MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG 3
1. Những khái niệm liên quan 3
2. Vị trí và chức năng của thanh tra lao động 3
3. Mục đích thanh tra lao động 4
4. Nguyên tắc hoạt động của thanh tra 4
5. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra lao động 4
6. Hình thức thanh tra lao động 5
7. Phương thức thanh tra lao động 5
8. Nội dung thanh tra lao động 6
9. Thanh tra an toàn – vệ sinh lao động 6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA VỀ AT – VSLĐ
TẠI DOANG NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM 8
1. Khái quát về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt
Nam 8
2. Cơ chế chính sách 9
3. Thực trạng công tác thanh tra về AT-VSLĐ tại Doanh nghiệp FDI 9
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH TRA
VỀ AT-VSLĐ TẠI DOANH NGHIỆP FDI 12
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
1
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động thanh tra mà đặc biệt là thanh tra lao động là một trong những
khâu quan trọng trong hệ thống quản lý nhà nước về lao động ở nước ta. Cùng
với việc phát triển mạnh mẽ của các hoạt động sản xuất kinh doanh thì hoạt
động thanh tra lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc phát
hiện, phòng ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật về lao động. Trong khi đó, số
lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài GDI đang hoạt động ở Việt Nam
những năm gần đây không ngừng tăng, chúng đóng một vai trò nhất định trong
tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc
thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá
nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra hành chính và thanh tra chuyên
ngành.
[ Khoản 1 – Điều 3, Luật Thanh tra 2010]
1.3. Thanh tra lao động
Thanh tra lao động là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong lĩnh vực lao động đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
hành pháp luật về lao động, quy định chuyên môn – kĩ thuật, quy tắc quản lý
thuộc lĩnh vực lao động.
2. Vị trí và chức năng của thanh tra lao động.
Căn cứ Khoản 1, Điều 238 của Bộ Luật Lao động (Sửa đổi bổ sung năm
2012) quy định: thanh tra Bộ Lao động – Thương binh, Thanh tra Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về lao
động. Theo đó thanh tra Lao động là tổ chức thanh tra thuộc ngành lao động; ở
Trung ương có Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; ở tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương có Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
3
Thanh tra Lao động thực hiện chức năng hành chính và thanh tra chuyên
ngành về lao động trong phạm vi quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật.
3. Mục đích thanh tra lao động
Mục đích của thanh tra lao động là nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản
lý, chính sách, pháp luật về lao động để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hình vi vi phạm
pháp luật về lao động giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định
của pháp luật về lao động, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
[Theo Điều 2, Chương 1, Luật thanh tra 2010].
(4) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật;
(5) Xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các
vi phạm pháp luật về lao động.
[ Điều 237, Bộ Luật lao động]
Ngoài ra, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của các cơ quan thực hiện chức
năng thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội được quy định rõ trong
chương 2, Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ban hành ngày 24 tháng 4 năm 2013
của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Lao động – Thương
binh và Xã hội.
6. Hình thức thanh tra lao động
- Thanh tra được thực hiện với hình thức thanh tra theo chương trình, kế
hoạch hoặc đột xuất.
- Thanh tra theo chương trình kế hoạch sau khi được Bộ trưởng Bộ lao động
– Thương binh và Xã hội hoặc Giám đốc sở phê duyệt.
- Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân
có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh lao động; theo yêu cầu của việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền giao.
7. Phương thức thanh tra lao động
5
Công tác thanh tra lao động tiến hành bằng phương thức thanh tra viên phụ
trách vùng thông qua phiếu tự kiểm tra (Quyết định số 01/2006/QĐ-BLĐTBXH
ngày 16 tháng 02 năm 2006 về việc ban hành quy chế hoạt động thanh tra nhà
nước về lao động theo phương thức thanh tra viên phụ trách vùng, quyết định
02/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02/2006 của Bộ LĐTBXH về việc ban
hành quy chế sử dụng phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động)
8. Nội dung thanh tra lao động
Thanh tra lao động, thanh tra việc thực hiện pháp luật những nội dung sau:
- Tuyển dụng và đào tạo lao động
- Thực hiện hợp đồng lao động
- Công tác tự kiểm tra về an toàn lao động của cơ sở.
- Công tác huấn luyện về an toàn lao động.
- Việc thực hiện các quy định về an toàn lao động đối với các đối tượng có
yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động (chế tạo, sử dụng, bảo dưỡng)
- Việc thực hiện chế độ bảo hộ lao động: bồi dưỡng, chống độc hại bằng
hiện vật, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi
- Tình hình khai báo, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Hồ sơ, tài liệu có liên quan.
7
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA VỀ AT-VSDLĐ TẠI
DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM
1. Khái quát về doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước
ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh
nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
[Khoản 6, Điều 3, Luật Đầu t]
Theo kết quả tổng hợp Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp
năm 2012 của Tổng cục thống kê thì nước ta hiện có gần 9500 Doanh nghiệp
FDI với hơn 2,5 triệu lao động đang làm việc; khoảng 75% doanh nghiệp FDI
tại Việt Nam đến từ các quốc gia láng giềng Châu Á (đặc biệt là Đài Loan, Hàn
Quốc và Nhật Bản).
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài được
nhìn nhận như là một trong những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam. Vai trò của FDI được thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố
quan trọng của tăng trưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu,
chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm Ngoài ra,
FDI cũng đóng góp tích cực vào tạo nguồn thu ngân sách và thúc đẩy Việt Nam
hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhờ có sự đóng góp quan trọng của
- Thông tư số 02/2010/TT-TTCP ban hành ngày 02 tháng 3 năm 2010 của
Chinh Phủ, quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra;
- Quyết định số 01/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02 năm 2006 về
việc ban hành quy chế hoatj động thanh tra nhà nước về lao động theo phương
thức thanh tra viên phụ trách vùng.
- Quyết định số 02/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02/2006 của Bộ
LĐTBXH về việc ban hành quy chế sử dụng phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp
luật lao động.
- Và một số văn bản quy phạm khác có liên quan.
3. Thực trạng công tác thanh tra về AT – VSLĐ tại doanh nghiệp FDI
9
Thứ nhất, số cuộc thanh tra được tiến hành hàng năm còn ít. Nam 2012, cả
nước chỉ tiến hành được 4.184 cuộc thanh tra về pháp luật AT – VSLĐ và 1.366
cuộc kiểm tra liên ngành. Tuy nhiên, việc thanh tra vẫn còn hình thức, chất
lượng chưa cao. Cá biệt có những tỉnh như Vĩnh Long, Vĩnh phúc cả năm không
có nổi một cuộc thanh tra liên ngành. Số các tỉnh khác có thanh tra Luật AT –
VSLĐ, nhưng số cuộc thanh tra chỉ đếm trên đầu ngón tay như Cao Bằng 2 vụ;
Thừa Thiên Huế 5 vụ; Quảng Bình 6 vụ.
Trong khi đó việc thanh tra mới chỉ chủ yếu diễ ra tại các doang nghiệp Nhà
nước, thống kê của Cục An toàn lao đọng cho thấy, 60% cuộc thanh tra diễn ra
trong doanh nghiệp Nhà nước và khoảng chỉ 20% tại doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài. Điều này dẫn tới thực trạng, số các doanh nghiệp FDI không
được thanh tra còn rất nhiều. Như vậy thì rõ ràng vấn đề đảm bảo về AT –
VSLĐ trong khu vực FDI bị bỏ ngỏ là chuyện đương nhiên.
Thứ hai, lực lượng thanh tra viên về AT-VSLĐ còn thiếu rất nhiều. Thống
kê năm 2011 của Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TBXH),
hiện cả nước có 420 thanh tra viên lao động cảm nhận chức năng ở nhiều lĩnh
vực như: Người có công, bảo hiểm xã hội, lao động trẻ em, khiếu nại tố cáo,
chính sách lao động nhưng cán bộ thực hiện thanh tra về AT-VSLĐ trong cả
nước chỉ chiếm 1/3 số cán bộ thanh tra nói trên (khoảng 130 người). Trong khi
=> Chính từ thực trạng trên dẫn tới kết quả thanh tra cho biết: hầu hết các
doanh nghiệp được thanh tra đều phát hiện thấy vi phạm. Như số liệu của Sở
Lao động – Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh năm 2012 cho biết: qua
thanh tra tại 2.149 đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn thì có tới 2.130 đơn vị vi
phạm. Các doanh nghiệp FDI thường vi phạm pháp luật về AT – VSLĐ như:
thiếu giải pháp về kỹ thuật an toàn, trang bị bảo hộ lao động; trang bị bảo hộ lao
động cho người lao động chưa đủ hoặc chưa trang bị; không bồi dưỡng bằng
hiện vật cho người lao động làm việc trong điều kiện nguy hiểm, độc hại; không
có hồ sơ sức khỏe đối với người bị mắc bệnh nghề nghiệp; che dấu khung số tai
nạn lao động
11
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH TRA VỀ AT – VSLĐ
TẠI DOANH NGHIỆP FDI
Với thực trạng như trên, để công tác thanh tra lao động về AT – VSLĐ nói
cung và thanh tra AT – VSLĐ tại các doanh nghiệp fdi nói riêng đạt hiệu quả
hơn, em xin đề xuất một số kiến nghị như sau:
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý trong lĩnh vực lao động cần
tiến hành rà soát, kiểm tra lại hệ thống thanh tra: nhằm đưa ra các biện pháp tăng
thêm quân số cho lực lượng thanh tra, tăng biên chế cho thanh tra lao động. Ban
hành tiêu chuẩn thanh tra viên và tổ chức thi tuyển công chức hoạt động trong
lĩnh vực thanh tra AT – VSLĐ.
- Tăng cường các cuộc thanh tra theo chuyên đề với thời gian, quy mô
nhanh, gọn có hiệu quả và chất lượng để giúp các cơ sở khắc phục những vi
phạm có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động cao và để phục vụ việc hoàn thiện
chính sách pháp luật.
- Tăng cường hoạt động đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thanh tra
AT – VSLĐ. Xây dựng bộ tài liệu chuyên đề để đào tạo cho các thanh tra viên
mới với thời gian đào tạo từ 1-2 năm. Phối hợp hoạt động với các đơn vị, tổ
chức quốc tế (như ILO, USAID ) tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề để
quy trình bảo hộ lao động để người lao động biết và chủ động phòng tránh. Từ
đó giảm thiểu số vụ tai nạn lao động cũng như lượng công việc cho cơ quan
thanh tra.
- Cần xác lập phiên hiệu riêng cho thanh tra AT – VSLĐ, tách riêng lực
lượng thanh tra AT – VSLĐ ra khỏi lực lượng thanh tra lao động chung để hoạt
động có hiệu quả.
- Tổ chức tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về
các điển hình tiêu biểu trong thực hiện pháp luật về AT – VSLĐ để các doanh
nghiệp học tập kinh nghiệm, lấy ví dụ để làm theo. Đồng thời có các giải thưởng
hàng năm cho doanh nghiệp chấp hành tốt quy định an toàn vệ sinh để kích thích
sự tham gia của họ trong việc đảm bảo xây dựng một môi trường làm việc lành
mạnh.
13
KẾT LUẬN
Từ những nội dung phân tích ở trên, theo em bài tiểu luận đã đạt được những
kết quả sau:
- Đã tổng quát hóa được nội dung thanh tra lao động, thấy được: vị trí, chức
năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của thanh tra lao động.
- Đã thu thập, phân tích và đánh giá được thực trạng công tác thanh tra về
AT – VSLĐ tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam trong
tình hình hiện nay. Qua đó thấy được thực trạng công tác thanh tra về AT –
VSLĐ hiện nay còn rất bất cập, nhiều vấn đề cần giải quyết.
- Và từ thực trạng trên, bài tiểu luận đã tập trung đề xuất một số kiến nghị
đối với công tác thanh tra về AT – VSLĐ tại doanh nghiệp FDI. Để cải thiện
tình trạng hiện nay thì càn phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, trong đó đặc
biệt là phải nhanh chóng bổ sung, củng cố lực lượng thanh tra viên lao động;
đồng thời cần hoàn thiện cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy thanh tra; tăng cường
hoạt động đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thanh tra AT – VSLĐ
Với những kết quả nghiên cứu này, em đã hiểu hơn về thực trạng thanh tra
về AT – VSLĐ hiện nay, còn nhiều khó khăn mà đội ngũ cán bộ làm công tác