MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ Tổ quốc XHCN là quy luật phổ biến của các nước XHCN. Đối với nước ta, bảo vệ Tổ
quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế
giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế
lực thù địch lợi dụng sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, lợi dụng cuộc chiến chống khủng
bố, tấn công quyết liệt vào độc lập chủ quyền của các quốc gia, dân tộc, đặc biệt là các nước XHCN
trong đó có nước ta. Vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn
nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo
vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của đất nước ta là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố: chính trị,
quân sự, kinh tế, văn hoá, khoa học - công nghệ; sự kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế;
sức mạnh của con người kết hợp với vũ khí trang bị…Trong đó, yếu tố con người giữ vai trò quyết
định. Nhiệm vụ trước hết và trên hết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là phải làm cho ý thức bảo
vệ Tổ quốc được thấm nhuần sâu sắc đến mọi tầng lớp nhân dân mà trọng tâm là thanh niên.
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan
trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Do đó gia đình có vai trò quan trọng trong giáo dục ý
thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho con em mình. Nhận thức được vấn đề này, nhiều năm qua các
gia đình ở tỉnh Phú Thọ đã thường xuyên coi trọng giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho
con em mình, kịp thời động viên thanh niên phát huy truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng,
truyền thống đất Tổ Hùng Vương và truyền thống gia đình, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của thanh niên khi Đảng cần. Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của
cơ chế thị trường và sự chống phá quyết liệt của kẻ thù bằng “diễn biến hòa bình”, nhiều gia đình ở tỉnh
Phú Thọ do mải mê làm kinh tế, kiếm sống, làm giàu nên đã sao nhãng trong giáo dục nói chung, giáo
dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên con em mình nói riêng. Hậu quả làm cho
một bộ phận thanh niên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về đạo đức lối sống, chạy theo lối sống
vật chất tầm thường, buông thả, thờ ơ lãnh đạm đối với các vấn đề chính trị - xã hội, thậm chí trốn tránh
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ quân sự, đào bỏ ngũ… gây tổn hại đến việc củng cố nền quốc phòng toàn
dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và việc hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, ảnh
hưởng đến uy tín, truyền thống của địa phương, gia đình và quân đội. Vì vậy, phát huy vai trò của gia
đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên cả nước nói chung, thanh
Nghiên cứu về vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội nói chung và vai trò của gia đình
trong giáo dục con cái nói riêng, có các công trình và bài viết: “Gia đình Việt Nam các trách nhiệm,
các nguồn lực trong sự thay đổi của đất nước” của Giáo sư Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1995; “Văn hoá gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội”, do Lê Minh chủ biên, Nxb Lao Động, Hà
Nội, 1994; “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình” của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và
phụ nữ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994; “Phát huy vai trò của gia đình trong xây dựng ý thức tôn
trọng pháp luật cho thanh niên ở tỉnh Hà Tây hiện nay” của Dương Văn Hoành, Luận văn thạc sỹ triết
học, Học viện Chính trị quân sự, H.2001; “Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình sỹ quan trẻ ở
các trường sỹ quan quân đội hiện nay” của Nguyễn Văn Đang, Luận văn thạc sỹ triết học, Học viện
Chính trị quân sự, H.2001.
Các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả đã đề cập tương đối toàn diện và có hệ
thống về bảo vệ Tổ quốc XHCN; về ý thức xã hội và ý thức chính trị XHCN; về gia đình, khái niệm
gia đình, vị trí vai trò, chức năng, mối quan hệ của gia đình. Đồng thời nêu lên một số phương hướng,
giải pháp nhằm xây dựng, nâng cao nhận thức về bảo vệ Tổ quốc XHCN trong tình hình mới, nâng cao
ý thức chính trị XHCN, ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho các tầng lớp nhân dân lao động nói chung,
trong quân đội nói riêng; phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục con
cái, xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ, hạnh phúc, góp phần vào sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đề cập tới vai trò của gia đình trong giáo dục ý thức bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên, nhất là ở một số địa phương cụ thể. Vì vậy, đề tài “Vai trò
của gia đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho thanh niên ở tỉnh Phú Thọ hiện nay” mà
tác giả lựa chọn đã không trùng lặp với bất cứ đề tài nào đã được công bố trong và ngoài quân đội.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn vai trò của gia đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN cho thanh niên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của gia
đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên ở tỉnh Phú Thọ hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ khái niệm, cấu trúc ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN và giáo dục giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc
lục.
Chương 1
Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO THANH NIÊN HIỆN NAY
1.1. Ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa cho thanh niên hiện nay
1.1.1. Ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
* Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Tổ quốc là một địa vực, lãnh thổ sinh sống của một cộng đồng dân cư (gồm một hay nhiều dân tộc)
có cùng ngôn ngữ, văn hoá, truyền thống lịch sử gắn với một chế độ kinh tế, chính trị, xã hội trong một
giai đoạn lịch sử cụ thể. Tổ quốc bao gồm hai phương diện thống nhất hữu cơ với nhau: những yếu tố
tự nhiên, địa bàn cư trú và hoạt động của một cộng đồng dân cư, gắn bó với quá trình sống, trưởng
thành của nhiều thế hệ người; những yếu tố xã hội như ngôn ngữ, văn hoá, truyền thống lịch sử và nhất
là luôn gắn với một chế độ kinh tế, chính trị, xã hội nhất định. Tổ quốc không phải là một khái niệm
trừu tượng, “nhất thành bất biến” mà là một phạm trù lịch sử mang nội dung phong phú: kinh tế, chính
trị, văn hoá, ngôn ngữ, địa lý…và luôn luôn vận động biến đổi, phát triển không ngừng. Mỗi loại hình
tổ quốc bao giờ cũng gắn liền với chế độ kinh tế, chính trị và giai cấp thống trị chế độ xã hội đó. Trong
chế độ xã hội có đối kháng giai cấp, tổ quốc thuộc về giai cấp thống trị, bóc lột. Không có một Tổ
quốc chung cho kẻ thống trị và người bị trị. Dưới chủ nghĩa tư bản, “…người công nhân không có Tổ
quốc. Người ta không thể cướp của họ cái mà họ không có” [19, tr. 623].
Tổ quốc XHCN là một loại hình tổ quốc phát triển cao nhất trong lịch sử loài người. Tổ quốc XHCN ra
đời gắn liền với sự thắng lợi của cuộc cách mạng XHCN do giai cấp công nhân lãnh đạo. Trong thế kỷ
XIX, mặc dù Tổ quốc XHCN chưa xuất hiện, nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra cho giai cấp công
nhân cần phải bảo vệ những thành quả cách mạng của mình. Phát triển tư tưởng của C.Mác và
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã xây dựng học thuyết bảo vệ Tổ quốc XHCN gắn liền với thực tiễn bảo vệ Chính
quyền Xô Viết sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công. V.I.Lênin chỉ rõ: “Kể từ ngày
25 tháng 10 năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ
Tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội
Hiện nay, tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố khó lường. Chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ
hòng xoá bỏ các nước XHCN còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm.
Nước ta, sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đã thu được nhiều thành tựu quan
trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: tình hình chính trị - xã hội ổn định; kinh tế phát
triển; giữ vững được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội; củng cố được lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN;
động viên được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị tham gia
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu đó là kết quả tổng hợp của quá trình thực
hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng, đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức. Bốn
nguy cơ mà Đảng ta chỉ rõ trong Hội nghị giữa nhiệm kỳ Khóa VII đến nay vẫn tồn tại và diễn biến
phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Trong đó, điều cần nhấn mạnh
là: “tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân” [9, tr. 67]. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù
địch đang ra sức chống phá cách mạng nước ta, tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ Đảng với nhân dân, đòi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng,
“phi chính trị hóa” quân đội, từng bước xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN trên đất
nước ta. Hoạt động “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với nước ta diễn
ra trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an
ninh …và không loại trừ hành động can thiệp quân sự, xâm lược của kẻ thù nhằm xoá bỏ độc lập dân
tộc và CNXH của nhân dân ta.
Trước tình hình đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta đặt ra những yêu cầu mới.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc
gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo
vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc” [9, tr. 117]. Cụ thể hóa quan điểm trên, Nghị quyết Hội
sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động sáng tạo, ý thức
không phải là bản sao giản đơn, thụ động, máy móc hiện thực; ý thức là của con người, mà con người
là một thực thể xã hội năng động sáng tạo, ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con
người tác động cải tạo thế giới. Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà là một hiện
tượng xã hội bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử - xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.
C.Mác cho rằng: “Ngay từ đầu ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con
người còn tồn tại” [18, tr. 43].
Như vậy, bản tính tự nhiên của con người thông qua hoạt động lao động sản xuất, trao đổi ngôn ngữ,
giao tiếp và các quan hệ xã hội được hình thành và bộc lộ ra, được xã hội hóa trở thành các phẩm chất xã
hội của con người - bản chất người. C.Mác khẳng định “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
là tổng hoà những quan hệ xã hội” [18, tr. 66]. Và vì vậy, ý thức của con người là một hiện tượng lịch sử,
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nó nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền với quá trình
phát triển của lịch sử - xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn của lịch sử xã hội.
Ý thức nói chung có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều thành tố quan hệ với nhau. Nghiên cứu cấu
trúc của ý thức bao gồm các yếu tố: Tri thức, tình cảm, ý chí. Trong đó tri thức là nhân tố cơ bản, cốt
lõi, là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, phản ánh thế giới. Tri thức có nhiều lĩnh vực
khác nhau như tri thức về tự nhiên, xã hội, con người… và nhiều cấp độ như tri thức cảm tính và lý
tính, tri thức kinh nghiệm và lý luận, tri thức tiền khoa học và khoa học… Để cải tạo tự nhiên và xã
hội, con người phải có tri thức về sự vật hiện tượng, nếu không có tri thức thì con người hoạt động
không có hiệu quả trong thực tiễn, càng có tri thức về sự vật thì ý thức về sự vật càng sâu sắc. Ý thức
mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì đó là hiện tượng trừu tượng trống rỗng, không
giúp gì cho con người trong hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, tác động của thế giới đến con người không
chỉ đem lại tri thức về thế giới mà còn đem lại tình cảm của con người về thế giới.
Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại xã hội mà trực tiếp là quan hệ giữa người
với người và quan hệ giữa con người với thế giới khách quan. Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn
định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa của
chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con
người và trở thành một động lực quan trọng của hoạt động con người. Tri thức có biến thành tình cảm
tính vượt trước của ý thức xã hội. Trong ý thức lý luận, hệ tư tưởng là yếu tố quan trọng nhất của ý thức xã
hội.
Ý thức thông thường - tâm lý xã hội và ý thức lý luận - hệ tư tưởng tuy là hai trình độ, hai phương thức
phản ánh khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ tác động qua lại với nhau và dù ở cấp độ nào thì chúng
cũng phản ánh theo cấu trúc: tri thức, tình cảm, ý chí.
Ý thức bảo vệ tổ quốc là một loại hình của ý thức xã hội, ý thức bảo vệ Tổ quốc được hình thành, phát triển
và ngày càng hoàn thiện gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Ý thức bảo vệ
tổ quốc phản ánh nội dung, yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trên cả hai phương diện tự nhiên - lịch sử và
chính trị - xã hội. Mỗi một tổ quốc đều do một giai cấp đại diện, do đó ý thức bảo vệ tổ quốc phản ánh lợi
ích kinh tế và chính trị của giai cấp thống trị, giai cấp thống trị không thể duy trì được sự thống trị của
mình nếu như không xác lập những lợi ích cơ bản của mình và không có ý thức bảo vệ những lợi ích căn
bản đó. Trong chủ nghĩa tư bản, ý thức bảo vệ tổ quốc được xây dựng trên quan điểm, lập trường của giai
cấp tư sản, nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị của giai cấp tư sản. Trong cách mạng XHCN, sau khi giai
cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, bắt đầu sự
nghiệp xây dựng CNXH, đồng thời cũng là quá trình tiến hành sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Bảo vệ Tổ quốc XHCN là một nhiệm vụ chiến lược gắn bó hữu cơ với nhiệm vụ xây dựng CNXH
trong suốt tiến trình cách mạng XHCN. Bảo vệ Tổ quốc XHCN là một quy luật khách quan, cùng với
xây dựng CNXH hình thành nên sự phong phú đa dạng của đời sống xã hội hiện thực (tức tồn tại xã
hội) trong CNXH. Ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN là một loại hình của ý thức xã hội XHCN, phản ánh
tính tất yếu khách quan, yêu cầu và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN. Ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN
nảy sinh từ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì mục tiêu CNXH,
được học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tổ quốc soi đường nhằm chống lại sự
xâm lược, bao vây, chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với Tổ quốc XHCN.
Ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN còn thể hiện ở tư duy về bảo vệ Tổ quốc của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động trước những thời cơ và thách thức của bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước.
Việc nhận thức và quyết tâm biến đường lối bảo vệ Tổ quốc của Đảng cộng sản thành hiện thực cũng
là một nhân tố quan trọng của ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là một loại hình của ý thức xã hội XHCN, phản ánh tính tất yếu
nước về bảo vệ Tổ quốc XHCN, những vấn đề chiến lược, sách lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam XHCN, nhất là về đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng
toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh; thường xuyên đề cao cảnh giác cách
mạng trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối
với nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; tích cực đấu tranh trên mặt trận chính trị - tư
tưởng chống lại các quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và công cuộc đổi mới đất
nước.
Thứ hai, về tình cảm, thái độ và sự đòi hỏi bên trong đối với nhiệm vụ sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN. Đây là nhu cầu sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, là nguồn gốc
của tính tích cực hành động thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Tình cảm, thái độ là một
đặc trưng mang tính tâm lý xã hội cao của con người, luôn gắn với nhu cầu, động cơ, mục đích của con
người; sự khái quát những hiểu biết, tri thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đưa tới quá trình tích hợp những
động cơ, nhu cầu, mục đích sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Có được động cơ, mục đích, nhu
cầu sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc con người mới dễ dàng bộc lộ các hành vi và thể hiện các hành động tích cực,
cụ thể cho sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Nhu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN được biểu hiện trên một số khía cạnh: sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc,
xả thân vì nền độc lập tự do của Tổ quốc; sẵn sàng bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng XHCN. Sẵn sàng
bảo vệ tổ chức đảng, chính quyền địa phương, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội… Sẵn sàng
nhận và làm theo các yêu cầu khi Tổ quốc đòi hỏi.
Tuy nhiên, để có được tình cảm, thái độ và sự đòi hỏi bên trong đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN thì trước hết nó phải được vun đắp từ tình yêu thương con người, đồng loại, tình yêu gia đình,
làng xóm, quê hương - nơi chôn nhau cắt rốn, mảnh đất đã chịu nhiều nắng mưa để làm ra hạt lúa củ khoai
nuôi ta lớn từng ngày, từ đó mà nâng niu, giữ gìn, quyết tâm bảo vệ gia đình, quê hương, đất nước.
Thứ ba, bằng ý chí và các hành động tích cực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN như: tích
cực tham gia các hoạt động học tập về nội dung giáo dục quốc phòng, các quan điểm của Đảng về bảo vệ
Tổ quốc; tham gia đăng ký nghĩa vụ quân sự; tham gia lực lượng dân quân tự vệ, luyện tập các phương án
chiến đấu phòng thủ ở địa phương; đăng ký dự bị động viên; tích cực đấu tranh chống các hành động phá
Thứ nhất, về nhận thức và thái độ chính trị.
Công cuộc đổi mới đất nước gần 20 năm qua đưa lại sự phát triển mọi mặt đã ảnh hưởng tích cực
đến tư tưởng, chính trị của thanh niên. Thanh niên hiện nay ngày càng tin tưởng vào sự nghiệp đổi
mới đất nước và coi ổn định chính trị là yếu tố quan trọng hàng đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp
đổi mới đất nước. Bằng hành động tích cực, chủ động tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, khắp nơi trong cả nước đã xuất hiện nhiều tài năng trẻ,
nhiều tấm gương trong sản xuất kinh doanh; phong trào lập thân, lập nghiệp, nghiên cứu ứng dụng
khoa học công nghệ, xây dựng đời sống văn hoá tinh thần, thể thao và bảo vệ Tổ quốc. Thanh niên
Việt Nam ngày nay năng động, tháo vát, có trình độ học vấn, có tầm nhìn rộng và nhạy cảm với thời
cuộc. Họ rất quan tâm đến tình hình chính trị - xã hội diễn ra ở địa phương, đất nước cũng như trên thế
giới và luôn khát vọng đưa gia đình, quê hương thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Họ vừa chủ động học
hỏi trang bị kiến thức khoa học công nghệ vừa tìm cách nâng cao giác ngộ chính trị, rèn luyện tư cách
đạo đức để trở thành người công dân tốt, người cán bộ, người chiến sỹ có phẩm chất và năng lực đáp
ứng với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thanh niên hiện nay rất mong muốn được đứng trong các tổ chức chính trị để cống hiến, trưởng
thành và có nguyện vọng được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng cao.
Điều đó cho thấy, thanh niên hiện nay đang tiếp tục kế thừa và giữ vững truyền thống cách mạng của
cha anh; quan tâm đến thời cuộc và vận mệnh của đất nước; tích cực ủng hộ và chủ động tham gia vào
công cuộc đổi mới của quê hương, đất nước, các phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ
nước”, các chương trình do Trung ương Đoàn phát động. Lòng tin của thanh niên đối với Đảng, Đoàn
và chế độ XHCN được củng cố và nâng cao. Đây là yếu tố hết sức thuận lợi để giáo dục chính trị - tư
tưởng, giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên. Tuy nhiên, trước tác động mặt
trái của kinh tế thị trường cũng còn một bộ phận thanh niên non kém về tư tưởng chính trị, chưa nhận
thức rõ được tình hình, nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới; ngại tham gia sinh hoạt đoàn thể, xã hội;
thiếu ý thức rèn luyện, ý chí tự lực, tự cường trong học tập, lao động sản xuất vươn lên thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu.
Thứ hai, về xu hướng nghề nghiệp, đời sống văn hoá tinh thần và lối sống của thanh niên.
Trong ý thức của đại đa số thanh niên cho rằng, mặc dù họ đã có cuộc sống đầy đủ hơn trước nhưng họ
là sự cảnh báo về nguyên nhân giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội đối với thanh niên cần được
khắc phục.
Thứ ba, về thanh niên tham gia lực lượng vũ trang bảo vệ Tổ quốc.
Đại bộ phận thanh niên trong lực lượng vũ trang đều trưởng thành dưới chế độ XHCN, được học tập, đào
tạo cơ bản, có hệ thống. Nhìn chung họ có nhận thức đúng đắn về CNXH, về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với
nhân dân, đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; luôn có ý thức tổ chức kỷ luật, tích cực học tập, rèn
luyện, công tác để tiến bộ, phấn đấu xứng danh “Bộ đội cụ Hồ”; ở những nơi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn,
căng thẳng, thanh niên vẫn luôn là lực lượng xung kích thực hiện mọi nhiệm vụ được giao. Trong những năm
qua, tỷ lệ quân nhân đăng ký thi vào các trường sỹ quan trong quân đội ngày càng tăng. Điều đó cho thấy,
thanh niên hiện nay coi công tác trong quân đội cũng là một nghề nghiệp và mong muốn được đi học để phục
vụ lâu dài trong quân đội.
Ngày nay, thanh niên quân nhân sống năng động và thực tế hơn, họ có mối quan tâm chung về vấn đề
công bằng xã hội, tự do, dân chủ và kỷ cương pháp luật Nhà nước. Đa số thanh niên có tâm trạng bất bình
trước tình trạng tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn mại dâm và ma túy trong
thanh niên. Nguyện vọng chung của thanh niên hiện nay là mong muốn Đảng, Nhà nước có những quy
định và chính sách phù hợp để việc thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự được nghiêm minh, bình đẳng giữa
mọi đối tượng; mong muốn được đơn vị tạo điều kiện học thêm văn hoá, học nghề trong thời gian tại ngũ
để có thể vừa hoàn thành nhiệm vụ trước mắt vừa có kiến thức, nghề nghiệp cần thiết cho việc lập thân, lập
nghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương. Tuy nhiên, một bộ phận thanh niên quân nhân vẫn
còn bồng bột, thiếu tính kiềm chế, thiếu kinh nghiệm nên dễ bị kích động, có những phản ứng tiêu cực
hoặc thể hiện thái độ thờ ơ, bàng quan trước các hoạt động của đơn vị, thậm chí vi phạm kỷ luật quân đội,
pháp luật của Nhà nước.
* Giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCNcho thanh niên hiện nay
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động, ảnh hưởng có mục đích, có kế hoạch
mang tính tự giác, chủ động đến con người, đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách
con người. Theo nghĩa rộng giáo dục là toàn bộ tác động của các chủ thể xã hội (gia đình, nhà trường, xã
hội) đến con người. Theo nghĩa hẹp, giáo dục được hiểu là quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức,
hành vi của con người. Sự tác động của các chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm nâng cao
thái độ, trách nhiệm và ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Sự hình thành, phát triển ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của thanh niên hiện nay chịu sự chi
phối của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, trong đó vai trò giáo dục của nhà
trường, xã hội và vai trò giáo dục của gia đình có ý nghĩa rất to lớn và quan trọng.
Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho thanh niên mang tính toàn diện. Tuy nhiên, xuất
phát từ đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi, trình độ nhận thức, sự trải nghiệm trong cuộc sống… của thanh niên,
cho nên giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho thanh niên cần tập trung vào những nội dung thiết
thực ở cấp độ ý thức thức bảo vệ Tổ quốc XHCN thông thường.
Một là, giáo dục cho thanh niên có những hiểu biết về tình yêu thương con người, tình yêu gia đình, quê
hương, đất nước, tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá độc lập dân tộc và
CNXH của nhân dân ta. Hai là, giáo dục cho thanh niên niềm tự hào về truyền thống dựng nước đi đôi với
giữ nước, truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, trên cơ sở đó giúp cho
thanh niên tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống của các thế hệ đi trước trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Ba là, xây dựng cho thanh niên tình cảm, thái độ, trách nhiệm
đúng đắn đối với Đảng, Nhà nước, đối với chế độ XHCN và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng và hành động tiêu cực phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bốn là, hình thành ở thanh niên tinh thần sẵn sàng và hành động tích cực theo
mục tiêu, yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân địa phương và gia đình; sẵn sàng xả thân vì nền độc
lập, tự do của Tổ quốc, góp phần cùng các lực lượng trong cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Như vậy, nội dung giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên là một thể thống
nhất bao gồm các các yếu tố: nhận thức, tình cảm, thái độ, trách nhiệm, tinh thần sẵn sàng và hành động
tích cực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong đó, trình độ nhận thức là cơ sở của tình
cảm, thái độ, nhu cầu và là kết quả của nhận thức; là động cơ bên trong thôi thúc hành động của thanh niên;
tinh thần sẵn sàng hành động tích cực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là kết quả cuối cùng của ý thức bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN, là thước đo trình độ nhận thức, tình cảm, thái độ, nhu cầu của thanh niên trong
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Do đó, trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho
phải thấy rõ những đặc điểm của gia đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho
thanh niên.
1.2.1. Đặc điểm của gia đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
cho thanh niên hiện nay
Thứ nhất, đó là sự truyền thụ, lĩnh hội ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN của thế hệ đi trước - ông bà,
cha mẹ, những người ruột thịt cho thế hệ đi sau - con cái, thanh thiếu niên.
Đây là một đặc điểm quan trọng trong giáo dục thế hệ trẻ của gia đình trong CNXH mà ở đó có sự đan
xen giữa tình cảm và trách nhiệm của những người ruột thịt trong cùng một tổ ấm. Điều này làm cho
giáo dục của gia đình có những ưu thế hơn so với giáo dục trong nhà trường và ngoài xã hội. Bởi vì,
trong gia đình có đủ mọi lứa tuổi thuộc nhiều thế hệ khác nhau, chung sống với nhau tương đối bền vững
dựa trên hai mối quan hệ hôn nhân và huyết thống. Truyền thống yêu nước thương nòi, truyền thống
dựng nước đi đôi với giữ nước; tình cảm yêu gia đình, quê hương, đất nước; ý chí tự lực tự cường, lòng
căm thù giặc sâu sắc…trong lịch sử dân tộc Việt Nam được các gia đình lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Thông qua tình cảm, trách nhiệm của ông bà, cha mẹ, những người đi trước, những người đã
từng nếm mật nằm gai “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”
trong các cuộc kháng chiến giành, giữ độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục truyền thụ
những yếu tố đó cho các thế hệ đi sau và nó đã trở thành một sức mạnh to lớn giúp cho thanh thiếu niên
ngày nay phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Gia đình không những là nền móng xây dựng và hình thành nhân cách cho thanh niên mà ngay trong
nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của thanh niên cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ gia đình. Mọi tình cảm,
tư tưởng, thái độ, hành vi ứng xử và trách nhiệm của thanh niên đối với sự nghiệp bảo vệ bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN đều thông qua quá trình truyền thụ, giáo dục của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau.
Những giá trị đó sẽ in dấu trong suốt quãng đời của thanh niên, trở thành tư tưởng ổn định, hun đúc trong
thanh niên tinh thần giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc, ý chí quyết tâm cao khi họ trực tiếp tham gia
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy thanh niên trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Chỗ mạnh của gia đình là kinh nghiệm xã hội, kiến thức đa dạng về dựng nước và giữ nước. Đó là một
tập thể khác nhau về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, tính tình, bao gồm ông bà, cha mẹ, anh em, do vậy
giáo dục mang tính phối hợp nhiều mặt về kiến thức, về các mối quan hệ xã hội… Phương pháp giáo dục
của gia đình là thuyết phục, giảng giải, có lắng nghe và trao đổi ý kiến giữa các thế hệ, mà không phải là
Mặt khác, chủ thể giáo dục gia đình là cha mẹ và những người thân trong gia đình của thanh niên; đối
tượng giáo dục là con cái, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể là mối quan hệ ruột thịt, thân tình và yêu
thương nhau đã tạo nên một nét nổi bật làm cho gia đình có một ưu thế hơn hẳn so với giáo dục ở nhà
trường và ngoài xã hội. Tình yêu đối với con cái và cuộc sống chung trong gia đình diễn ra hàng ngày đã
làm cho các bậc cha mẹ hiểu rõ con cái mình hơn bất kỳ một nhà giáo dục nào và họ biết dựa vào những
đặc điểm riêng của con cái để có cách dạy khác nhau. Một ưu thế khác của giáo dục gia đình là ở sự đa
dạng của các chủ thể giáo dục: ông bà, bố mẹ, anh chị; sự khác nhau về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, địa
vị xã hội… là điều kiện tốt để nâng cao vai trò của gia đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN cho thanh niên. Giáo dục vừa là nhu cầu tình cảm của cha mẹ, vừa là trách nhiệm với xã hội
và với chính hạnh phúc của bản thân gia đình. Vì vậy, cha mẹ tham gia vào giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc
XHCN cho thanh niên một cách thành tâm, nhiệt tình và vô tư. Nhưng so với nhà trường thì họ lại bị thiếu
hụt về trình độ được đào tạo sư phạm.
Từ đặc điểm này cũng cho thấy, kết quả giáo dục ý thức bảo vệ Việt Nam Tổ quốc XHCN cho thanh
niên hiện nay sẽ không đồng đều, không thống nhất. Nếu gia đình thật sự quan tâm chăm lo đến việc
nâng cao nhận thức của mình và phát huy những ưu thế trên thì chất lượng giáo dục sẽ đạt hiệu quả cao.
Ngược lại, nếu gia đình không quan tâm hoặc quá mải mê làm kinh tế, làm giàu, giao trách nhiệm giáo
dục cho nhà trường và xã hội thì chất lượng giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh
niên sẽ không cao.
Thứ ba, giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên của gia đình được thực hiện
với nhiều nội dung, hình thức, biện pháp phong phú.
Đây là một đặc điểm nổi bật của gia đình chiếm ưu thế hơn hẳn so với giáo dục nhà trường và xã hội. Ưu
thế nổi bật của gia đình trong giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Việt Nam XHCN cho thanh niên ở
chỗ, cha mẹ biết rõ hơn ai hết những đặc điểm riêng của con cái mình; những động cơ, nhu cầu, những mặt
mạnh, mặt yếu, những thiếu hụt trong trình độ nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của thanh niên, và
do đó có thể tiến hành những nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục bổ sung, sửa đổi kịp thời. Trong sinh
hoạt hàng ngày, những hoạt động chung của gia đình tác động thường xuyên và sâu sắc đến thanh niên;
tấm gương của cha mẹ khi làm việc, lúc nghỉ ngơi, trong lời nói, hành vi… đều ảnh hưởng đến nhận thức,
lối sống của thanh niên. Ngay cách dạy con cái của các bậc cha mẹ cũng phản ánh một phần cách họ được
do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” [1, tr. 44]. Nhận định đó
cho thấy vai trò rất to lớn của gia đình đối với sự phát triển của xã hội.
Trong sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta hiện nay, gia đình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng,
góp phần quyết định vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức đúng đắn
vai trò to lớn của gia đình, Đảng ta khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi
dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” [5, tr. 15].
Cụ thể hoá quan điểm của Đảng, Luật hôn nhân và gia đình nước ta chỉ rõ: “Gia đình là tế bào của xã
hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp
phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình
càng tốt” [16, tr. 7]. Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò to lớn của gia đình đối
với sự phát triển bền vững của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Nếu việc tái sản xuất ra con người là chức năng cơ bản của gia đình thì việc nuôi dưỡng, giáo dục
chúng thành người là công việc hàng đầu của gia đình. Nó thật sự là nhu cầu tình cảm của bố mẹ, là
niềm hạnh phúc lớn lao của gia đình, là trách nhiệm của gia đình đối với Tổ quốc. Nói cách khác,
người ta sinh ra không phải đã là con người mà chỉ trở thành con người trong quá trình giáo dục, trước
hết là giáo dục của gia đình.
Giáo dục - một trong những chức năng cơ bản của gia đình, sẽ tồn tại cùng với sự tồn tại của gia
đình; cũng như các chức năng khác, chức năng giáo dục của gia đình cũng có những biến đổi theo sự
biến đổi của đời sống xã hội. Gia đình là một tế bào của xã hội mà các thành viên của nó gắn kết với
nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống, bằng sinh hoạt chung và trách nhiệm lẫn nhau về đạo lý
và pháp luật, mỗi con người ngay từ khi sinh ra đã được đặt vào những quan hệ nhất định đó. Tức là dù
muốn hay không, đời sống của mỗi con người thường bắt đầu diễn ra trong phạm vi gia đình; từ tình
cảm yêu thương và trách nhiệm với con cái, từ nhu cầu bản thân muốn được làm cha làm mẹ đã đưa
gia đình tới việc thực hiện chức năng giáo dục thế hệ trẻ [26, tr. 226 - 233]
Mục đích của giáo dục gia đình được quy định bởi chế độ kinh tế xã hội mà cơ sở của nó là hệ tư
tưởng, những chuẩn mực đạo đức, hệ thống mối quan hệ qua lại trong gia đình [11, tr. 234]. Mục đích
giáo dục gia đình mang tính linh hoạt, nó thay đổi theo sự vận động và phát triển của xã hội, sự biến
thân yêu nuôi dưỡng con người. Lòng yêu quê hương, đất nước, ý thức tự nguyện tham gia bảo vệ Tổ quốc
cũng như trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc được hình thành trong nhân cách thanh niên ngay từ thuở
ấu thơ. Tình cảm, tình yêu gia đình, làng xóm, quê hương ở tuổi nhỏ là cơ sở để phát triển thành tình yêu
Tổ quốc khi bước vào tuổi thanh niên; vì vậy, gia đình là môi trường đầu tiên có vai trò quyết định việc
hình thành ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên.
Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của gia đình cho thanh niên khi còn nhỏ là
trang bị cho họ tình cảm yêu thương con người, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước; những kiến thức cần
thiết, những kinh nghiệm sống; niềm tự hào về truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc, tình
cảm đối với Tổ quốc, với Đảng, Bác Hồ; lòng căm thù giặc sâu sắc… Khi đến tuổi thanh niên, những nội
dung trên tiếp tục phát triển hoàn thiện trở thành ý thức bảo vệ Tổ quốc. Ở nhà trường và xã hội, nội dung
giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho thanh niên là giáo dục tinh thần giác ngộ giai cấp, giác
ngộ dân tộc, tinh thần sẵn sàng tham gia bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng hành động tích cực cho sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Chủ thể của giáo dục gia đình là cha mẹ và những người thân trong gia đình của đứa trẻ. Đối tượng giáo
dục gia đình là đứa con. Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể là mối quan hệ ruột thịt, thân tình và yêu
thương nhau; sự đa dạng của các chủ thể giáo dục: bố, mẹ, ông, bà, anh, chị, sự khác nhau về tuổi tác, giới
tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội, tính cách…là điều kiện tốt để phát triển trí tuệ và tình cảm, giúp trẻ có
những quan sát và nhận thức về xã hội, tập cho trẻ làm quen với xã hội bên ngoài và từ đó từng bước hình
thành tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, tình yêu Tổ quốc… kết hợp với giáo dục nhà trường và xã
hội hình thành ý thức bảo vệ Tổ quốc cho trẻ khi bước vào lứa tuổi thanh niên tham gia bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN.
Khẳng định vai trò giáo dục của gia đình, Đảng ta đã chỉ rõ: “Giáo dục con người là chiến lược của
mọi chiến lược, nhằm xây dựng những con người mới và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập
tự do và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc…
Hoàn thành sự nghiệp đó trước hết phải thực hiện có hiệu quả việc giáo dục nói chung và giáo dục lối
sống nói riêng trong mỗi gia đình” [6, tr. 28]. Như vậy, gia đình không chỉ là nơi giáo dục cho thanh
niên ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN nói chung mà còn định hướng cho thanh niên những hành động
tích cực trên thực tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN. Vai trò của gia đình trong giáo dục ý