyên, các nguồn năng lượng và chuyển biến các nguyên liệu (gốc
động vật, thực vật hay khoáng vật) thành sản phẩm. Công nghiệp chia thành 2
dạng:
Công nghiệp nặng: ngành công nghiệp chuyên khai thác nguồn năng lượng,
sản xuất các công cụ sản xuất và chuyển biến các nguyên liệu thành vật liệu.
Công nghiệp nhẹ: ngành công nghiệp chuyển biến các vật liệu do công
nghiệp nặng sản xuất thành những sản phẩm và hàng tiêu dùng.
Công nghiệp là hoạt động kinh tế chủ đạo của các xã hội đương đại. Trong
đó, sử dụng máy móc, công nghệ hoặc có một quy trình hoạt động chặt chẽ
trong việc đại trà sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ.
1 Xem: Tìm hiểu các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
(http://vietsciexdir.net/ovsed-blog/blog/2011/06/04/tim-hi%E1%BB%83u-cac-khai-ni%E1%BB
%87m-trong-nghien-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-va-phat-tri%E1%BB%83n-cong-ngh
%E1%BB%87/)
2 Tài liệu giảng dạy môn Xã hội học Công nghiệp của Thầy Trương Ngọc Thắng, Khoa Xã hội học, Trường ĐH
Công Đoàn
2
- Khái niệm sản xuất:
3
Là sự chuyển hóa các nguồn lực, bao gồm cả thời gian và nỗ lực, thành
hàng hóa và dịch vụ. Các nguồn lực luôn được hiểu là khan hiếm và không
thể đáp ứng được cho tất cả những ai có ước muốn và nhu cầu, do đó cần phải
nhấn mạnh đến tình hiệu quả của sản xuất hay năng suất lao động. Tương tự,
chi phí cho việc lựa chọn một hàng hóa hay dịch vụ nào đó không được đo

quản lý tài sản đó. Phương tiện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công
cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà
3 Từ điển Xã hội học Oxford, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,2012
4 Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam (bổ sung, sửa đổi năm 2012), NXB Lao động
5 Tài liệu học tập: Lý luận cơ bản về Công đoàn Việt Nam, khoa Lý luận-Nghiệp vụ Công đoàn, trường ĐH
Công đoàn
3
người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường
hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được
gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”
6
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trong từ điển thuật ngữ
thống kê ban hành năm 2008: FDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước
ngoài sở hữu 10% hoặc nhiều hơn số cổ phần phổ thông hoặc quyền biểu
quyết.
7
Ở Việt Nam, theo khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư (năm 2005): doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài
thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp
Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sát nhập, mua lại. Luật này
cũng đã xác định cách thức ứng xử với nhà đầu tư nước ngoài khi có nhà đầu
tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên thì được áp dụng điều kiện như
nhà đầu từ trong nước, điều này được khẳng định trong nhiều văn bản dưới
luật có liên quan như: Nghị định 69/2007/NĐ-CP, Quyết định 121/2008/QĐ-
BTC, Quyết định 55/2009/QĐ-TTg, Nghị định 102/2010/NĐ-CP.
8
* Thu nhập
Là tổng số tiền mà người lao động nhân được trong một thời gian nhất
định, từ các nguồn khác nhau. Các nguồn thu nhập đó có thể là từ cơ sở sản
xuất (tiền lương, tiền thưởng, các khoản phụ cấp, trợ cấp), từ kinh tế phụ gia

nhau. Cơ sở vật chất của thời đại văn minh, của các xã hội hiện đại là sự bóc
lột của giai cấp này đối với giai cấp khác. Toàn bộ sự phát triển của xã hội từ
ngày đầu của thời đại văn minh cho đến tận ngày nay diễn ra trong một mối
mẫu thuẫn thường xuyên giữa giai cấp bóc lột , áp bức với giai cấp bị bóc lột,
bị áp bức. Mỗi bước tiến của nền sản xuất hiện đại đồng thời cũng đánh dấu
một bước lùi trong tình cảnh của giai cấp bị áp bức, nghĩa là của đại đa số
nhân dân. Chính sự mâu thuẫn, sự đấu tranh giai cấp là nguồn gốc và động
lực của sự biến đổi xã hội và sự phát triển lịch sử xã hội loài người.
13
Theo quan niệm của Robert Park (Trường phái Chicago): sự mâu thuẫn và
cạnh tranh là một hiện tượng của lối sống xã hội, là đặc trưng của mối quan
hệ giữa các cá nhân và các nhóm xã hội. Khác với Marx, R.Park cho rằng
mâu thuẫn chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực vị thế và quyền lực giữa các nhóm xã
hội khác nhau về chủng tộc, văn hóa và lối sống. Park quan niệm rằng, mâu
thuẫn không chỉ xảy ra giữa các nhóm mà còn diễn ra giữa các cá nhân trên
cùng một thang bậc, cùng một tầng lớp của cấu trúc phân tầng xã hội. Từ đó,
ông cho rằng mâu thuẫn tác động tới mọi khía cạnh của đời sống xã hội của
con người.
14
* Công đoàn
Điều 10, Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam: Công đoàn Việt Nam là tổ
chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được
thành lập trên cơ sở tự nguyện, địa diện cho người lao động, chăm lo và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý
nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt
động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề
liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động
người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành
pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
15

Công nghiệp và xây
dựng
38,13 38,51 38,23 38,31
Dịch vụ 42,57 42,83 42,88 43,31
Tổng 100 100 100 100
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Từ bảng trên, ta có thể thấy cơ cấu của ngành công nghiệp trong nền kinh
tế, nhìn chung, cả 3 khu vực kinh tế đều có sự chuyển dịch chậm, không rõ
nét và không có sự đột phá. Công nghiệp ở nước ta năm 2005 chiếm 38,13%
trên tổng GDP, tăng lên không đáng kể trong năm 2007 là 38,51%, tuy nhiên
đến năm 2010 và năm 2013 lại có sự giảm nhẹ so với năm 2007 lần lượt là
38,23% và 38,31%. Điều đó cho thấy rằng, công nghiệp ở nước ta vẫn còn
đang phát triển ở mức thấp, đóng góp vào GDP tuy có nhiều hơn so với nông
nghiệp do giá thành sản phẩm chênh lệch nhau, nhưng vẫn không thể trở
thành lĩnh vực dẫn đầu đóng góp vào GDP nước ta, từ bảng số liệu trên cũng
thấy rằng, trung bình hàng năm công nghiệp đóng góp ít hơn dịch vụ khoảng
10% GDP. Đây là một thực tế đáng buồn của nước ta, khi mà đất nước đang
tập trung mọi nguồn lực, ưu đãi để phát triển công nghiệp. Bên cạnh đó, trong
16 Lê Thị Mai-Vũ Đạt, Xã hội học Lao động, NXB.Khoa học xã hội, 2009, trang 68
17 Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2012), NXB.Lao động
6
thời gian qua cũng nổi lên nhiều bất cập trong quản lý, trong những chính
sách ban hành (như nhận thức về công nghiệp hỗ trợ, khó khăn trong công
nghiệp sản xuất ô tô ) cũng đang làm chậm lại tốc độ và quy mô phát triển
công nghiệp ở nước ta.
Bảng 2: Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế năm 2013
Thành phần kinh tế Giá trị (tỷ đồng) Tỷ lệ %
Kinh tế nhà nước 891.668,4 16,3
Kinh tế ngoài nhà nước 1.834.887,8 33,6
Khu vực có vốn đầu tư nước

uống; ngành sản xuất vật liệu xây dựng; ngành khai thác và chế biến khoáng
sản; ngành điện; ngành than; ngành dầu khí. Điểm mới của Quy hoạch giai
đoạn này định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ tập trung vào 3 ngành gồm
cơ khí - luyện kim; điện tử - tin học, dệt may - da giày. Trong đó xác định xây
dựng các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,
Hưng Yên, Hải Phòng, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh
và Đà Nẵng.
18
2.2.2 Tình hình các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở
nước ta
Biểu đồ 1: Tổng quan FDI tại Việt Nam giai đoạn 2000-2013
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
19
Từ biểu đồ trên, ta nhận thấy nguồn vốn đăng ký đầu tư của các doanh
nghiệp nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu tăng mạnh từ năm 2005 đến nay,
đỉnh điểm đó là năm 2008 với số vốn lên tới gần 75 tỷ USD. Nhìn chung, số
vốn đầu tư FDI qua các năm khá ổn định, tuy nhiên số vốn thực hiện trong
thực tế lại luôn thấp hơn nhiều so với số vốn đã đăng ký ở tất cả các năm.
Điều này có thể gây ra một nhận định không đúng về tình hình vốn đầu tư
FDI ở Việt Nam và gây ra nhiều sự hụt hẫng cho nền kinh tế khi những dự
18 Xem: Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và Quy hoạch
tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 (http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/soct/Pages/Chien-luoc-phat-trien-cong-nghiep-Viet-Nam-den-
nam-2025,-tam-nhin-den-nam-2035-va-Quy-hoach-tong-the-phat-trien-cac-nganh-c.aspx)
19 Xem: Nhìn lại kinh tế Việt Nam qua các con số thống kê (http://bizlive.vn/kinh-te-dau-tu/nhin-
lai-kinh-te-viet-nam-nam-2013-qua-cac-con-so-thong-ke-50393.html)
8
báo không thành. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này ở Việt Nam có thể cả từ
phía doanh nghiệp nước ngoài khi đăng ký dự án xong lại rút vốn về hoặc
chậm đầu tư do tài chính khó khăn, có thể là do thủ tục hành chính, những

khu vực dịch vụ 44,5% và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 0,3%. Đóng
góp vào ngân sách nhà nước của khu vực này năm 2013 là 214,3 nghìn tỷ
đồng, gấp 9 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 tăng 18,1%/năm.
Công nghiệp và xây dựng là khu vực các doanh nghiệp FDI đầu tư nhiều nhất.
Khu vực này năm 2013 chiếm tới 73% tổng số doanh nghiệp FDI; 91% số lao
động; 80% thu nhập của người lao động; 55,2% nguồn vốn; 81,5% doanh thu;
47,9% lợi nhuận và 81,3% nộp ngân sách nhà nước.
20 Xem: FDI giai đoạn 2000-2013: đóng góp tích cực cho nền kinh tế
(http://www.khucongnghiep.com.vn/tabid/69/articletype/ArticleView/articleId/1116/default.aspx)
9
Như vậy, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã và đang có
những đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế vủa Việt Nam, tạo việc làm
cho nhiều lao động , qua đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy
nhiên, loại hình doanh nghiệp này cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất định như là
tỷ lệ nội địa hóa thấp, mới chỉ là gia công lắp ráp, có sự chuyển giao những
công nghệ lạc hâu vào Việt Nam, không thực hiện đầy đủ các quy định về môi
trường, chất thải những hạn chế này cần được khắc phục nếu không sẽ có
những hậu quả rất lớn về sau này.
2.2.3 Thực trạng đình công trong các doanh nghiệp có vốn đầu từ
nước ngoài (FDI) hiện nay
Bảng 3: Số vụ đình công theo loại hình doanh nghiệp (giai đoạn 1995-2011)
Loại hình doanh nghiệp Số vụ Tỷ lệ %
Doanh nghiệp nhà nước 98 2,35
Doanh nghiệp tư nhân 946 22,85
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI)
3098 74,8
Tổng 4142 100
(Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Lao động-Thương binh và xã hội)
21

doanh nghiệp tư nhân thì những vụ đình công cũng chỉ dưới 100 vụ một năm,
đỉnh điểm là năm 2008 cũng chỉ có khoảng gần 200 vụ đình công xảy ra. Như
vậy có thể thấy rõ rằng, số vụ đình công trong doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài không ngừng tăng lên là một tín hiệu đáng báo động, cần có sự
can thiệp của các cơ quan chức năng để giải quyết tình trạng này. Cũng có thể
lý giải hiện tượng này, đó là do hoạt động sản xuất công nghiệp ngày càng
phát triển, đòi hỏi cần có nhiều sự đầu tư về vốn và công nghệ từ nước ngoài
nên theo số liệu doanh nghiệp trong giai đoạn 2000-2008 thì số doanh nghiệp
FDI năm 2008 đã tăng đến 369% so với năm 2000, trong khi đó số doanh
nghiệp nhà nước lại giảm 43% so với năm 2008, bên cạnh đó, số doanh
nghiệp tư nhân thì không ổn định, chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
22 Xem: Thực trạng và đặc điểm vấn đề đình công trong khu vực FDI ở Việt Nam
(http://www.tcldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/12/id/9559/language/vi-VN/Default.aspx)
11
nên nhu cầu sử dụng lao động không cao, điều đó có thể là nguyên nhân dẫn
đến số vụ đình công trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lại
có xu hướng tăng cao như vậy.
Biểu đồ 3: Số vụ đình công theo đối tác FDI giai đoạn 1995-2010
( Nguồn: Số liệu Ban Pháp luật Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam)
23
Theo biểu đồ trên, ta thấy số vụ đình công tập trung chủ yếu trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ các nước Hàn Quốc, Đài Loan,
Nhật Bản. Cũng theo báo cáo “Tổng kết tình hình năm 2011 và triển khai
nhiệm vụ năm 2012” của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thì trong tổng
số 4142 vụ đình công xảy ra trong giai đoạn 1995-2011, các doanh nghiệp
FDI của hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản chiếm tới 75,4% (3122 cuộc). Điều
này cho thấy, những năm gần đây, các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may,
điện tử của các nước Đông Á đang chuyển hướng đầu tư từ Trung Quốc sang
Việt Nam và những nước Đông Nam Á khác. Bên cạnh đó, các nước Đông Á
này cũng là những nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực Châu Á, và là

ở những địa phương này. Tuy nhiên, hiện nay công tác này còn bộc lộ nhiều
yếu kém và những bất công trong việc đảm bảo quyền lợi của giới chủ nước
ngoài, bên cạnh đó là nhận thức còn hạn chế, dễ nghe theo những sự kích
24 Xem: Thực trạng và đặc điểm vấn đề đình công trong khu vực FDI ở Việt Nam
(http://www.tcldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/12/id/9559/language/vi-VN/Default.aspx)
13
động của công nhân thì tình trạng xảy ra nhiều vụ đình công để phản đối là
điều dễ hiểu.
• Tính chất của các cuộc đình công
Xét về tính chất của những cuộc đình công này thì hầu hết là bất hợp pháp,
tuy chưa có số liệu thống kê riêng cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài nhưng theo như Báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
năm 2013
25
thì: “Hầu hết các cuộc đình công đều tự phát, không do công
đoàn cơ sở tổ chức, lãnh đạo, không theo đúng trình tự pháp luật quy định,
có xu hướng lây lan từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác Hầu hết
các cuộc tranh chấp lao động tập thể, đình công đều được hòa giải ở cơ sở,
tại khu chế xuất, khu công nghiệp. Hội đồng trọng tài lao động ở các tỉnh,
thành phố kể từ khi thành lập từ năm 1999 đến nay chỉ thụ lý giải quyết được
một số ít vụ tranh chấp lao động tập thể và lợi ích Trên thực tế chưa có vụ
khởi kiện nào yêu cầu xét tính hợp pháp của đình công tới tòa án lao động
của các cấp công đoàn, vì 100% các vụ đình công đều không do công đoàn
khởi xướng và lãnh đạo đình công.”
Đây là một thực tế đang buồn và thể hiện năng lực yếu kém của các cấp
công đoàn cơ sở. Nhất là trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, hầu hết đều là những doanh nghiệp lớn, có nhiều kinh nghiệm và hiểu
biết về pháp luật thì nguy cơ cho người lao động lại lớn hơn rất nhiều, họ phải
chịu rủi ro khi bị doanh nghiệp sa thải, và nếu như có được sự nhượng bộ, hòa
giải của giới chủ thì cũng chỉ là những lợi ích rất nhỏ, không tạo được sự thay

hàng và cuối cùng khách hàng đã hủy hợp đồng.”
26
. Rõ ràng trong trường hợp
này, doanh nghiệp vẫn phải nhượng bộ theo những yêu cầu của công nhân để
có thể tiếp tục duy trì sản xuất, nhưng những thiệt hại về kinh tế mà doanh
nghiệp phải chịu cũng khiến họ không hài lòng về ý thức của một bộ phận
công nhân Việt Nam. Một hậu quả nữa đó là nguy cơ công nhân bị khích động
dẫn đến đập phá máy móc trong nhà máy, gây thiệt hại về tài sản cho doanh
nghiệp.
Về phía công nhân: họ có nguy cơ mất việc làm từ chính những cuộc đình
công này, trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì phần lớn
người lao động là lao động phổ thông, vì vậy, những doanh nghiệp này sẵn
sàng sa thải công nhân tham gia vào những cuộc đình công gây thiệt hại cho
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, là những thiệt hại về sức khỏe, kinh tế khi phải
biểu tình ở trụ sở doanh nghiệp nhiều giờ liền với điều kiện khắc nghiệt, nhất
là đối với những công nhân nữ và việc bỏ nhiều ngày lương, bị cắt phụ cấp,
hỗ trợ, lương thưởng
Về phía cơ quan quản lý Nhà nước: đình công xảy ra thường xuyên dẫn đến
giảm sự tin tưởng vào sự quản lý của những cơ quan này. Bên cạnh đó, là
những thiệt hại về quản lý kinh tế vĩ mô khi những nhà đầu tư nước ngoài lo
ngại về những hiện tượng đình công xảy ra nhiều từ phía công nhân và cơ
quan quản lý thì chưa có một biện pháp nào để hạn chế, điều này có thể làm
giảm sự hấp dẫn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất.
2.2.4 Nguyên nhân của các vụ đình công trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
• Nguyên nhân do tiền lương
Tiền lương mà mỗi công nhân được trả cho sức lao động của mình là số
tiền mà hàng tháng họ phải chi tiêu soa cho hợp lý để có thể đáp ứng được
26Xem: Thiệt hại do đình công bất hợp pháp: Ai chịu trách nhiệm?
(http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/tranh-chap/6481/thiet-hai-do-dinh-cong-

phán tiền lương với chủ hoặc do tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp khiến
cho họ phải chấp nhận mức lương không tương xứng với sức lao động đã bỏ
ra, mặt khác, là sự yếu kém của công đoàn cấp cơ sở, khi người công nhân đã
vào làm trong nhà máy, doanh nghiệp thì công đoàn cần tiến hành vận động
họ tham gia vào thỏa ước lao động tập thể để có thể hưởng những quyền lợi
tốt hơn và tạo ra sự cân bằng về mức lương giữa những người lao động.
Tóm lại, những vụ đình công xuất phát từ nguyên nhân tiền lương là hết
sức nhạy cảm và cần có biện pháp cải thiện vấn đề này, nếu không tình trạng
đình công sẽ vẫn còn tiếp diễn vì kinh tế là nhu cầu quan trọng nhất để duy trì
cuộc sống của công nhân và họ đặc biệt quan tâm đến vấn đề này.
• Nguyên nhân về khác biệt văn hóa trong lao động, sản xuất
27Xem: Gần 5.000 cuộc đình công từ khi Luật Lao động ra đời
(http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/thoi-su/4450/gan-5.000-cuoc-dinh-cong-
tu-khi-luat-lao-dong-ra-doi)
28 Xem: Vướng mắc và lúng túng trong giải quyết quan hệ lao động
(http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=217413)
16
Hiện nay, hầu hết những vụ đình công đều được cho rằng có nguyên nhân
từ tiền lương hay vì quyền lợi, nhưng thực tế đã cho thấy những doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài có mức lương và đĩa ngộ giống nhau nhưng có
doanh nghiệp lại không xảy ra đình công bao giờ, vì vậy ẩn sau những nguyên
nhân về kinh tế và lợi ích thì sự khác biệt về văn hóa cũng là nguyên nhân gây
nên những vụ đình công.
Theo nghiên cứu “Ảnh hưởng của văn hóa đến đình công trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ( trường hợp các doanh nghiệp
Hàn Quốc)” của Nguyễn Hoàng Ánh đã tiến hành khảo sát 133 công ty có
vốn đầu tư của Hàn Quốc trong hai năm 2010-2011
29
đã làm rõ được ảnh
hưởng của sự khác biệt về văn hóa đến tình trạng đình công. Theo đó, nghiên

17
nhưng cũng có thể là kết luận cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ các nước
khác. Có thể nói, các quốc gia khác nhau lại có những cung cách, thói quen
làm việc khác nhau, nhiều khi xảy ra mâu thuẫn, hiểu lầm dẫn đến biện pháp
đình công của công nhân. Tuy nhiên, nếu như nước ta đã trong quá trình phát
triển sản xuất công nghiệp, thì rất cần có những sự hòa nhập, có những kỷ luật
trong công việc một cách nghiêm khắc, bởi lẽ những chủ đầu tư đều đến từ
những nước có nền công nghiệp phát triển trên thế giới, họ đã quen với phong
cách làm việc công nghiệp và nguyên tắc, vì vậy họ rất khó chịu với phong
cách vô kỷ luật và mang tính tiểu nông của một bộ phận công nhân Việt Nam.
Điều đó không có nghĩa nước ta phải bỏ đi những gì là truyền thống, tốt đẹp
nhưng cũng cần có biện pháp để xây dựng một giai cấp công nhân Việt Nam
có thể làm việc trong những môi trường công nghiệp chuyên nghiệp và từng
bước tháo dỡ những vướng mắc, hiểu lầm với chủ doanh nghiệp người nước
ngoài.
• Nguyên nhân do chủ sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao động
Vấn đề chủ sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao động là vấn đề quá
quen thuộc ở nước ta, nhất là đối với các doanh nghiệp nước ngoài vì họ có hệ
thống tư vấn pháp luật chuyên nghiệp và rất chú trọng đến vấn đề luật lệ khi
quyết định đầu tư ở một quốc gia nào đó, bên cạnh đó, chính sự lỏng lẻo và
còn nhiều sự bất hợp lí trong luật pháp về lao động của Việt Nam đã tạo điều
kiện cho chủ doanh nghiệp nước ngoài lách luật, gây thiệt hại cho người lao
động Việt Nam. Qua khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn Việt Nam,
thì khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực vi phạm luật
pháp lao động nhiều nhất, điển hình là làm thêm giờ quá nhiều. Nếu theo quy
định của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thì người lao động làm không
quá 200 giờ/năm, nhưng phần lớn người lao động làm việc từ 400-500
giờ/năm. Bên cạnh đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng
không xây dựng thang bảng lương cho công nhân và lợi dụng tiền lương tối
thiểu để trả công cho người lao động ở mức thấp.

khẳng định là “có”, 5,9% nói “không” và 53% không trả lời
32
. Thực tế đó đã
cho thấy hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài rất hạn chế, chứ chưa nói đến chất lượng hoạt động.
Theo số liệu thống kê ở phần trên đã chỉ rõ 74,8% các vụ đình công trong
giai đoạn 1995-2011 xảy ra ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thống kê cũng nêu ra rằng hầu hết các cuộc đình công đều là bất hợp pháp,
không do Công đoàn tổ chức, lãnh đạo, vì vậy, ta có thể đặt ra câu hỏi về chức
năng của Công đoàn trong các doanh nghiệp này.
Như ta đã biết, một trong ba chức năng của Công đoàn Việt Nam là chăm
lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Nhưng
dường như trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chức năng này
lại đang trở nên mờ nhạt và không phát huy tác dụng khi những chủ doanh
nghiệp nước ngoài cũng không mặn mà lắm với vấn đề này. Thậm chí cả
người lao động trong các doanh nghiệp này cũng không cảm thấy cần thiết
khi gia nhập vào tổ chức Công đoàn, họ chỉ quan tâm rằng họ sẽ bị mất phí
khi tham gia vào công đoàn mà không hiểu hết được những lợi ích sẽ nhận
được khi mình là một đoàn viên. Điều này cũng là do công tác tuyên truyền
của công đoàn cấp cơ sở còn yếu kém, chưa làm cho người lao động tự
nguyện tham gia vào tổ chức và những hoạt động cũng chưa đủ sức thuyết
phục người lao động tham gia vào tổ chức công đoàn cấp cơ sở. Theo
“Nghiên cứu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về xây dựng tổ chức
công đoàn, phát triển đoàn viên tại cơ sở và thương lượng tập thể” đã cho kết
quả tỉ lệ ký kết thỏa ước lao động tập thể ở các doanh nghiệp đã thành lập
công đoàn cơ sở của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) khoảng
31 Xem: Doanh nghiệp FDI với những lỗ hổng (http://www.vinacorp.vn/news/doanh-nghiep-fdi-
voi-nhung-lo-hong/ct-448681)
32 Xem: Bức xúc của lao động trong các doanh nghiệp FDI
(http://www.ncseif.gov.vn/sites/en/Pages/bucxuccualaodongtrong-nd-8708.html)

giải quyết đình công như sau:
Thứ nhất, tiến hành đào tạo nguồn lao động ngay từ khâu đầu vào. Như
thực tế hiện nay, công nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hầu hết là những lao động phổ thông, chưa qua trường lớp đào
tào, thậm chí có trình độ học vấn thấp, vì vậy, họ khó có thể làm việc theo kỷ
luật công nghiệp và không nắm bắt được tiến trình đình công hợp pháp. Theo
tôi, ở mỗi địa phương nên kết hợp với những doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài có nhu cầu tuyển lao động có chất lượng, tay nghề để mở các lớp
dạy nghề trên cơ sở của các trường dạy nghề địa phương nhưng những
chương trình đều được quy chuẩn cho doanh nghiệp hoặc do chính doanh
33 Xem: Tăng cường vai trò đại diện của Công đoàn và thương lượng tập thể: Nòng cốt xây dựng quan hệ
lao động hài hòa (http://congdoan.most.gov.vn/trao-doi/bai-viet/2661-tang-cuong-vai-tro-dai-dien-cua-
cong-doan-va-thuong-luong-tap-the-nong-cot-xay-dung-quan-he-lao-dong-hai-hoa.html)
20
nghiệp đó xây dựng theo các hoạt động sản xuất của mình. Như vậy, doanh
nghiệp vừa có nguồn lao động có tay nghề, phù hợp với công việc, địa
phương cũng giải quyết được vấn đề việc làm, bên cạnh đó, cũng có thể cho
học viên đến thực hành trong các doanh nghiệp để họ nắm chắc tay nghề,
song song với chương trình đào tạo nghề đó là tuyên truyền về pháp luật lao
động và rèn luyện tính kỷ luật trong công việc cho học viên.
Thứ hai, giảm sự phụ thuộc của tổ chức công đoàn vào các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, việc những doanh nghiệp nay chỉ có cán
bộ công đoàn kiêm nghiệm hoặc có cán bộ chuyên trách nhưng lại nhận lương
của doanh nghiệp đang làm giảm đi tính đấu tranh của công đoàn vì quyền lợi
của công nhân. Đây là một việc hết sức khó khăn vì nguồn kinh phí hạn chế
và do những cơ chế, chính sách khác ảnh hưởng, nhưng là một việc nên làm
để nâng cao vai trò của cán bộ công đoàn trong những doanh nghiệp này. Bên
cạnh đó, là nâng cao năng lực đàm phán của cán bộ công đoàn và tinh thần đi
sâu, đi sát vào đời sống công nhân để có thể nắm được những tâm tư nguyện
vọng của họ, góp phần chăm lo một cách tốt hơn.

người lao động phản ứng, gây hiệu quả xấu cho chính doanh nghiệp.
Thứ hai, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp
FDI. Các tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp FDI cần có vị trí độc lập
tương đối với người sử dụng lao động, thực sự đấu tranh vì quyền lợi của
người lao động. Đồng thời, năng lực đại diện của tổ chức công đoàn trong
doanh nghiệp, trước tiên là sự hiểu biết về luật pháp và tiếp đó là năng lực
đàm phán, thương lượng và thoả thuận để ký kết thoả ước lao động tập thể,
năng lực tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công, năng lực tổ
chức chăm lo đời sống người lao động, vận động người lao động chấp hành
pháp luật lao động, an toàn - vệ sinh lao động trong doanh nghiệp cần được
nâng cao.
Thứ ba, hoàn thiện Luật Lao động theo hướng đảm bảo bình đẳng thực sự
trong qua hệ lao động (về quyền, trách nhiệm và lợi ích) giữa người sử dụng
lao động và người lao động. Cần thể chế hoá quan hệ thoả thuận hai bên ở
doanh nghiệp; thiết lập cơ chế tương tác giữa người lao động và người sử
dụng lao động trong quan hệ lao động (cơ chế đối thoại, thương lượng và thoả
thuận…). Cần tập trung hoàn thiện một số quy định của pháp luật như: hợp
đồng lao động; tiền lương và tiền lương tối thiểu; an toàn lao động và vệ sinh
lao động; người lao động nước ngoài; chính sách lao động nữ; thương lượng
tập thể; trách nhiệm công đoàn cấp trên và bảo vệ cán bộ công đoàn.
Thứ tư, nâng cao vai trò quản lý Nhà nước về quan hệ lao động trong
doanh nghiệp FDI ở các khu công nghiệp, khu chế xuất; tăng cường kiểm tra,
giám sát việc thực hiện pháp luật lao động và các chính sách khác của Nhà
nước trong doanh nghiệp; xây dựng kế hoạch phát triển quan hệ lao động hài
hòa, ổn định và tiến bộ trong các doanh nghiệp; đổi mới mô hình Ủy ban quan
hệ lao động cấp địa phương; phát huy vai trò tư vấn và là một bên trong quan
hệ lao động ở doanh nghiệp; cung cấp dịch vụ công không vì mục đích lợi
nhuận; xây dựng và thực hiện chương trình quốc gia giám sát, phân tích, đánh
giá và dự báo về xu hướng phát triển quan hệ lao động và có những đề xuất
chính sách với nhà nước một cách khoa học, kịp thời.

động, chủ đầu tư nước ngoài, các cơ quan quản lý nhà nước phải thực sự
vào cuộc để hạn chế tình trạng này.
3. Kết luận
Qua những số liệu mà tiểu luận đã thu thập được và tiến hành phân tích thì
đã có một số kết luận sau đây:
Quá trình sản xuất công nghiệp của Việt Nam trong những năm qua đã hình
thành nên một thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà điển hình là
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hình thức liên doanh hay
100% vốn trong sản xuất công nghiệp. Quá trình sản xuất công nghiệp này đã
kéo theo sự xuất hiện của hàng loạt những khu công nghiệp, khu chế xuất thu
hút nguồn lao động lớn vào làm việc ở những nhà máy. Cũng từ đây, hình
thành mối quan hệ lao động giữa những người chủ đầu tư nước ngoài với
những công nhân lao động người Việt Nam, mối quan hệ đó đã dẫn tới sự
mâu thuẫn về quyền và lợi ích, từ đó phát sinh hàng loạt những cuộc đình
công của công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này.
Qua các số liệu, ta có thể kết luận, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có số vụ đình công cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam và
đang có xu hướng ngày càng tăng. Những cuộc đình công này tập trung chủ
yếu ở những địa bàn có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất như ở TP.HCM,
Bình Dương, Đồng Nai, nơi tập trung nhiều lao động đến làm việc và có tình
hình xã hội không ổn định, bên cạnh đó những vụ đình công này còn chủ yếu
23
diễn ra trong các doanh nghiệp có chủ đầu tư đến từ những nước Đông Á.
Hầu hết những cuộc đình công đều là bất hợp pháp, không do công đoàn tổ
chức và lãnh đạo, chỉ tiến hành hòa giải ở cơ sở mà không thông qua tòa án
lao động.
Những nguyên nhân chính của hiện tượng đình công trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm có: nguyên nhân về tiền lương, nguyên
nhân về khác biệt văn hóa, nguyên nhân do chủ đầu tư vi phạm pháp luật lao
động. Trong mỗi thời kỳ, giai đoạn thì lại có những nguyên nhân nổi bật khác

24
6. Bài giảng môn Xã hội học Công nghiệp của Thầy Trương Ngọc Thắng,
Khoa Xã hội học, Trường ĐH Công đoàn.
7. Hiến Pháp Nước CHXHCN Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, 2014.
8. Bộ Luật Lao động Nước CHXHCN Việt Nam (đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2012), NXB. Lao động.
9. Từ điển Xã hội học Oxford, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.
10. Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB.
Chính trị Quốc gia, 2010.
Các website
http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/soct/Pages/Chien-luoc-phat-trien-cong-nghiep-Viet-Nam-
den-nam-2025,-tam-nhin-den-nam-2035-va-Quy-hoach-tong-the-phat-trien-cac-nganh-c.aspx
http://www.tcldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/12/id/9559/language/vi-VN/Default.aspx
http://www.dankinhte.vn/khai-niem-ve-doanh-nghiep-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai/
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/doanh-nghiep-co-von-nuoc-ngoai-nen-theo-ty-
le-so-huu-nao-2731301.html
http://sokhdt.baria-vungtau.gov.vn/News/582/the-nao-la-doanh-nghiep-co-von-dau-tu-nuoc-
ngoai html
http://baodautu.vn/khai-niem-nha-dau-tu-nuoc-ngoai-chuyen-khong-nho.html
http://vietsciexdir.net/ovsed-blog/blog/2011/06/04/tim-hi%E1%BB%83u-cac-khai-ni%E1%BB%87m-
trong-nghien-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-va-phat-tri%E1%BB%83n-cong-ngh%E1%BB%87/
http://bizlive.vn/kinh-te-dau-tu/nhin-lai-kinh-te-viet-nam-nam-2013-qua-cac-con-so-thong-ke-
50393.html
http://gso.gov.vn/default.aspx?tabid=715
http://www.khucongnghiep.com.vn/tabid/69/articletype/ArticleView/articleId/1116/default.aspx
http://www.ncseif.gov.vn/sites/en/Pages/bucxuccualaodongtrong-nd-8708.html
http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/thoi-su/4450/gan-5.000-cuoc-dinh-cong-tu-
khi-luat-lao-dong-ra-doi
http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=217413
http://www.vjol.info/index.php/ssir/article/view/11425/10397


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status