(Luận văn thạc sĩ) vai trò của mặt trận tổ quốc việt nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------ *** ------

PHẠM THU HƢƠNG

VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
THAM GIA XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ
CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN
Chuyên ngành

: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƢỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mã số

: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. BÙI XUÂN ĐỨC

HÀ NỘI - 2009


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Là một bộ phận trong hệ thống chính trị nƣớc Cộng hồ xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trị và trách nhiệm quan trọng

tiếp tục làm tốt vai trị là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, xứng
đáng là cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và Nhà nƣớc.
Tuy nhiên, trên phƣơng diện lý luận và thực tiễn, công tác Mặt trận
tham gia xây dựng và củng cố chính quyền đến nay chƣa đƣợc nghiên cứu,
tổng kết một cách tồn diện, hệ thống; mặt khác cịn có những nhìn nhận,
đánh giá khác nhau, thậm chí chƣa thật đầy đủ, thiếu thống nhất về vị trí, vai
trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia công tác này, từ đó làm hạn chế
phần nào kết quả trong việc thực hiện quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong thời gian qua.
Từ thực tiễn của lịch sử và trƣớc yêu cầu đổi mới của toàn bộ hệ thống
chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát huy hơn nữa sức mạnh đại đồn kết
tồn dân tộc, đẩy mạnh tồn diện cơng cuộc đổi mới, sớm đƣa đất nƣớc thốt
khỏi tình trạng kém phát triển, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
thì việc tìm hiểu và nghiên cứu về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong công tác này là thực sự cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu để thấy đƣợc những đóng góp to lớn của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, đồng thời tìm ra những nguyên nhân của sự hạn chế, đề
xuất các biện pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong sự nghiệp đổi mới.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài "Vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân
dân" để làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong từng lĩnh vực cụ
thể nhƣ bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân,
hoặc ở lĩnh vực giám sát ... đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của một số
cơng trình khoa học riêng biệt hoặc trong phạm vi tổng thể chung của một số
cơng trình. Về giám sát thì có khá nhiều các cơng trình nghiên cứu của các

khai thác và sử dụng các tƣ liệu qua thực tiễn công tác để hồn chỉnh luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Luận văn là một trong những cơng trình nghiên cứu một cách tƣơng
đối hệ thống, chuyên sâu về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền nhân dân.
6.2. Luận văn góp phần làm sáng tỏ các quy định của pháp luật, đồng thời
chứng minh sứ mệnh lịch sử to lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng
và củng cố chính quyền với vai trị là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.


5
6.3. Luận văn đƣa ra một số kiến nghị về phƣơng hƣớng, giải pháp
chủ yếu về cơ chế, chính sách nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.
Chương 2: Thực trạng về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở nƣớc
ta hiện nay.


6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

chính quyền nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và Nhà nƣớc đều là bộ phận của hệ thống chính trị. Tuy chức năng, nhiệm
vụ và phƣơng thức hoạt động của Mặt trận và Nhà nƣớc có khác nhau nhƣng
đều là công cụ để nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam với Nhà nƣớc là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền
hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Sự phối hợp này là một tất yếu
và xuất phát từ nhu cầu tự thân của Mặt trận lẫn Nhà nƣớc. Bởi lẽ, củng cố và
tăng cƣờng đoàn kết phải trên cơ sở chính sách pháp luật. Nhà nƣớc có vai trò rất
quan trọng trong việc mở rộng và tăng cƣờng khối đại đồn kết tồn dân, khơng
ngừng hồn thiện hệ thống pháp luật và công tác quản lý, tạo điều kiện để nhân
dân đƣợc làm những việc mà pháp luật không cấm. Nhà nƣớc ban hành cơ chế
để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện
xã hội. Mặt trận phải chăm lo xây dựng, bảo vệ và giám sát Nhà nƣớc. Phối hợp
với Nhà nƣớc thì Mặt trận mới có khả năng và điều kiện thực hiện có hiệu quả
các nhiệm vụ của mình.
Nhà nƣớc điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật, nhân dân là ngƣời
trực tiếp thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc cần tôn trọng
và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể động viên nhân dân phát huy quyền
làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân tham gia xây dựng, quản lý, giám
sát và bảo vệ Nhà nƣớc. Trong quá trình ban hành các văn bản về quản lý và điều
hành, cơ quan Nhà nƣớc các cấp cần lắng nghe những kiến nghị của Mặt trận và
các đoàn thể. Nhà nƣớc căn cứ quy chế tổ chức và cơ chế hoạt động để giải quyết
tốt mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và Mặt trận. Nhà nƣớc cần thể chế hoá quyền hạn
và trách nhiệm của Mặt trận trong việc tham gia quản lý kinh tế - xã hội. Nhà
nƣớc cùng với Mặt trận chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân
dân, vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào để thực hiện thắng lợi
các chƣơng trình kinh tế - xã hội. Mặt trận giới thiệu những ngƣời có đủ tiêu
chuẩn và điều kiện để nhân dân bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp;

Đảng, Nhà nƣớc. [ 28, tr.56-57].
Trở lại mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nƣớc, Điều 9 Hiến pháp

năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã thể chế hoá quan điểm của
Đảng về vị trí, vai trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhƣ sau:


9

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã
hội, các dân tộc, các tơn giáo và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc
ngồi.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị
của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết
toàn dân, tăng cƣờng sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân
dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà
nƣớc chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên
nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp
và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc, đại biểu dân
cử và cán bộ, viên chức Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành
viên hoạt động có hiệu quả.[17, tr. 14]
Cũng trong Hiến pháp, tại điều 87 quy định về quyền trình dự án
Luật ra trƣớc Quốc hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận. Tại Điều 111 quy định: “Chủ tịch Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các
phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề liên quan”. Tại Điều 112 quy

Mặt trận Tổ quốc. Mặt trận có trách nhiệm phối hợp với Nhà nƣớc để thực
hiện tốt vai trị là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, bảo đảm thực hiện
có hiệu quả các quyền và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật,
trong đó có trách nhiệm tham gia quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội.
Phƣơng thức phối hợp giữa Mặt trận và Nhà nƣớc đƣợc thực hiện
thông qua các quy chế phối hợp công tác do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các cơ quan nhà nƣớc cùng cấp ban hành ngày càng thiết thực và
có hiệu quả. Từ khi có Luật Mặt trận Tổ quốc (năm 1999) đến nay, thực
hiện điều 5 về quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nƣớc, ở trung ƣơng đã xây
dựng và ban hành đƣợc 21 văn bản liên tịch, trong đó có 5 quy chế phối
hợp cơng tác, 8 nghị quyết liên tịch, 8 thông tƣ liên tịch với cơ quan nhà
nƣớc ở trung ƣơng, trong số đó phần lớn là văn bản liên tịch với Chính phủ,
các bộ. Ở địa phƣơng, tất cả các tỉnh đã xây dựng và ban hành quy chế phối
hợp giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc với Hội đồng nhân dân, giữa Uỷ ban


11
Mặt trận Tổ quốc với Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Ở cấp huyện có 98% số
huyện, ở cấp xã có 95% số xã đã xây dựng và ban hành quy chế phối hợp
giữa Mặt trận với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Hàng
năm, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc đều phối hợp với cơ quan nhà nƣớc, chính
quyền cùng cấp liên quan tổ chức hội nghị liên tịch giữa hai bên để kiểm
điểm việc thực hiện quy chế và thống nhất chƣơng trình, nội dung phối hợp
công tác của năm tới; sửa đổi, bổ sung quy chế phối hợp công tác.
1.1.2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc tham gia xây dựng và củng
cố chính quyền nhân dân

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp cách mạng là
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nƣớc đều thuộc

đó là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mối quan hệ
giữa Mặt trận với chính quyền và Mặt trận mang yếu tố lịch sử và cách mạng
suốt gần 80 năm qua, đó là mối quan hệ tất yếu, khách quan trong công cuộc
giành, giữ, bảo vệ chính quyền và xây dựng, phát triển đất nƣớc.
1.2.1. Vai trò của Mặt trận thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (1930-1975)
Tính tất yếu của Mặt trận dân tộc thống nhất trong Cách mạng nƣớc ta
đƣợc lịch sử chứng minh: Cách mạng càng tiến lên, Mặt trận Dân tộc thống nhất
không bị co hẹp lại, mà ngày càng được củng cố và phát triển rộng rãi.
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lƣợc, với chính sách cai trị phản
động, hà khắc; đời sống nhân dân ta, nhất là giai cấp nông dân phải chịu kiếp
sống lầm than, cơ cực và bần cùng hoá sâu sắc. Mặt trận Dân tộc thống nhất
Việt Nam ra đời có sứ mệnh tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia
chống thực dân Pháp và địa chủ phong kiến, giành độc lập, tự do cho đất
nƣớc. Nếu nhƣ Hội phản đế đồng minh có nhiệm vụ là “hấp thụ các tầng lớp
trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, họ là tầng lớp trên hay ở vào lớp giữa cũng
vậy và cho tới cả những người địa chủ, có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp,
mong muốn độc lập quốc gia, để đưa tất cả những tầng lớp và cá nhân đó vào
trong hàng ngũ chống đế quốc Pháp ...” [12, tr.61]. Đến thời kỳ Mặt trận Việt
Minh, hoạt động lại tập trung vào việc: “liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân
dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng, đảng phái chính trị nào, giai cấp
nào, đồn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp, Nhật, giành quyền độc lập cho xứ
sở ...” [6, tr.431].
Lịch sử đã ghi nhận Mặt trận Việt Minh là một trong những đỉnh cao
của các hình thức tổ chức Mặt trận do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập và lãnh đạo. Đây là thời kỳ mà tính tổ chức và tính phong trào, tính hiệu
quả, thiết thực với tính tƣợng trƣng, tiêu biểu trong hoạt động Mặt trận đƣợc
phát triển và hoàn thiện nhất. Mặt trận Việt Minh đã thu hút đƣợc các giới
đồng bào u nƣớc, từ cơng nhân, nơng dân, trí thức, tiểu tƣ sản đến tƣ sản
dân tộc, phú ông, địa chủ yêu nƣớc ... đƣa phong trào đấu tranh cách mạng ở
nƣớc ta phát triển mạnh mẽ, nhất là qua cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật của

rộng và tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới mục tiêu chung là
giải phóng dân tộc và thống nhất đất nƣớc. Mặt trận trong giai đoạn này phải
đảm đƣơng một phần chức năng của chính quyền, nhất là ở vùng căn cứ địa
cách mạng và vùng mới giải phóng (nhƣ tổ chức Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam).


16
Vai trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khơng phải tự Mặt trận khẳng
định mà do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận. Thắng lợi huy hồng
của cách mạng tháng 8 năm 1945 gắn liền với sự nghiệp của Mặt trận Việt
Minh. Thành tích của Mặt trận Việt Minh chính là sự kế tục sự nghiệp cách
mạng đã đƣợc chuẩn bị từ trƣớc của Hội Phản đế đồng minh (1930 – 1936)
và của Mặt trận Dân chủ Đông Dƣơng (1936 – 1939). Tiếp theo Mặt trận
Việt Minh là Mặt trận Liên Việt đã góp phần đƣa cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp đến thắng lợi. Kế tục Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam ra đời đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh
thống nhất nƣớc nhà. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam và Liên minh các lực lƣợng dân tộc dân chủ và hồ bình Việt Nam
đồn kết nhân dân cả nƣớc làm trịn sứ mệnh lịch sử vẻ vang; giải phóng
miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân trong cả nƣớc. Từ khi đất nƣớc thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng cƣờng khối đại đoàn
kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhƣ vậy, quá trình hình thành và phát triển Mặt trận dân tộc thống
nhất Việt Nam là q trình khơng ngừng đấu tranh chống mọi khuynh hƣớng
"tả khuynh" và "hữu khuynh" nhằm tập hợp lực lƣợng để xây dựng và củng
cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Điểm then chốt có ý

trong xã hội, tăng cƣờng sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân,
phát huy nhiệt tình cách mạng và tinh thần làm chủ, động viên nhân dân thi
đua lao động, sản xuất, tích cực tham gia cơng cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhƣ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa, Mặt trận Dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng cách
mạng to lớn của cách mạng nước ta”.
Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) đề ra đƣờng lối đổi mới toàn diện đất
nƣớc tạo ra xu thế đổi mới chung, trong đó có phƣơng hƣớng đổi mới Mặt trận
và các đồn thể. Tuy khơng có nhiều đột phá, nhƣng mở ra các nhiệm vụ mới
để Mặt trận có điều kiện tích cực tham gia đổi mới cơ chế quản lý, chuyển
mạnh hoạt động về cơ sở.


18
Trong thời kỳ đổi mới, với những thành công bƣớc đầu, khi đất nƣớc ta
thoát ra khỏi khủng hoảng, tháng 12-1993, Bộ Chính trị Trung ƣơng Đảng đã ra
Nghị quyết số 07-NQ/TW về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân
tộc thống nhất. Nghị quyết chỉ rõ: "Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, yếu tố dân
tộc trở thành một đặc điểm cực kỳ quan trọng". Văn kiện này đã đánh dấu một
bƣớc chuyển rất quan trọng trong chủ trƣơng về vai trị, vị trí vấn đề về dân tộc,
và tăng cƣờng Mặt trận dân tộc thống nhất, nhằm khắc phục những lệch lạc về
giai cấp và đấu tranh giai cấp, quan niệm về ta, bạn, thù và xác lập tƣ duy về đại
đoàn kết, hoà hợp dân tộc.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) đã khẳng định: "Động lực
chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân".
Trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nƣớc, với
nền dân chủ ngày càng phát triển thì sứ mệnh của Mặt trận và các đoàn thể
ngày càng đƣợc mở rộng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng tại mục X về “phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ...” đã chỉ rõ vai trò của Mặt trận Tổ

minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đã làm tốt vai trị là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, là cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng, Nhà nƣớc; đã, đang
và sẽ thực hiện tốt vai trị đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân
dân nhƣ Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã nêu ra, đồng thời là nơi phối hợp
và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên.
1.3. Nội dung vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền
1.3.1. Đặc trưng vai trò tham gia xây dựng và củng cố chính quyền
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tại Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quy định:
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ
chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã
hội, các dân tộc, các tôn giáo và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc
ngoài.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của
nƣớc Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể
hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đồn kết toàn dân, phát huy


20
quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thƣơng, phối hợp, thống nhất
hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hố, hiện đại hố đất nƣớc vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. [20, tr.5].
Từ quy định trên, có thể thấy một số đặc trƣng cơ bản thể hiện vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tham gia xây dựng và củng cố chính

trận Tổ quốc Việt Nam là vận động, giáo dục, thuyết phục, phối hợp và thống
nhất hành động. Đó chính là cách thức, phƣơng pháp tiến hành những công
việc để phù hợp với vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Đây chính là lợi thế căn bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc
động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi
hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nƣớc, đại
biểu dân cử và các bộ, công chức nhà nƣớc. Phƣơng thức hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam rất phong phú, đa dạng và không ngừng đƣợc đổi mới
để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong giai đoạn mới, đồng thời phù hợp với tinh thần Nghị quyết VIII,
IX của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của
Mặt trận và các đồn thể chính trị - xã hội ... Thực hiện nề nếp việc Đảng và Nhà
nước cùng bàn bạc và tham khảo ý kiến Mặt trận về những quyết định, chủ
trương lớn”.
Ba là: Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức lãnh đạo vừa là thành
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là một nét độc đáo trong lý luận
cách mạng nƣớc ta. Đảng là thành viên của Mặt trận nhƣng với tƣ cách
thành viên lãnh đạo, thông qua Mặt trận để tập hợp các lực lƣợng quần
chúng nhân dân theo Đảng làm cách mạng. Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng
phải ở trong Mặt trận, là một thành viên của Mặt trận, Đảng không thể
đứng trên hoặc đứng ngoài để lãnh đạo Mặt trận. Về vấn đề này Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định:
Đảng khơng thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình,
mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, ... chỉ trong đấu tranh
và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách
đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành đƣợc
địa vị lãnh đạo. [6, tr.347].


22

quyền nhân dân ở từng cấp.


23
1.3.2. Nội dung tham gia xây dựng và củng cố chính quyền
Nhƣ đã nêu ở trên, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân
dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đặc
biệt là trong giai đoạn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ xây dựng và củng cố chính quyền có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta suốt chặng
đƣờng 45 năm làm cách mạng (từ 1930) đổ biết bao xƣơng máu để lật đổ
chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc xâm lƣợc giành chính quyền về tay
nhân dân (năm 1945), giải phịng miền Bắc (năm 1954) và đấu tranh thống
nhất nƣớc nhà (năm 1975). Trong đấu tranh cách mạng để giành chính
quyền rồi phải xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh, trong sạch,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, ln đƣợc đặt ra trong suốt quá trình xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, công tác này đƣợc hệ thống hoá thành những hoạt động cụ thể
của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên các lĩnh vực chủ yếu nhƣ sau:
1.3.2.1. Tham gia xây dựng bộ máy nhà nước
- Vai trị, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong bầu cử
đƣợc quy định tại Điều 8 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đƣợc cụ thể
hoá trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội. Luật bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân và các văn bản pháp luật liên quan. Đây là một trong những
nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của công tác tham gia xây dựng và củng cố
chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của
cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dƣới sự lãnh đạo của Đảng và sự phối
hợp chặt chẽ của các cơ quan nhà nƣớc. Theo quy định của pháp luật, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tham gia công tác này với sáu nhiệm vụ cụ thể.
Một là, Ban Thƣờng trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp cùng với cơ

Trung ƣơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đƣợc mời tham dự và phát biểu về
các vấn đề liên quan. Ở địa phƣơng, đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp tham dự các kỳ họp thƣờng kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp và
phát biểu về công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền; chủ trì các
Hội nghị cử tri, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri về các lĩnh vực thành
văn bản kiến nghị tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân cùng cấp, hoặc gửi
Ban Thƣờng trực Uỷ ban Trung ƣơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về những
vấn đề thuộc thẩm quyền của Trung ƣơng Đảng, Quốc hội, Chính phủ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status