LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự xuất hiện giai cấp và sự ra đời của nhà nước quyền lực chính
trị và vấn đề kiểm soát quyền lực đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi
quốc gia, nhằm duy trì, củng cố và bảo vệ quyền thống trị của giai cấp cầm
quyền trong xã hội. Quyền lực có tính tha hóa – đó là đặc tính tất yếu của quyền
lực khi có sự tập trung thống nhất thành quyền lực nhà nước – tha hóa quyền lực
làm cho nó không còn là nó nữa, quyền lực bị biến chất đôi khi đối lập lại ý
nghĩa ban đầu của nó. Vấn đề này chỉ được khắc phục khi quyền lực được kiểm
soát chặt chẽ, khi ấy quyền lực nhà nước sẽ phát huy được ý nghĩa thực sự của
nó.
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Kiểm soát quyền lực đã và đang trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu
trong việc củng cố, bảo vệ và phát huy quyền thống trị của giai cấp cầm quyền ở
tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, ở Việt Nam, hơn bao giờ hết vấn
đề kiểm soát quyền lực là vấn đề có vị trí quan trọng trong việc thực thi quyền
lực của nhân dân, đảm bảo mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.
Lịch sử hình thành và phát triển của đất nước, đặc biệt qua hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực chứng rằng: nhà nước ta, chế
độ ta luôn phấn đấu đảm bảo quyền lực của nhân dân trong lãnh đạo, xây dựng
và phát triển đất nước. Nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực nhà nước, nhưng
nhân dân trao quyền của mình cho những đại biểu ưu tú nhằm thực thi quyền lực
ấy. Sự tập trung quyền lực đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến sự lợi dụng quyền
lực của một số đại biểu biến chất không trung thành với lợi ích quốc gia, lợi ích
dân tộc, đi ngược lại lợi ích nhân dân, quyền lực bị tha hóa. Do đó, kiểm soát
quyền lực chính là cơ chế đảm bảo quyền lực của nhân dân trong hệ thống
quyền lực nhà nước. Ngày nay, trong bối cảnh nước ta đã và đang mở rộng cánh
cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vấn đề kiểm soát quyền lực càng phải chú
trọng hơn nữa. Mở cửa hội nhập, đồng nghĩa chúng ta phải chấp nhận đương
đầu với không ít khó khăn, với những âm mưu thâm độc của kẻ thù, của các thế
1
thời sự của vấn đề vẫn còn nguyên vẹn. Vì thế tiểu luận này tiếp tục đề cập đến
2
vai trò giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc theo cách tiếp cận mới
phù hợp với yêu cầu của thời kì đổi mới đất nước dưới nhã quan của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong hệ
thống chịnh trị nước ta.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Do tính cấp thiết của đề tài, trong khi nghiên cứu tiểu luận đề ra một số
mục tiêu căn bản sau: làm rõ vai trò giám sát, phản biện xã hội và kiểm soát
quyền lực chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò kiểm soát quyền lực
của mặt trận tổ quốc trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Tiểu luận lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở lý luận trong quá trình nghiên
cứu.
Trong khi nghiên cứu tiểu luân sử dụng một số phương pháp căn bản như:
phương pháp duy vật biện chứng , phương pháp lịch sử vấn đề, phương pháp
lôgic của chủ nghĩa Mác – Lênin, ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp
khác: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tài liệu…
5. Phạm vi nghiên cứu.
Do yêu cầu và thời gian bị giới hạn lên tiểu luận chỉ dừng lại ở việc tìm
hiểu vai trò kiểm soát quyền lực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
KẾT CẤU TIỂU LUẬN.
Tiểu luận gồm 3 phần căn bản được bố cục thành ba chương:
Chương I: Lý luận.
Chương II: Thực trạng.
có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm không cho phép vua thâu tóm
toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công
dân. Nhà vua thực hiện quyền liên minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến
tranh, hòa bình và đối ngoại.
Những luận điểm phân quyền của J. Locke đã được nhà khai sáng người Pháp,
C.L. Montesquieu (1689 – 1775) phát triển. Montesquieu đã phát triển một cách
toàn diện học thuyết phân quyền, và sau này khi nhắc tới thuyết phân quyền
người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông.
5
Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đã lập luận tinh tế và chặt
chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định: “Trong
bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những
điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân
sự.” Ta có thể nhận ra sự tiến bộ trong tư tưởng phân quyền của Montesquieu so
với tư tưởng của Locke, khi tách quyền lực xét xử - quyền tư pháp ra độc lập với
các thứ quyền khác.
Từ đó, Montesquieu chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế,
thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị và
đảm bảo quyền tự do cho nhân dân. Montesquieu đã viết: “Khi mà quyền lập
pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên Lão, thì
sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt
ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do
nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền
tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống,
quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp
nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu
một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân
chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết."
hội, khiến các giai cấp không tiêu diệt nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội. Lúc này
quyền lực công đã chuyển hóa thành quyền lực nhà nước.
Trong xã hội, giai cấp nào chiếm được vị trí thống trị về kinh tế sẽ chiếm luôn vị
thế về quyền lực, sử dụng quyền lực nhà nước nhằm phục vụ lợi ích giai cấp,
đồng thời cũng đảm bảo ở mức độ nhất định lợi ích cá nhân và giai cấp khác
trong xã hội. Như vậy từ khi có giai cấp, quyền lực công đã chuyển hóa thành
quyền lực nhà nước, lúc này quyền lực công từ chỗ là quyền lực của nhân dân đã
trở thành quyền lực nhà nước, và trở thành lực lượng đứng trên nhân dân, quay
trở lại thống trị nhân dân. Xét về bản chất có thể coi đây chính là sự tha hóa của
quyền lực chính trị.
Chủ nghĩa Mác – Lênin, mà cái đích cao cả hướng đến chính là mục tiêu giải
phóng con người khỏi mọi áp bức bất công trong xã hội. Đó chính là công cuộc
7
xây dựng một xã hội cộng sản chủ nghĩa mà ở đó “ nhà nước bị tiêu vong”, “nhà
nước nửa nhà nước”. Khi mà nhà nước không còn tồn tại về mặt chính trị nữa
khi ấy tính giai cấp của nhà nước bị tiêu vong, lúc này sự tha hóa của quyền lực
nhà nước không còn nữa. Quyền lực nhà nước trở về đúng nghĩa của nó: là
quyền lực xã hội thực hiện chức năng công quản.
Như vậy có thể nói rằng: quyền lực nhà nước là quyền lực công của xã hội được
chế định bằng pháp luật, do giai cấp thống trị trong xã hội thực hiện nhằm bảo
đảm lợi ích của giai cấp mình trên cơ sở thực hiện ở mức độ nhấ định lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội.
Xét về bản chất quyền lực nhà nước vừa mang bnar chất giai cấp (tính giai cấp)
và vừa mang tính xã hội. Tính giai cấp của quyền lực nhà nước do quyền lực
nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp
mình. Quyền lực nhà nước là công cụ, là bạo lực có tổ chức cuả giai cấp thống
trị nhằm chấn áp giai cấp khác trong xã hội. Tính xã hội cảu quyền lực nhà nước
do nguồn gốc của nó quy định. Xét về nguồn gốc sâu xa, quyền lực nhà nước là
đủ chín để chỉ dùng các ràng buộc có tính đạo lý, dựa trên cơ sở tự nhận thức
được các quy luật khách quan. Vì thế, trên thực tế các cơ chế kiểm soát này có
tác dụng bổ sung cho nhau. Tự kiểm soát quyền lực là quan trọng trong dài han,
nhưng trong ngắn hạn khi mà các điều kiện cần thiết chưa đầy đủ để tự kiểm
soát được tiến hành thì kiểm soát bằng thể chế là cần thiết và hiệu quả. Kiểm
soát bằng thể chế có tính ngăn chặn, hạn chế, đông thời cũng mang tính giáo dục
đối tượng kiểm soát góp phần tiến tới tự kiểm soát trong tương lai. Do vậy có
thể thấy rằng kiểm soát quyền lực nhà nước là một hệ thống những cơ chế thực
hiện bởi nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước
đúng mục đích và hiệu quả.
2.3 Tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước.
Quyền lực nhà nước về bản chất nó không mang nghĩa tự thân vì nó mà là quyền
lực do nhân dân ủy quyền nhằm đảm bảo tối thiểu các điều kiện xã hội cần thiết
về an ninh, về các điều kiện kinh tế - xã hội khác để xã hội tồn tại và phát triển.
Chính vì nhân dân ủy quyền của mình cho nhà nước vì thế nhân dân có quyền
kiểm soát, xem xét xem quyền lực của mình có được thực hiện như thế nào?
Điều này có nghĩa quyền lực nhà nước là quyền lực được ủy quyền nên sự kiểm
9
soát quyền lực là cần thiết và chính đáng. Cũng cần phải khẳng định rằng: nếu
nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực của mình thì kiểm soát quyền lực trở lên
vô nghĩa, hoặc nếu quyền lực của nhân dân được ủy quyền cho người hoàn toàn
tốt thì vấn đề kiểm soát quyền lực cũng không cần đặt ra.
Nhưng do quyền lực nhà nước có tính ủy quyền, việc thực thi quyền lực nhà
nước được gián tiếp thông qua các đại diện vì thế xảy ra khả năng sai lệch mục
đích, kém hiệu quả do sự thiếu hoặc mất thông tin giữa người chủ thực sự của
quyền lực nhà nước (nhân dân) và người thưc thi quyền lực đó (nhà nước): Khả
năng nhà nước không kịp thời, nhạy bén nắm bắt đúng mục điích, lợi ích của
nhân dân, hay do nhà nước không hiểu đúng nghĩa mục đich; cũng không loại
của con người là khó tránh khỏi. Điều đó khẳng định, không phải bao giở người
được ủy quyền cũng luôn xứng đáng với sự tín nhiệm của cộng đồng. Vì thế
cộng đồng cần có biện pháp, cách thức để kiểm soát người được ủy quyền và có
khả năng thay thế người được ủy quyền không còn xứng đáng với sự tín nhiệm
của nhân dân.
Với những luận giải trên, xã hội cần có thể chế để kiềm chế, kiểm soát quyền
lực nhà nước. Đây chính là tính tất yếu của kiểm soát quyên lực nhà nước.
3.Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về kiểm soát quyền lực chính trị.
Với nhãn quan lãnh tụ cách mạng, Lênin cho rằng toàn bộ vấn đề kiểm soát
chung quy là vấn đề ai là người kiểm soát và ai là người kiểm soát? Lênin cũng
khẳng định rằng dưới chính quyền vô sản việc kiểm soát quyền lực nhà nước
trước hết là nhiệm vụ của giai cấp công nhân sau đó mở rộng ra thành sự kiểm
soát của toàn bộ nhân dân lao động trong xã hội. Chuyên chính vô sản và sự
kiểm soát của toàn dân là công cụ, nhưng hai việc này phải được tiến hành một
cách đồng thời mới đạt được hiệu quả, không được thực hiện cái này mà quên
cái kia. Cũng theo Lênin, đối tượng của kiểm soát bao gồm tất cả các cơ sở kinh
tế, các ngành, các đoàn thể , cá nhân…và mọi cấp chính quyền. Theo đó, nhà
nước vừa là chủ thể vừa là đối tượng của kiểm soát quyền lực.
Nhấn mạnh đến việc xây dựng nền chuyên chế vô sản, đông thời đẩy mạnh việc
kiểm soát quyên lực Lênin xác định nội dung cảu kiểm soát quyền lực bao gồm:
kiểm kê, kiểm soát việc sản xuất và phân phối những sản phẩm chủ yếu; kiểm
soát các hoạt động tai chính và tiền tệ, nhất là hoạt động của ngân hàng, lưu
thông tiền tệ, thu nhập,chi tiêu và nộp thuế của các đơn vị; kiểm tra, kiểm soát
11
việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước, vieech
thi hành các chức trách mà nhà nước giao cho; kiểm tra, kiểm soát các dấu hiệu
tiêu cực.
Là người học trò xuất sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã kế thừa
các phong trào yêu nước, phong trào công nhân, là sản phẩm lịch sử của cuộc
đấu tranh của nhân dân lao động bị áp bức nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa dân
tộc Việt Nam và bọn đế quốc xâm lược. Ngày 18/11/1930, ban Thường vụ
Trung ương Đảng ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh Đông Dương giữa
lúc phong trào yêu nước của nhân dân đấu tranh chống ách thống trị nặng nề của
thực dân Pháp lên đỉnh cao.
Hội phản đế đồng minh Đông Dương là tổ chức liên minh của các tổ chức
chính trị - xã hội, hình thức tập hợp quần chúng rộng rãi nhất. Sự liên minh này
là tất yếu khách quan, là cơ sở đảm bảo cho cách mạng thành công. Trong chỉ
thị thành lập hội phản đế đồng minh, Đảng cộng sản Việt nam đã nêu rõ: “Giai
cấp công nhân không đồng minh được với giai cấp nông dân là lực lượng tất yếu
của cách mạng thì không đánh đổ được đế quốc Pháp và phong kiến phản cách
mạng trong nước…không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật
đông, thật kín thì cuộc cách mạng khó thành công”.
Cộng hòa miền Nam Việt Nam với việc thành lập chính phủ lâm thời
cộng hòa miền Nam Việt Nam, Mặt trận được củng cố vững chắc hơn, trở thành
một tổ chức chính trị rộng lớn, tập hợp các tổ chức chính trị - xã hội khác, củng
cố thêm khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc cách mạng ở miền Nam.
Vào giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam hoạt
động trong điều kiện thống nhất nước nhà, cả nước cùng xây dựng chủ nghĩa xã
hội, tháng 1 năm 1977 diễn ra đại hội mặt trận thống nhất lấy tên chung là Mặt
Trận Tổ Quốc Việt Nam.
13
Vào giai đoạn đổi mới (từ năm 1986 đến nay), các tổ chức chính trị - xã
hội đã phát triển với quy mô sâu rộng hơn cùng với quá trình đổi mới đất nước.
Tổ chức bộ máy và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới
theo hướng khắc phục dần tính hành chính quan liêu, thụ động, tiếp tục phát huy
khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp dông đảo quần chúng nhân dân vào Mặt
1.2.1. Vị trí.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị
của nước ta hiện nay. Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp
cách mạng, là xuất phát từ thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền
lực thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống. Vai trò của
Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử
thừa nhận.
Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chính
quyền, Mặt trận đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị. Tuy
vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu thành
trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây
dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh,
có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Hiến pháp năm 1992 đã xác định: "Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân..." điều đó
càng khẳng định Mặt trận Tổ quốcViệt nam là một bộ phận không thể thiếu
được của hệ thống chính trị nước ta.
1.2.2. Vai trò.
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể thành viên có vai trò rất
quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc..." Đó là củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhất
trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dân với
Đảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải qua
nhiều chặng đường và tồn tại lâu dài nhiều thành phần kinh tế. Trong quá trình
đó còn có sự khá nhau giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, các tôn
giáo... Những biến đổi về cơ cấu giai cấp và thành phần xã hội đang đặt ra cho
công tác vận động quần chúng nói chung và công tác Mặt trận nói riêng những
15
16
1.3.2. Mối quan hệ của Mặt trận với các thành viên khác trong hệ
thống chính trị.
1.3.2.1. Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận có một đặc điểm đáng
chú ý: Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận
Là thành viên, Đảng tham gia Mặt trận bình đẳng và có nghĩa vụ như mọi
hành viên khác. Đại diện cấp uỷ Đảng tham gia uỷ ban Mặt trận có trách nhiệm
sinh hoạt đầy đủ thực hiện hiệp thương dân chủ và phối hợp thống nhất hành
động. Cấp uỷ Đảng phải giáo dục đảng viên gương mẫu thực hiện chương trình
hành động chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuậnvà tích cực tham gia
công tácMặt trận tại khu dân cư
Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải ở trong Mặt trận, Đảng thực hiện vai trò
lãnh đạo bằng cách đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, đáp ứng
yêu cầu nguyện vọng và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân: Đảng tiến
hành công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra và bằng sự
gương mẫu của Đảng viên. Thực tiễn lịch sử từ ngày thành lập Mặt trận đến nay
đã chứng tỏ các thành viên tham gia Mặt trận đều tự giác thừa nhận vai trò lãnh
đạo của Đảng.
Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua Đảng đoàn Mặt trận thông qua Đảng
đoàn các tổ chức thành viên của Mặt trận và thông qua đại diện của cấp uỷ Đảng
tham gia Uỷ ban Mặt trận cùng cấp. Đảng chăm lo bồi dưỡng cán bộ và giới
thiệu những Đảng viên có phẩm chất, có tín nhiệm trong các tầng lớp nhân dân,
có năng lực làm công tác Mặt trận, để Mặt trận chọn cử theo đúng điều lệ. Đảng
lãnh đạo sự phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên, sự phối hợp
giữa Mặt trận với chính quyền. Đảng tôn trọng tính độc lập về tổ chức và hoạt
động sáng tạo của Mặt trận; Đảng lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận đối
với sự lãnh đạo của Đảng và đối với cán bộ Đảng viên. Sự lãnh đạo của Đảng
đối với Mặt trận là vấn đề có tính nguyên tắc, đảm bảo cho Mặt trận không
qui chế tổ chức và cơ chế hoạt động để giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà
nước với Mặt trận. Nhà nước cần tiếp tục thể chế hoá quyền hạn và trách nhiệm
của Mặt trận trong việc tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội và xây dựng
cuộc sống tự quản của dân.
18
Nhà nước phối hợp với Mặt trận trong việc chăm lo lợi ích chính đánh của
nhân dân, trong việc vận động các tầng lớp nhân dânđẩy mạnh phong trào hành
động thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế xã hội.
Một trong những nội dung quan trọng của cải cách bộ máy Nhà nước hiện
nay là tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân. để Mặt trận làm tròn trách nhiệm là cơ sở chính trịcủa
chính quyền nhân dân, sự phối hợp giữa Mặt trận với Nhà nước phải như nghị
quyết đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: " Thực hiện thành nền nếp iệc đảng
và Nhà nước cùng bàn bạc và tham khảo ý kiến của Mặt trận về những quyết
định chủ trương lớn" ngày một chặt chẽ và cụ thể hơn.
2. Nội dung vai trò kiểm soát quyền lực chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
2.1. Khái niệm về giám sát phản biện xã hội.
Để làm sáng tỏ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cần phải đi từ khái niệm giám sát, phản biện và phản biện xã hội. Có
nhieeud quan niệm khác nhau về các khía niệm này, xin đưa ra cách hiểu:
Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: giám sát là theo dõi và kiểm tra xem
có thực hiện đúng quy định không, cũng được hiểu là các quan chức thời xưa,
trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định.
Phản biện là “phát hiện, đánh giá một công trình khoa khi công trình
được đưa ra bảo vệ lấy học vị trước hội đồng chấm thi ”
Phản biện còn được hiểu “là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác
1992 quy định “ Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước, phải tôn
trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát
của nhân dân…”. Và điều 53 ghi: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà
nước và xã hội tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương,
kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu dân ý”.
2.2. Quan niệm về vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc trong hệ thống chính trị Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự
nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội
và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các
tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
20
Trong điều kiện mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có những chức năng cơ
bản sau:
Thứ nhất, chức năng đại diện lợi ích của quần chúng nhân dân, của giai
cấp, tầng lớp, giới phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi
hợp pháp và chính đáng của nhân dân.
Thứ hai, chức năng tập hợp lực lượng các giai cấp, các tầng lớp, các giới
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Thứ ba, chức năng tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức và vận động nhân
dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ tư, chức năng giám sát đối với các cơ quan và cán bộ của nhà nước
và hệ thống chính trị.
Thứ năm, chức năng phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật, kế hoạch, biện pháp điều hành các hoạt động của nhà
nước.
Với vị trí là thành viên chiến lược trong hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ
quốcViệt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát huy sức mạnh về
thành viên của Mặt trận để góp ý, kiến nghị với cơ quan, tổ chức cá nhân có
thẩm quyền.
Thứ ba, đối tượng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Giám sát hoạt động của các cấp uỷ đảng, hành vi của cán bộ đảng viên,
của công chức, hoạt động của đại biểu trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ
và quyền hạn của mình.
Phản biện xã hội đối với các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành. Cụ thể là chủ trương, đường lối,
đề án của Đảng cũng như tổ chức Đảng của các cấp, chính sách, pháp luật, đề
án chương trình, kế hoạch, biện pháp điều hành của Nhà nước và cơ quan nhà
nước các cấp.
Thứ tư, phạm vi giám sát và phản biện xã hội.
Giám sát việc thực hiện chức trác quản lý xã hội, quản lý nhà nước, việc
thực hiện nhiệm vụ của các cấp uỷ đảng, cán bộ, đảng viên, của các đại biểu dân
cư. Phạm vi phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là các dự thảo, chính
sách, pháp luật liên quan đến quốc dân sinh. Cụ thể là dự thảo đường lối chủ
22
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền và
nghĩa vụ cơ bản của người dân ; đến tổ chức và cán bộ, đến quyền và trách
nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức chính trị –xã hội.
Từ quan niệm và vai trò giám sát và phản biện xã hội có thể thấy Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đang dần giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị
và là cầu lối, là kênh thông tin giữa người dân với Đảng và Nhà nước.
3. Giám sát, phản biện xã hội – nội dung chính của việc kiểm soát
quyền lực chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và
thể, tại mục 2, Điều12, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nêu ra hình thức
hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau :
"a, Đảng viên nhân dân thực hiện quyền giám sát ;
b, Tham gia hoạt động giám sát với cơ quan quyền lực nhà nước;
c, Thông qua hoạt động của mình tổng hợp ý kiến của nhân dân và các
thành viên của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu
dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét, giải quyết xử lý những trường
hợp vi phạm pháp luật”.
4. Vai trò của giám sát và phản biện xã hội trong hệ thống chính trị nước ta
hiện nay
Trong điều kiện nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam là một Đảng duy nhất
cầm quyền, thì việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đang là
một yêu cầu đặt ra nhằm hạn chế hiện tượng lộng quyền, lạm quyền, vi phạm
dân chủ. Từ phương diện kiểm soát quyền lực, có thể thấy, giám sát và phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực chất là một trong những
phương thức kiểm soát quyền lực của Mặt trận đối với Đảng, Nhà nước. Điều
này có vai trò rất to lớn góp phần hạn chế sai lầm và tha hoá quyền lực.
Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được
thể hiện chủ yếu ở:
- Giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần quan
trọng vào công tác xây dựng Đảng, góp phần để đảng mạnh lên, vừa củng cố
vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa góp phần hạn chế những thiếu sót, sai lầm có thể
xảy ra trong điều kiện một Đảng Cộng sản cầm quyền.
Lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, Nghị quyết, quan điểm là một trong
những nội dung cấu thành những thành phương thức lãnh đạo của Đảng. Đường
lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng định hướng cho hoạt động của hệ thống
25