BỘ CÔNG THƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 THÔNG QUA CÁC THÔNG
SỐ KINH TẾ CƠ BẢN Mã số: 05.10.RD/HĐ-NCKH
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Chủ nhiệm đề tài: CN. Hoàng Ngọc Oanh 8398 Hà Nội, tháng 12/2010 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu
Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được
những thành tựu khá thuyết phục về kinh tế và xã hội. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế đạt trung bình 7,3% (trong đó giai đoạn 2005-2010 đạt 7%), GDP thực
bình quân đầu người tăng trung bình 5,7% hàng năm và tỷ lệ nghèo giảm từ
gần 80% năm 1986 xuống còn 24% vào năm 2004, xuống 13% năm 2008 và
d
ưới 10% trong năm 2010. Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam luôn được
xếp vào nhóm nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời có thành tích
giảm nghèo nhanh trên thế giới.
Thành tựu trên đây là tín hiệu tốt của quá trình chuyển đổi kinh tế và là
kết quả của các chính sách mà Việt Nam đã và đang thực hiện trước những
thay đổi nhanh chóng của kinh tế thế giới, đặc biệt là xu thế toàn cấu hóa. Từ
cuố
i thập kỷ 80, Việt Nam đã thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế, bắt đầu
bằng việc thông qua Luật Đầu tư Nước ngoài vào năm 1987, tiến hành ký kết
các hiệp định thương mại song phương và đa phương, gần đây nhất là Hiệp
định thương mại Việt-Mỹ. Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN từ
năm 1995, của APEC từ năm 1998, tham gia Diễn đ
àn kinh tế Á – Âu
(ASEM) vào năm 2001; gia nhập WTO vào năm 2007; ký kết 5 hiệp định
Thương mại tự do song phương FTA…
Bên cạnh mở cửa cho thương mại, cũng như nhiều quốc gia đang phát
triển khác, Việt Nam đã và đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư, trước
hết là khung khổ pháp luật nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Việt Nam đã ký hiệp định song ph
hiện trong tư tưở
ng của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách với
ba lý do chính: Một là
, FDI góp phần vào tăng thặng dư của tài khoản vốn,
góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung và ổn định kinh tế vĩ mô. Hai
là, các nước đang phát triển thường có tỷ lệ tích lũy vốn thấp và vì vậy, FDI
được coi là một nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn đầu tư trong nước
nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ba là
, FDI tạo cơ hội cho các nước nghèo
tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn, dễ dàng chuyển giao công nghệ hơn, thúc
đẩy quá trình phổ biến kiến thức, nâng cao kỹ năng quản lý và trình độ lao
động v.v. Những nhân tố này có tác động tích cực đến năng suất của FDI, góp
phần làm tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước, cũng như đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế nói chung.
Việc nhận định được xu h
ướng vận động, kim ngạch xuất khẩu của các
doanh nghiệp FDI để “định lượng” được mức độ đóng góp vào nền kinh tế
quốc dân cũng như sử dụng được một cách hiệu quả nhất dòng vốn FDI vào
Việt Nam, rất cần thiết phải có một nghiên cứu về hoạt động của các doanh
nghiệp FDI; từ đó, đưa ra được các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
ho
ạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
Quan điểm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam, dựa trên chuyển đổi cơ
cấu hàng hóa xuất khẩu từ thô sang tinh, trong đó các doanh nghiệp FDI là lực
lượng nòng cốt để sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng, thâm nhập thị trường
quốc tế.
3
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm tác giả đã chọn đề tài: “Đánh giá
và dự báo kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số tồn tại
- Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đế
n tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam – Chương trình nghiên cứu thuộc Dự án SIDA - Nâng cao năng lực
nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam thời kỳ 2001-2010 (Thạc sỹ Nguyễn Thị Tuệ Anh – trưởng nhóm
nghiên cứu). Nghiên cứu gồm 5 chương, bằng cách sử dụng cách tiếp cận
4
rộng hơn, kết hợp cả hai phương pháp là phân tích định tính sử dụng số liệu
thống kê thứ cấp và sơ cấp và phân tích định lượng để cung cấp thông tin về
tác động của FDI đến nền kinh tế Việt Nam. Chương một trình bày bức tranh
tổng quát về FDI ở Việt Nam kể từ 1988 đến 2006 và đánh giá sơ bộ vai trò
của FDI tới phát triển kinh tế xã hội; nêu ra những thay đổi quan trọng trong
chính sách thu hút FDI của Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau và so sánh
với một số nước trong khu vực và trên thế giới. Chương hai trình bày phương
pháp luận được sử dụng để đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế
thông qua kênh đầu tư và kênh tác động tràn; đề cập kỹ cơ sở lý thuyết của
mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng mô hình tăng
trưởng. Trên cơ sở
đó xây dựng mô hình đánh giá tác động của FDI tới tăng
trưởng kinh tế thông qua kênh đầu tư; cơ chế sinh ra tác động tràn, các kênh
truyền động và đưa ra khung khổ phân tích các tác động tràn trên cơ sở tiếp
thu một số mô hình đã được sử dụng trên thế giới. Dựa vào khung khổ phân
tích ở Chương hai, toàn bộ phần phân tích định lượng tác động của FDI tới
tăng trưởng được trình bày ở Chương ba. Chương bố
n tập trung vào phân tích
các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động của doanh nghiệp; tác động tràn
của FDI tới năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước nói chung và
trong 3 nhóm ngành lựa chọn nói riêng. Chương năm trình bày các phát hiện
- Đề xuất các giải pháp nhằm khuyến khích, đẩy mạnh XK có hiệu quả
đối với khối doanh nghiệp FDI
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
+ Các chính sách liên quan đến hoạt động xuất khẩu c
ủa các doanh
nghiệp FDI tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt nội dung: Đề tài đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp FDI
trong giai đoạn chủ yếu từ năm 2005 đến nay; phân tích các yếu tố trong và
ngoài nước có tác động đến các hoạt động của DN FDI trong giai đoạn 2011 –
2015; nhận định về tốc độ tăng trưởng, khả năng đóng góp cho nền kinh tế
quốc dân củ
a các DN FDI; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu
hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI.
+ Về thời gian: Khái quát đối tượng nghiên cứu từ 2005 – 2010; định
hướng và dự báo đến năm 2015.
+ Về không gian: Các DN FDI tại Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Tập hợp và nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
6
- Lấy ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học về những nội dung nghiên
cứu của Đề tài
6. Đóng góp của Đề tài
- Đối với Bộ Công Thương: Đề tài là một căn cứ khoa học thực tiễn,
quan trọng để Bộ có thể tham khảo trong việc điều chỉnh chính sách
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI
VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY THÔNG QUA CÁC
THÔNG SỐ CƠ BẢN
1.1. NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP
FDI ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
1.1.1. Quy mô của dòng vốn FDI tại Việt Nam
Trong 10 năm qua, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đạt trên 124 tỷ
USD vốn đăng ký cấp mới thuộc gần 8,5 nghìn dự án; vốn thực hiện đạt g
ần
48 tỷ USD; đầu tư từ khu vực FDI chiếm khoảng 25-30% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI luôn trên
25%, có năm đến 56%; giải quyết cho 1,7 triệu lao động trực tiếp; nộp ngân
sách đạt gần 2,5 tỷ USD năm 2009… Cụ thể:
Bảng 1.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép
giai đoạn 2005 - 2010
N
ăm
Số dự án
mới
Vốn đăng kí
(tỷ USD)
Vốn điều lệ
(tỷ USD)
Vốn thực
hiện (tỷ USD)
2005 711 3,9 2,048 -
2006 800 8 3,18 4,1
2007 1.544 17,85 6,03 8,03
đầu tư mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 839 dự án với tổng vốn đăng
ký đạt 16,34 tỷ USD, chỉ bằng 24,6% so với năm 2008. Ngoài các dự án m
ới
được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn có thêm 215 dự án đăng ký tăng vốn
đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với
năm 2008. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2009, các nhà đầu
tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so
với năm 2008.
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầ
u năm đến 20/11/2010
đạt 13,3 tỷ USD, bằng 60% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: vốn đăng ký của
833 dự án được cấp phép mới đạt 12,1 tỷ USD (giảm 20,4% về số dự án và
giảm 26,3% về số vốn so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung của
210 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 1,2 tỷ USD. Vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài th
ực hiện mười một tháng ước tính đạt gần 10 tỷ USD,
tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2009.
9
Biểu đồ 1.1: Vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam
trong 10 năm gần đây
ĐVT: tỷ USD
Tổng vốn FDI đăng ký trong 10 năm gần đây
2.01
2.5
2005
2006
2
0
0
7
2
0
0
8
2009
11T
/
201
0
Tỷ US
D
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Trong mười một tháng năm nay, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế
tạo vẫn là thế mạnh thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với số
vốn đăng ký đạt 4,4 tỷ USD, trong đó 3,5 tỷ USD của 334 dự án cấp phép
mới và 907,1 triệu USD vốn tăng thêm. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện,
khí và nước có 6 dự án cấ
p phép mới với số vốn đăng ký đạt 2,9 tỷ USD.
Vốn đăng ký vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản đạt 2,8 tỷ USD, trong đó
2,7 tỷ USD của 20 dự án cấp phép mới và 132,1 triệu USD vốn tăng thêm.
Cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài cấp phép mới trong mười một tháng năm 2010, trong đó
Bà Rịa-Vũng Tàu có số
giải ngân, đây là dòng vốn đầu tư thực sự từ nước ngoài vào và thể hiện trên
cán cân thanh toán quốc tế.
Biểu đồ 1.3: Lượng vốn FDI thực hiện bình quân năm
(Đơn vị: tỷ USD/năm)
Lượng vốn FDI thực hiện bình quân năm
1,303
3,589
2,776
7,876
10,000
10,850
0
2,000
4,000
6,000
8,000
10,000
12,000
1991-1995 1996-2000 2001-2005 2006-2008 2009 2010*
Tỉ US
D
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
(*): ước 2010
1.1.2. Các quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn vào Việt
Nam
Hiện nay có đã có hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt
Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 69%, ASEAN chiếm 19% tổng vốn
đăng kí. Có khoảng 15 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đăng kí cam kết trên
1 tỷ USD và đứng đầu là Hàn Quốc, tiếp đến là Singapore và Đài Loan, Nhật
tỷ USD, chiếm 16,3%; Hoa Kỳ 1,79 tỷ USD, chiếm 14,8%; Nhật Bả
n 1,6 tỷ
USD, chiếm 13,2%; Đài Loan 1,2 tỷ USD, chiếm 9,9%; Quần đảo Virgin
thuộc Anh 726,3 triệu USD, chiếm 6%
1.1.3. Phân loại FDI theo lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam
Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng
lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, vốn
thực hiện đạt 20,04 tỷ USD, chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng v
ốn đăng ký
và 68,5% vốn thực hiện. Tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ với 1.912 dự án, tổng
vốn đăng ký 28,6 tỷ USD, chiếm 22,25% tổng số dự án, 34,4% tổng vốn đăng
ký và 25,1% tổng vốn thực hiện. Nông – lâm – ngư nghiệp là lĩnh vực thu hút
được ít vốn đầu tư nhất với 933 dự án, 4,46 tỷ USD tổng vốn đăng ký và 2,03
tỷ USD tổng vốn thực hiện. 12
Bảng 1.2: Vốn FDI theo cơ cấu ngành giai đoạn 1988 – 2007
Đơn vị: triệu USD
Ngành
Vốn đăng
ký
% trên
tổng số vốn
70%.
Trong mười một tháng đầu năm 2010, tính cả số dự án được cấp mới và
số lượt dự án tăng vốn của cả n
ước là 1.043 dự án, với tổng số vốn thu hút đạt
13,3 tỷ USD theo các hình thức FDI đầu tư vào Việt Nam. Trong đó, doanh
nghiệp FDI đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài có 687 dự án cấp mới
với vốn đăng ký đạt 6,65 tỷ USD, số lượt dự án tăng vốn của loại hình doanh
nghiệp này là 165 dự án, đạt 783 triệu USD, chiếm 55,9%; Loại hình doanh
nghiệp đầu tư theo hình thức liên doanh có 130 dự án được cấp mới v
ới số
13
vốn đăng ký là 3,135 tỷ USD, số lượt dự án tăng vốn của loại hình doanh
nghiệp này là 35 dự án với vốn đăng ký tăng thêm là 382 triệu USD, chiếm
26,4%; Tiếp đến là loại hình doanh nghiệp đầu tư theo hình thức BOT, BT,
BTO có 6 dự án cấp mới với vốn đăng ký là 2,17 tỷ USD, chiếm 16,3%; Số
còn lại thuộc các hình thức đầu tư như cổ phần chiếm 0,5% và hợp đồng hợp
tác kinh doanh chiếm 0,8%.
1.2. NH
ỮNG THÔNG SỐ CƠ BẢN PHỤC VỤ VIỆC ĐÁNH GIÁ VÀ
DỰ BÁO XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
1.2.1. Chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh
nghiệp FDI
1.2.1.1. Chỉ số ICOR
- ICOR (Incremental Capital - Output Rate) là một chỉ số cho biết
muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ
ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. ICOR còn được gọi là hệ số
sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng
thêm.
Cần lưu ý là gia tăng sản lượng có thể nhờ nhiều nhân tố chứ không
nhờ vào các yếu tố khác như lao động rẻ chứ không phải do công nghệ.
Trên thực tế ở nhiều doanh nghiệp FDI, máy móc, công nghệ
được nhập khẩu
về Việt Nam đều đã cũ kỹ hoặc đã được khấu hao hết.
1.2.1.3 Sự tác động của dòng vốn FDI đến sự dịch chuyển cơ cấu
hàng xuất khẩu
Với những ưu thế về công nghệ, kinh nghiệm sản xuất, chiếm lĩnh thị
trường, vốn đầu tư FDI so với các khu vực khác trong hoạt động xuất khẩu
sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, đặc biệt
là nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu.
Mối quan hệ giữa FDI và xuất khẩu được thể hiện qua nhiều hình thức.
Trong đó, FDI thúc đảy xuất khẩu vì cho phép các hãng thiết lập một cơ sở
phân phối rộng hơn do vậy nó cho phép dòng sản phẩm được bán ở thị trường
nước ngoài nhiề
u hơn. Cùng với đó, nếu các chi nhánh nước ngoài có thể sản
xuất hàng hóa rẻ hơn và xuất khẩu chúng về nước của họ, khi đó FDI dẫn đến
tăng xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư và tăng nhập khẩu của nước đầu tư.
Có thể nói, ảnh hưởng của FDI đến xuất khẩu thể hiện ở việc thu hút
vốn FDI để thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo các hướng nâng
cao chất lượng của cơ cấu xuất khẩu:
Thứ nhất: làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến, các mặt hàng chế
biến sâu, các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cũng như chất xám cao vì đây
là các mặt hàng xuất khẩu mang lại nguồn lợi trong dài hạn khi các mặt hàng
xuất khẩu sử dụng nhiều nguồn l
ực tự nhiên bị mất dần lợi thế.
Thứ hai: việc tập trung FDI cho xuất khẩu hay cải tiến cơ cấu hàng xuất
khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng của các mặt hàng chế biến với mục tiêu
tạo ra các mặt hàng xuất khẩu có chất lượng cao, mang lại giá trị gia tăng cao.
Đây là một đòi hỏi mang tính khách quan để có thể duy trì nguồn lợi mang lại
tăng lên của chất lượng hàng hóa xuất khẩu.
+ Nếu tổng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI tăng 1 triệu
đồng sẽ dẫn
đến chỉ số chất lượng xuất khẩu của Việt Nam tăng 0,18 đồng.
+ Nếu FDI thực hiện tăng lên 1.000 USD thì tổng giá trị gia tăng của
sản phẩm tăng 0,34 USD.
+ Sự tăng lên của 1% FDI thực hiện cũng làm tăng mức thu nhập mang
lại của một đơn vị sản phẩm xuất khẩu nhưng còn rất ít hay có thể nói là
không đáng kể.
+ Vốn FDI thực hiệ
n của bên nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất máy
tính và linh kiện tăng lên 1.000 USD thì chất lượng của nhóm hàng này tăng
0,12 USD
+ Nếu xuất khẩu về máy tính và linh kiện của khu vực FDI tăng lên
1000 USD thì chất lượng của nhóm hàng này tăng lên 0,00286 USD.
16
+ Nếu xuất khẩu của khu vực FDI tăng lên 1% thì dẫn đến sự chuyển
dịch cơ cấu từ nhóm hàng thô, sơ chế sang nhóm hàng chế biến và tinh chế là
4,9%.
1.2.2. Tốc độ xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối doanh
nghiệp FDI luôn đạt trên 25%/năm. Tỷ trọng xuất khẩu của khối FDI trong
tổng kim ngạch xuất kh
ẩu tăng dần qua các năm: Năm 2005 chiếm 35% tổng
kim ngạch xuất khẩu, thì đến năm 2007 tăng lên 39,7% và năm 2008 chiếm
khoảng 44%, đạt 24,2 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2007 (không tính dầu
thô, nếu tính cả dầu thô thì kim ngạch của doanh nghiệp FDI đạt 34,5 tỷ USD,
chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu). Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu (kể
cả dầu thô) của các doanh nghiệp FDI chiếm 76,5% tổng kim ngạch xuất kh
khoảng 44% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đạt 24,45 tỷ USD, tăng
26,8% so với năm 2007 (không tính dầu thô, nếu tính cả dầu thô thì kim
ngạch của doanh nghiệp FDI đạt 34,5 tỷ USD, chiếm 55% tổng kim ngạch
xuất khẩu).
+ Xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu khí) năm 2009 đạt 29,9 tỷ
USD, bằng 86,6% so với năm 2008 và chiếm 52,7% tổng xuất khẩu cả nước.
Nếu không tính dầu thô, khu vực FDI xuất khẩu 23,64 tỷ USD, chiếm 41,7%
tổng xuất khẩu và bằng 98 % so với năm 2008. Nhập khẩu của khu vực FDI
năm 2009 đạt 24,8 tỷ USD, bằng 89,2% so với năm 2008 và chiếm 36,1%
tổng nhậ
p khẩu cả nước. Trong năm 2009, khu vực FDI xuất siêu 5,03 tỷ
USD.
+ Trong 11 tháng đầu năm 2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả
nước đạt 63,4 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2009 và gấp hơn 4 lần
so với chỉ tiêu kế hoạch đã đặt ra. Trong đó kim ngạch xuất khẩu của khối
doanh nghiệp FDI đạt 34,8 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2009. Nếu
không tính dầu thô thì kim ngạch xu
ất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 30,3 tỷ
USD, tăng 40,3% so với cùng kỳ năm 2009.
Biểu đồ 1.4: Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI
(chưa tính dầu thô) qua các năm
ĐVT: Tỷ USD
Kim ng ạch XK của doanh nghiệp FDI qua các năm
11.13
14.54
19.35
24.45
23.64
30.3
0
Năm
Chưa
kể dầu
thô
Kể cả
dầu thô
KN XK
cả nước
(triệu
USD)
Chưa
kể dầu
thô
Kể cả
dầu
thô
XK
của cả
nước
so
cùng
kỳ
năm
trước
(%)
Chưa
kể dầu
thô
Kể cả
dầu
14 . 54
8.32
16 . 74
19 . 3 5
8.48
20.55
24.45
10 . 4 5
28
23.64
6.21
26.73
30.33
4.47
29.48
0.00
10.00
20.00
30.00
40.00
50.00
60.00
70.00
80.00
2005 2006 2007 2008 2009 11 tháng 2010
KN khu vực kinh tế trong nước
KN DN FDI ở lĩnh vực dầu thô
KN DN FDI (chưa kể dầu thô)
1.3.3. Thị trường xuất khẩu
có xu hướng mở rộng sang các thị trường tiềm năng khác như: Trung Đông,
Châu Phi…
+ Đối với thị trường EU, kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt khoảng
trên 2,2 t
ỷ USD, nâng tỷ lệ xuất khẩu lên 1,4% kim ngạch nhập khẩu của khu
vực này (xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 vào EU chỉ chiếm 1% kim ngạch
nhập khẩu). Năm 2008, EU đã bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc, do
vậy, cần nghiên cứu tác động của thị trường EU khi Trung Quốc được bãi bỏ
hạn ngạch để giúp các doanh nghiệp định hướng mặt hàng và nước xuất khẩu
để có thể
nâng cao khả năng cạnh tranh.
* Thị trường Hoa Kỳ
- Mặt hàng giày dép:
Tại thị trường này, Việt Nam đã vượt qua Italia để trở thành nhà cung
cấp lớn thứ tư sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia. Trong năm 2008, xuất khẩu
vào Hoa Kỳ đạt trên 1,075 tỷ USD. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu vào thị
trường này đã giảm xuống còn khoảng 1,1 tỷ USD, do tác động của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu.
- Mặt hàng dệt may:
+ Kim ngạ
ch xuất khẩu dệt may vào thị trường Hoa Kỳ đạt khoảng 6 tỷ
USD trong năm 2010, nâng tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu của nước này lên trên
6% (xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 vào Hoa Kỳ chỉ chiếm 5% kim ngạch
nhập khẩu của nước này). Để đạt được kết quả trên, nhiều giải pháp đã được
thực hiện đồng bộ như tiếp tục hoàn thiện hệ th
ống điều hành hai chiều giữa
Bộ Công Thương và Hải quan; đồng thời triển khai hoạt động của Tổ kiểm tra
cơ động; Tổ chức làm việc với các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu lớn
(đặc biệt là xuất khẩu những mặt hàng trong diện giám sát) để nắm rõ khả
năng sản xuất, xuất khẩu luôn luôn nắm thế chủ động và đưa ra kế
thể thao, giày da nam nữ, dép đi trong nhà. Năm 2008, xuất khẩu vào Nhật
Bản đạt trên 137 triệu USD, hay Hồng Kong đạt trên 50,2 triệu USD.
- Mặt hàng dệt may:
Ngoài các thị trường trọng điểm xuất khẩu dệt may nêu trên, cũng cần
quan tâm đến các thị trường khác như: Canada, Hàn Qu
ốc, Australia và các
thị trường nhỏ lẻ nhưng đóng vai trò là trung tâm mua sắm của các khu vực
như Hồng Kông, Singapore, Thụy Sĩ, Anh…
- Mặt hàng dây cáp điện:
Việt Nam hiện có trên 100 doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu dây và cáp
điện. Nhiều doanh nghiệp FDI đã đầu tư sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này
với qui mô lớn; xuất khẩu của nhóm hàng này chủ yếu vẫn do các doanh
nghiệp FDI thực hiện. Hiệ
n nay, Việt Nam đang có hơn 40 thị trường xuất
khẩu dây và cáp điện, nhưng Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hồng Kông vẫn là những
thị trường lớn. Riêng kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hồng
Kông đã chiếm 84% tổng kim ngạch xuất khẩu.
22
Sở dĩ, kim ngạch xuất khẩu cáp điện của Việt Nam tăng mạnh thời gian
qua phần lớn nhờ sự khởi sắc của thị trường ôtô thế giới. Bởi trên thực tế, kim
ngạch xuất khẩu dây cáp điện dùng trong ôtô đang chiếm đến 70% kim ngạch
xuất khẩu dây và dây cáp điện. Trong 9 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất
khẩu dây và cáp điện dùng trong ôtô của Việt Nam
đạt 663,9 triệu USD, tăng
69,7% so với mức 391,13 triệu USD của cùng kỳ 2009. Thị trường xuất khẩu
chính dây cáp điện dùng trong ôtô tháng 9 là Nhật Bản với kim ngạch đạt
62,64 triệu USD, chiếm 79,8% tỷ trọng xuất khẩu dây và cáp điện dùng trong
ôtô tháng 9/2010. Thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sản phẩm
này là Hoa Kỳ với kim ngạch đạt 12,72 triệu USD, chiếm 16,2% tỷ trọng.
mới như điện tử, cơ khí chính xác cũng như chủ động trong tìm kiếm thị
trường xuất khẩu. Tại một số địa phương, các doanh nghiệp FDI đã chiếm tỷ
trọ
ng lớn trong kim ngạch xuất khẩu như Đồng Nai, Hải Dương khoảng 88%,
Vĩnh Phúc 86%, Bình Dương 75% Hiện nay cả nước đã có 4 tỉnh, thành phố
có kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt trên 2 tỷ USD là Đồng
Nai (4,6 tỷ USD); TP. Hồ Chí Minh (4,3 tỷ USD); Bình Dương (trên 4 tỷ
USD) và Hà Nội (trên 2 tỷ USD). Đặc biệt, một số doanh nghiệp FDI đã thực
sự trở thành những “anh cả” trong hoạt động xuất khẩu củ
a nước ta như Công
ty TNHH Canon Việt Nam, Công ty CP Pou Yuen Việt Nam, Công ty Fujitsu
Việt Nam…
Doanh nghiệp FDI đầu tư vào rất nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất của
Việt Nam và tham gia xuất khẩu rất nhiều mặt hàng, trong đó phải kể đến các
mặt hàng xuất khẩu chính như: linh kiện điện tử, dây điện, cáp điện, xe đạp,
phụ tùng, hàng dệt may và giày dép. Cụ thể:
* Mặt hàng giày dép:
Hiện nay, Việt Nam là mộ
t trong 10 nước xuất khẩu sản phẩm da giày
hàng đầu trên thị trường quốc tế với tốc độ tăng trưởng ngành cũng như tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt trung bình trên 10%/năm. Năm 2008, kim
ngạch xất khẩu đạt trên 4,7 tỷ USD. Trong ngành da giày Việt Nam thì các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm số lượng áp đảo, trên 60% số
lượng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm trên 30%.
Ngành da giày
được xếp hàng thứ ba trong các ngành xuất khẩu lớn của Việt
Nam, chỉ đứng sau dệt may và dầu khí.
Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI trong ngành
da giày Việt Nam trong các năm gần đây chiếm gần 57%. Khi khủng hoảng
diễn ra, khối doanh nghiệp FDI phải chịu ảnh hưởng nặng nề hơn, do đó, tác