MỤC LỤC
1
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động thanh tra mà đặc biệt là thanh tra lao động là một
trong những khâu quan trọng trong hệ thống quản lý nhà nước về lao
động ở nước ta. Cùng với việc phát triển mạnh mẽ của các hoạt động
sản xuất kinh doanh thì hoạt động thanh tra lao động đóng một vai
trò hết sức quan trọng trong việc phát hiện, phòng ngừa, xử lý những
vi phạm pháp luật về lao động. Trong khi đó, số lượng doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài GDI đang hoạt động ở Việt Nam những
năm gần đây không ngừng tăng, chúng đóng một vai trò nhất định
trong sự phát triển chung của đất nước. Bên cạnh việc thu hút được
nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, Việt Nam cũng phải đối mặt
với việc quản lý, giám sát tình hình thực hiện những quy định pháp
luật về lao động ở các doanh nghiệp này. Công tác thanh tra lao
động cũng như thanh tra về AT-VSLĐ hiện nay còn thiếu và yếu cả về
số lượng lẫn chất lượng. Đặc biệt số cuộc thanh tra được tiến hành ở
các doanh nghiệp FDI còn ít, chưa phát hiện và xử lý hết các trường
hợp vi phạm, gây ra những tổn thất về người và tài sản cho cá nhân,
gia đình và xã hội.
Nhận thấy được vai trò cũng như tầm quan trọng của công tác
thanh tra AT – VSLĐ ở các doanh nghiệp hiện nay, em đã quyết định
chọn đề tài: “ Thực trạng công tác thanh tra về an toàn – vệ sinh lao
động (AT – VSLĐ) tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI ở
Việt Nam trong tình hình hiện nay” để làm đề tài viết tiểu luận môn
Chuyên đề Thanh tra lao động. Trong bài viết không tránh khỏi
những hạn chế, em rất mong nhận được sự góp ý và nhận xét của cô
giáo.
Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng
thanh tra chuyên ngành về lao động. Theo đó thanh tra Lao động là
tổ chức thanh tra thuộc ngành lao động; ở Trung ương có Thanh tra
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; ở tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã
hội. Thanh tra Lao động thực hiện chức năng hành chính và thanh tra
chuyên ngành về lao động trong phạm vi quản lý nhà nước theo quy
định của pháp luật.
1.5 Mục đích thanh tra lao động
Mục đích của thanh tra lao động là nhằm phát hiện sơ hở trong
cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về lao động để kiến nghị với cơ
3
quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục, phòng ngừa,
phát hiện và xử lý hình vi vi phạm pháp luật về lao động giúp cơ
quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật về lao
động, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
[Theo Điều 2, Chương 1, Luật thanh tra 2010].
1.6 Nguyên tắc hoạt động của thanh tra lao động
- Hoạt động của thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã
hội phải tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, trung thực, khách
quan, công khai, dân chủ và kịp thời.
- Hoạt động thanh tra hành chính được tiến hành theo Đoàn
thanh tra; hoạt đông Thanh tra chuyên ngành được tiến hành theo
Đoàn thanh tra hoặc do Thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên
(5) Xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền
xử lý các vi phạm pháp luật về lao động.
[ Điều 237, Bộ Luật lao động]
Ngoài ra, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của các cơ quan thực hiện
chức năng thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội được
quy định rõ trong chương 2, Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ban hành
ngày 24 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động
của thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội.
1.8 Hình thức thanh tra lao động
- Thanh tra được thực hiện với hình thức thanh tra theo chương trình,
kế hoạch hoặc đột xuất.
- Thanh tra theo chương trình kế hoạch sau khi được Bộ trưởng Bộ
lao động
- Thương binh và Xã hội hoặc Giám đốc sở phê duyệt.
- Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức,
cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh lao động;
theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo do thủ trưởng cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.
1.9 Phương thức thanh tra lao động
Công tác thanh tra lao động tiến hành bằng phương thức thanh tra
viên phụ trách vùng thông qua phiếu tự kiểm tra (Quyết định số
01/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02 năm 2006 về việc ban hành
quy chế hoạt động thanh tra nhà nước về lao động theo phương thức
thanh tra viên phụ trách vùng, quyết định 02/2006/QĐ-BLĐTBXH
ngày 16 tháng 02/2006 của Bộ LĐTBXH về việc ban hành quy chế sử
dụng phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động)
1.10 Nội dung thanh tra lao động
Thanh tra lao động, thanh tra việc thực hiện pháp luật những nội
dung sau:
- Tuyển dụng và đào tạo lao động
- Việc thực hiện các quy phạm, tiêu chuẩn an toàn đối với máy, thiết
bị, vật tư, nhà xưởng, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất trong đó
tập trung vào các máy và hóa chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an
toàn vệ sinh lao động như nồi hơi, thiết bị áp lực, thiết bị nâng, vật
liệu nổ, thuốc bảo vệ thực vật...
- Việc thực hiện tiêu chuẩn vệ sinh lao động: tiếng ồn, độ rung, ánh
sáng.
- Việc lập và thực hiện kế hoạch bảo hộ lao động.
- Công tác tự kiểm tra về an toàn lao động của cơ sở.
- Công tác huấn luyện về an toàn lao động.
- Việc thực hiện các quy định về an toàn lao động đối với các đối
tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động (chế tạo, sử
dụng, bảo dưỡng)
- Việc thực hiện chế độ bảo hộ lao động: bồi dưỡng, chống độc hại
6
bằng hiện vật, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ ngơi...
- Tình hình khai báo, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Hồ sơ, tài liệu có liên quan.
7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA VỀ AT-VSLĐ
TẠI DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát về doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
tại Việt Nam
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà
việc thực hiện công tác thanh tra về AT – VSLĐ ở Việt Nam hiện nay
gồm:
8
- Bộ Luật lao động ( được sửa đổi, bổ sung năm 2012);
- Luật Thanh tra 2010;
- Nghị định số 106/2012/NĐ-CP ban hành ngày 20 tháng 12 năm
2012 của Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
- Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ban hành ngày 24 tháng 4 năm
2013 của Chính phủ, về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Lao
độngThương
binh
và Xã
hội;
- Quyết định số 614/QĐ-LĐTBXH ban hành ngày 16 tháng 04 năm
2013 của Bộ trưởng Bộ Lao đông – Thương binh và Xã hội, về việc
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
thanh tra Bộ;
- Nghị định số 95/2013/NĐ- CP ban hành ngày 22 tháng 8 năm
2013 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Thông tư số 02/2010/TT-TTCP ban hành ngày 02 tháng 3 năm
2010 của Chính Phủ, quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh
tra;
- Quyết định số 01/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02 năm
2006 về việc ban hành quy chế hoatj động thanh tra nhà nước về lao
động theo phương thức thanh tra viên phụ trách vùng.
nhận chức năng ở nhiều lĩnh vực như: Người có công, bảo hiểm xã
hội, lao động trẻ em, khiếu nại tố cáo, chính sách lao động... nhưng
cán bộ thực hiện thanh tra về AT-VSLĐ trong cả nước chỉ chiếm 1/3
số cán bộ thanh tra nói trên (khoảng 300 người). Trong khi đó, theo
báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2016, số doanh nghiệp đang
hoạt động trong cả nước là hơn 612.000 doanh nghiệp. Như vậy, tính
bình quân một thanh tra viên phải quản lý gần 1000 doanh
nghiệp. Căn cứ theo phương thức thanh tra theo đoàn thì bình quân
một thanh tra viên chỉ đi được 30 doanh nghiệp/năm. Để thanh tra
hết số doanh nghiệp mà mình phụ trách như đã tính ở trên thì phải
mất khoảng 40 năm. Theo khuyến cáo của tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO), các nước đang phát triển như nước ta, trung bình 25.000 –
40.000 lao động thì cần có 1 thanh tra viên về lao động.
Như vậy, với khoảng 54 triệu người trong độ tuổi lao động như ở
nước ta hiện nay phải cần tối thiểu 1.500 thanh tra lao động.
Thứ ba, nguồn thanh tra viên còn yếu kém về trình độ. Có tới 30
– 50% là cán bộ mới ra trường hoặc chuyển công tác. 25% cán bộ có
trình độ cao đẳng, trung cấp. Thực tế, Thanh tra các Sở LĐ- TBXH ở
các tỉnh thành chưa đáp ứng được nhiệm vụ thanh tra,kiểm tra ở các
địa phương. Thời gian chủ yếu là làm việc và giải quyết đơn thư,
phần lớn các Sở chưa tổ chức thanh tra theo kế hoạch.
Thứ tư, hiện nay các trang thiết bị, máy móc, đo đạc, xe cộ...
phục vụ cho việc thanh tra AT – VSLĐ cũng đã lạc hậu nhiều, vì vậy
mà công tác thanh tra chưa đánh giá hiệu quả được thực sự.
Thứ năm, công tác quản lý về AT – VSLĐ hiện còn tồn tại một số
hạn chế như: hệ thống pháp luật; việc ban hành các văn bản hướng
dẫn thi hành còn chậm gây khó khăn cho việc thực hiện; việc tuân
10
đạo chung hoặc được pháp luật hoá thành những văn bản pháp quy
hiện hành.
Tổ chức đào tạo nâng cao trình độ, nghiệp vụ thanh tra cho cán
bộ thanh tra: Tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất, chuyên môn nghiệp
vụ của thanh tra viên đã được quy định trong Luật Thanh tra năm
2010. Hàng năm Thanh tra Bộ đã tổ chức được nhiều lớp tập huấn
nâng cao nghiệp vụ thanh tra AT -VSLĐ cho thanh tra viên trong cả
11
nước đảm bảo không có thanh tra viên nào không được tập huấn
nghiệp vụ trước khi làm nhiệm vụ là trưởng đoàn thanh tra hay được
giao nhiệm vụ tiến hành thanh tra độc lập.
2.4.2 Những hạn chế và tồn tại
Nhìn chung, các thanh tra viên đã có nhiều nỗ lực trong việc tiến
hành các cuộc thanh tra nhằm tăng số lượng và tần suất các cuộc
thanh tra hàng năm.
Các cuộc thanh tra tại những doanh nghiệp FDI theo kế hoạch
thanh tra đã tránh việc trùng lặp trong cùng một thời gian, cùng một
nội dung có nhiều đoàn thanh tra đến doanh nghiệp, hay trong thời
gian quá dài doanh nghiệp không được thanh tra dẫn đến lơ là không
thực hiện đầy đủ chế độ lao động dẫn đến tai nạn lao động và sự cố
máy và thiết bị.
Tuy nhiên, số lượng và tần suất các cuộc thanh tra về AT - VSLĐ
tại các doanh nghiệp FDI còn rất thấp; các cuộc thanh tra tại các
doanh nghiệp FDI không được phân bổ tương xứng với tỷ lệ các
doanh nghiệp phân theo hình thức sở hữu, đặc biệt số cơ sở sử dụng
dưới 10 lao động được thanh tra còn rất ít. Hiện tượng này dẫn đến
tình trạng tác động, hiệu quả của công tác thanh tra nhà nước về lao
động chưa mang tính rộng khắp và cơ sở để đánh giá về mức độ thực
Nghị định mới hướng dẫn việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao
động, là một công cụ pháp lý phục vụ cho công tác thanh tra lao
động.
3.2. Tăng cường đội ngũ thanh tra viên về AT - VSLĐ đảm bảo
về số lượng, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hiện nay nước ta có 63 tỉnh, thành phố. Đó là vùng lãnh thổ về
hành chính mà cần phải tính tới khi thực hiện việc Thanh tra độc lập.
Theo khuyến cáo của Tổ chức lao động Quốc tế, nếu lấy tiêu thức về
số lượng lao động tại các cơ sở sản xuất, hiện có 3 mức về số lao
động để bố trí 1 thanh tra viên :
- Tại các nước Công nghiệp phát triển nên bố trí 80.000 lao
động có một thanh tra viên.
- Tại các nước Công nghiệp mới phát triển nên bố trí 60.000 lao
động có 1 thanh tra viên
- Tại các nước đang phát triển nên bố trí mức 40.000 lao động có
1 thanh tra viên.
Tuy nhiên cũng có một số tiêu thức khác để xác định số lượng
thanh tra viên như: Dựa theo số lượng doanh nghiệp trên địa bàn
hoặc theo tiêu thức diện tích vùng lãnh thổ, đặc điểm địa lý, mật độ
13
dân cư …. Theo một số nghiên cứu thì 1 thanh tra viên nên phụ trách
khoảng 300 doanh nghiệp trong điều kiện bình thường, với số doanh
nghiệp như vậy thì trong vòng 2 năm các doanh nghiệp đều được
thanh tra, kiểm tra.
Hạn chế tối đa việc điều chuyển thanh tra viên lao động đi làm
nhiệm vụ khác và không tuyển dụng cán bộ chưa đủ điều kiện vào tổ
chức thanh tra, thậm chí là cần đòi hỏi trình độ cao hơn so với yêu
cầu tuyển dụng vào ngành nói chung.
14
nội dung thanh tra rõ ràng nhằm giảm thiểu các thiệt hại do sự cố AT
-VSLĐ trong quá trình làm việc gây ra cho người và tài sản.
Nhìn chung, công tác thanh tra về AT – VSLĐ tại doanh ngiệp FDI
Việt Nam trong những năm gần đây đã có những đóng góp tích cực
nhất định trong việc tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật về AT
-VSLĐ tại các doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp FDI (người sử dụng
lao động và người lao động) đã bắt đầu thừa nhận và thấy vai trò,
tầm quan trọng của công tác thanh tra AT -VSLĐ tại doanh nghiệp
của họ đối với việc bảo vệ quyền lợi của hai bên, duy trì và phát triển
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các quan hệ lao động tại
doanh nghiệp.
Thanh tra là một chức năng không thể thiếu của quản lý Nhà
nước. Điều này đã được khẳng định trong bất kỳ hình thái quản lý
Nhà nước nào, bất kỳ quốc gia nào. Những năm qua, công tác thanh
tra về AT – VSLĐ tại doanh ngiệp FDI Việt Nam đã đạt được những
thành tựu quan trọng, góp phần đáng kể vào công cuộc bảo vệ đất
nước và đặc biệt là công cuộc đổi mới kinh tế do Đảng ta khởi xướng.
15
KẾT LUẬN
Từ những nội dung phân tích ở trên, theo em bài tiểu luận đã đạt
được những kết quả sau:
- Đã tổng quát hóa được nội dung thanh tra lao động, thấy được:
vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức... của thanh tra lao động.
- Đã thu thập, phân tích và đánh giá được thực trạng công tác
9. http://thanhtra.com.vn/35-dn-thuc-hien-chi-tieu-co-ban-ve
atvsld_t221c7n63925.html
10. http://danviet.vn/nong-thon-moi/thanh-tra-cong-tac-an-toan-vesinh-laodong-bo-trong-nhieu-khu-vuc/115872p1c34.htm
11.http://tcldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/12/id/9559/lanuage/
viVN/Default.aspx12. http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/3882/Doanh-nghiepFDI-dan-dau-ve-so-luong-trong-bang-xep-hang-dong-thue-2015
13.https://gso.gov.vn/default.aspx?
tabid=382&idmid=&ItemID=15861
14. http://thanhtralaodong.gov.vn/hoat-dong-khac/thuc-trang-congtac-thanhtra-kiem-tra-an-toan-ve-sinh-lao-dong-39593.html