BÀI 19
ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC TRONG XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích chọn đề tài
Cách đây 74 năm, ngay sau khi dr Cộng sản Đông Dương vừa mới
thành lập, ngày 18 tháng 11 năm 1930, Ban thường vụ TW Đảng đã thông
qua một số văn kiện lịch sử quan trọng đó là bản chỉ thị về việc thành lập hội
phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của mặt trận dân tộc thống nhất Việt
Nam. Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, các hình thức tổ
chức mặt trận đã lần lượt ra đời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ
cách mạng. Đó là hội phản đế Đồng Minh (1930); Mặt trận dân chủ Đông
Dương (1939); Mặt trận Việt Minh (1941); Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam
(1946); Mặt trận liên Việt (1951); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955); Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam (1960); Liên minh các lực lượng dân tộc,
dân chủ và hoà bình Việt Nam (1968); Mặt trận Tổ quốc của một nước Việt
Nam thống nhất (từ 1977 đến nay).
Năm tháng sẽ qua đi nhưng lịch sử vẻ vang của Mặt trận dân tộc thống
nhất Việt Nam sẽ mãi mãi gắn liền với lịch sử vinh quang của Đảng ta, của
dân tộc ta. So với lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc thì lịch sử hơn 70 năm
tồn tại và không ngừng lớn mạnh của dân tộc thống nhất Việt Nam chỉ là
khoảnh khắc. Song chính trong thời gian ngắn ngủi ấy đã diễn ra những sự
kiện vô cùng lớn lao làm thay đổi hẳn bộ mặt của nước ta, của nhân dân ta.
Đó là thắng lợi của cách mạng tháng 8 (1945); là chiến thắng Điện Biên Phủ
(1954); là đại thắng mùa xuân thống nhất nước nhà (1975), và những thành
quả rất quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế - xã hội, đưa nhân dân ta từng bước tiến lên Xã hội chủ nghĩa. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặt trận dân tộc thanh niên Việt Nam
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
1. Khái niệm
1.1. Khái niệm về tổ chức chính trị xã hội
Trong những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, ngoài Nhà nước và
các Đảng chính trị còn có các tổ chức chính trị xã hội. Hoạt động của các tổ
chức chính trị - xã hội có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc hình thành quyền
lực chính trị của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội.
“Các tổ chức chính trị - xã hội là những tổ chức có liên hợp tự nguyện
của những cộng đồng người xây dựng theo nguyên tắc tự quản và chủ động,
nhằm bảo vệ lợi ích những thành viên trong cộng đồng người đó”.
Sự ra đời của các tổ chức chính trị - xã hội do yêu cầu khách quan thực
sự của cuộc sống con người, do vậy chức năng của nó mang tính khách quan.
Có nghĩa là nó ra đời là do các công dân tự nguyện lập lên nhằm thoả mãn
nhu cầu, lợi ích chung của các thành viên, một tập hợp công dân.
Những mục tiêu mà tổ chức chính trị - xã hội đề ra là những mục tiêu
vừa thiết thực với mỗi bản than hội viên, vừa đáp ứng nhu cầu chung của đất
nước, của xã hội, của cách mạng. Ở mức độ hẹp nó là lợi ích kinh tế hoặc tình
cảm nhân đạo, hữu nghị, nhưng ở mức độ rộng, nó lại đáp ứng những mục
tiêu phát triển xã hội.
Khi các cá nhân tự nguyện vào hội, các tổ chức đó thường xuyên cung
cấp các kiến thức và phương pháp cho các hội viên hoạt động, xây dựng và
bồi dưỡng các chuyên gia hàng đầu, các mô hình cho các hội viên noi theo.
Để thực hiện hiệu quả chức năng này, hầu hết các tổ chức đều có trụ sở làm
việc, các cơ quan ngôn luận để mở rộng mọi nguồn thông tin, nâng cao trình
độ cho các thành viên, tuyên truyền thu hút them người vào tổ chức của
mình… Chất keo làm lên tổ chức chính trị là việc kết nợ chặt chẽ lợi ích của
các thành viên với lợi ích của tập thể và lợi ích xã hội.
4
phù hợp với nhiệm vụ cách mạng và lợi ích cơ bản của lực lượng tham gia
5
liên minh. Mục tiêu chung trong giai đoạn cách mạng hiện nay là giữ vững
độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu tiến lên dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ
văn minh.
Mặt trận Tổ quốc là tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, nơi thể hiện ý
chí, nguyện vọng chính đáng và hợp pháp của mọi tầng lớp nhân dân trong
xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước các cấp ngày
càng trong sạch, vững mạnh; Mặt trận Tổ quốc là cầu nối thắt chặt mối quan
hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Thông qua Đảng và Nhà nước lắng
nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân để xây dựng và hoàn thiện đường lối,
chủ trương, chính sách, luật pháp, đồng thời đưa chủ trương, đường lối,
chính sách, luật pháp đến với các tầng lớp nhân dân, biến thành phong trào
hành động thực tế của quần chúng, vận động nhân dân thực hiện đường lối,
chính sách đối nội, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Mặt trận Tổ quốc góp phần thực hiện chức năng giám sát của nhân dân
đối với công tác và đạo đức, lối sống của Đảng viên, cán bộ, công chức, các
đại biểu dân cư và các cơ quan Nhà nước góp phần tích cực giải quyết những
mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Xét về tính chất của tổ chức thì Mặt trận Tổ quốc là một tổ chức hiệp
thương cao nhất của cả nước, nơi phối hợp thống nhất hành động của các tổ
chức thành viên. Nếu Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất thì Mặt trận Tổ
quốc là tổ chức hiệp thương cao nhất, vì nó có chức năng hiệp thương để tiến
hành bầu cử ra các đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.
Không có một tổ chức chính trị - xã hội nào phản ánh dân được ý kiến nhiều
chiều, đa dạng, phong phú của tất thảy các tầng lớp nhân dân rộng rãi như
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
người Pháp thực hiện cải cách chẳng khác gì “đến xin giặc rủ long thương”,
chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp khác nào
“đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám
tuy thực tế hơn nhưng cũng không có lối thoát đúng đắn rõ rang. Như chủ tịch
Hồ Chí Minh đúc kết: “Việc lớn chưa thành công không phải vì đế quốc mạnh
mà vì nhân dân ta chưa hiệp lực, đồng tâm”.
7
Với lòng nhiệt huyết và tài năng, Nguyễn Ái Quốc bôn ba tìm đường
cứu nước; cách mạng tháng Mười Nga và đặc biệt luận cương về vấn đề dân
tộc và thuộc địa của Lênin đã tạo sự chuyển biến về nhận thức của Người. Từ
đó Người đã tham gia hoạt động cách mạng ở quốc tế rồi truyền bá chủ nghĩa
Mác – Lênin vào nước ta.
Bằng nhiều hành động khác nhau tranh thủ và tận dụng mọi điều kiện
cho phép Nguyễn Ái Quốc đã mang hết tâm trí để đấu tranh và tập hợp lực
lượng; liên kết liên minh và phối hợp đấu tranh giữa nhân dân lao động ở chính
quốc với các dân tộc thuộc địa. Trong những năm 20 của thế kỷ XX Người đã
tham gia vào Đảng Cộng sản Pháp; năm 1923 tham dự Đại hội quốc tế nông
dân; 1924 dự Đại hội quốc tế phụ nữ… Người đã khẳng định sức mạnh to lớn
của lực lượng đoàn kết toàn dân, sức mạnh “dân khí” hơn mọi thứ vũ khí: “dân
khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”.
Với sự truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước mạnh mẽ đã
làm thay đổi nhận thức của giai cấp công nhân chuyển từ đấu tranh tự phát
sang đấu tranh tự giác. Phong trào cách mạng cũng đã lên cao để đến cuối
1929 đã có ba tổ chức Đảng được thành lập không những là nền móng cho
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mà còn tạo cơ sở cho sự hình thành Mặt trận
Tổ quốc thống nhất.
2.2. Quá trình hình thành Mặt trận thống nhất phản đế
đúng đắn đó góp phần quan trọng làm dấy lên cao trào cách mạng trong cả
nước, có tác dụng rèn luyện lực lượng cho cách mạng tháng Tám sau này.
2.3 Chủ trương lập Mặt trận dân chủ
Đầu 1936 chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp đã ra nhiều chính sách
dân chủ có điều kiện thuận lợi cho cách mạng phát triển, bên cạnh đó là sự
chống đối của bọn tay sai phản động và đế quốc Pháp. Trước tình hình đó,
tháng 4 – 1936 ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi
thư cho Việt Nam Quốc Dân Đảng, các nhóm và các phe phái cách mạng, các
hội phản đế, tổ chức cải lương… để cùng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và tay
sai phản động, nhiệm vụ không thể tránh khỏi là liên kết lại để thành lập Mặt
9
trận nhân dân thống nhất, bỏ qua mọi hiểu lầm, tập trung lực lượng vào cùng
một phong trào phản đế. Chính sách lập Mặt trận nhân dân phản đế không phải
là chống người Pháp mà chỉ chống đế quốc Pháp, thực hiện dân chủ cho xứ
Đông Dương. Còn vấn đề độc lập hay tự trị thì phải dựa vào hành động thống
nhất của nhân dân Đông Dương. Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế hoạt
động công khai để có cơ sở quần chúng rộng rãi. Qua sự chuyển hướng và từng
bước hoàn chỉnh nhận thức của Đảng về công tác Mặt trận; cho thấy tính năng
động và thực tiễn của những người cách mạng Việt Nam khi quan niệm “một
chính Đảng không thể biết tuỳ theo hoàn chủ nghĩa Mác – Lênin mà thay đổi
chính sách thì không bao giờ làm xong mục đích của cuộc cách mệnh”.
Thời kỳ này đấu tranh công khai rất sôi động khẳng định sự chuyển
hướng đúng đắn và kịp thời của Đảng Cộng sản Đông Dương kể từ khi hội
nghị trung ương 7 – 1936 đến tháng 3 – 1937. Hội nghị ban chấp hành trung
ương Đảng họp để kiểm điểm và đánh giá tình hình để có bước điều chỉnh kịp
thời, khắc phục những sai sót đã mắc phải. Tháng 9 – 1937 Đảng quyết định
lập: công hội, nông hội thay cho hội cứu tế đỏ, công hội đỏ, nông hội đỏ…
đồng thời chủ trương đẩy mạnh việc lập các Hội quần chúng công khai và
2.4. Thành lập Mặt trận Việt minh nhằm thức tỉnh tinh thần dân tộc
Năm 1941, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều chuyển biến. Ở
bên trong Nhật, Pháp thi nhau đàn áp, vơ vét làm cho nhân dân kể cả các tầng
lớp tư sản, địa chủ, trí thức cũng phẫn uất và đẩy họ ngả về phía phe cách
mạng. Trước tình hình này, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị trung ương
lần thứ 8 đưa ra chủ trương tạm gác khẩu lệnh cách mạng thổ địa chĩa mũi
nhọn vào Nhật, Pháp. Đó không phải là bỏ nhiệm vụ đền địa, cũng không phải
đi lùi một bước “mà chỉ bước một bước ngắn hơn để có sức mà bước dài hơn”.
Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề độc lập, tự do cho toàn dân
tộc thì quyền lợi của quốc gia, các đoàn thể còn chịu mãi “kiếp trâu ngựa”.
Hơn ai hết Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ nhiệm vụ cấp thiết là phải hiệu
triệu hết sự thống thiết, để thức tỉnh được tinh thần dân tộc. Cho nên Mặt trận
sẽ không gọi như trước mà dùng tên khác có tính dân tộc hơn, mãnh lực hiệu
triệu hơn. Do đó Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Nhật – Pháp lấy
tên là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.
11
Việc tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng và tổ chức các
hội cứu quốc đáp ứng yêu cầu cấp thiết của tầng lớp nhân dân. Đó là cở sở
thực tiễn để trung ương đánh giá tình hình và quyết định thành lập Mặt trận
Việt Minh.
Ngày 6 – 6 – 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc công bố thư kính cáo
đồng bào. Người kêu gọi “con lạc cháu hồng” đoàn kết để cứu giống nòi ra
khỏi nước sâu lửa nóng. Người khơi dậy truyền thống oanh liệt của các bậc
anh hùng và tinh thần yêu nước, đoàn kết đánh đuổi bọn xâm lược.
Đồng chí Trường Chinh cũng thay mặt trung ương Đảng để đưa ra
khẩu hiệu “dân tộc trên hết! Tổ quốc trên hết!”. Phong trào Việt Minh nhanh
chóng lan rộng, Cao Bằng trở thành trung tâm cách mạng của cả nước. Ngày
lân cận) thực hiện 10 chính sách của Việt Minh là hình ảnh của nước Việt
Nam mới. Việt Minh đưa ra khẩu hiệu “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”, kêu
gọi hàng vạn nông dân chống phát xít Nhật và bù nhìn tay sai; Việt Minh còn
kêu gọi thực dân Pháp hợp tác đuổi Nhật nhưng nhiều tên thực dân còn giết
hại chiến sĩ của ta rất độc ác. Dù thế Việt Minh cũng đã thả người Pháp bị
Nhật giam ở Tam Đảo tháng 7 – 1945 và giúp họ chạy qua biên giới.
Đầu tháng 8 – 1945 trục phát xít đã tê liệt hoàn toàn. Giờ quyết định cho
vận mệnh dân tộc ta đã điểm, hãy đứng dậy “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
Thời cuộc chuyển biến mau lẹ; Đảng ta đã “chớp thời cơ” này và ra quân lệnh
tổng khởi nghĩa, chỉ trong vòng gần hai tuần lễ, chính quyền của địch hoàn
toàn sụp đổ, các uỷ ban nhân dân lâm thời thành lập và ra mắt nhân dân.
Ngày 25 – 8 – 1945 chủ tịnh Hồ Chí Minh từ chiến khu về tới Hà Nội
chuẩn bị cho việc chính phủ ra mắt đồng bào; 26 – 8 – 1945 Người đề nghị
mở rộng thành phần chính phủ và công bố danh sách chính phủ và việc đồng
chí Nguyễn Lương Bằng và một số đồng chí khác tự nguyện rời chính phủ để
các nhân sĩ yêu nước ngoài Việt Minh vào chính phủ được chính chủ tịch Hồ
Chí Minh nhận xét: “là mọt cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị,
đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”. Ngày
30 – 8 – 1945 đồng chí Nguyễn Lương Bằng dẫn đại biểu của tổng bộ Việt
Minh vào Huế chứng kiến vua Bảo Đại thoái vị.
13
2.5.Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) thành lập và hoạt
động của Mặt trận Việt Minh, Liên Việt
Trong tình hình mới, qua thực tiễn đấu tranh cho độc lập và dân chủ, uy
tín của Bác Hồ có sức tập hợp rất lớn đối với các giai tầng trước kia chưa
quan hệ với Việt Minh vì mặc cảm nào đó, nay muốn tham gia một tổ chức
thích hợp để góp sức mình cho nước nhà.
Đáp ứng yêu cầu mới này của Mặt trận dân tộc thống nhất thì Bác Hồ
đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ 7 – 5 – 1954.
2.6. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận giải phóng Miền Nam
Việt Nam phát huy sức mạnh đoàn kết tiến tới thống nhất đất nước
* Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam, từ tháng 9- 1954 là đất
nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ
chiến lược, nhưng đều có mục tiêu chung là hoàn thành giải phóng dân tộc.
Mặt trận Liên Việt hoàn thành sứ mệnh lịch sử đoàn kết toàn dân
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đến nay nhiệm vụ chung của cả
nước và của mỗi miền đã thay đổi, vì vậy cần phải có Mặt trận mới thích
hợp, thu hút tất cả mọi tổ chức và cá nhân yêu nước và tiến bộ, nhất là
những người ở vùng mới giải phóng.
Miền Bắc nhiệm vụ hiện nay là Bảo vệ Tổ quốc, xây dựng xã hội chủ
nghĩa. Sau một thời gian vận động từ ngày 5 đến 10 – 9 – 1954 đại hội Mặt
trận thống nhất Việt Nam đã họp ở Hà Nội quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam với khả năng tập hợp rộng rãi lực lượng, hơn 30 Đảng phái
chính trị, đoàn thể và nhiều tổ chức cá nhân gia nhập Mặt trận, “làm nó trở
thành tổ chức chính trị rộng lớn trong sự nghiệp cách mạng của toàn dân”.
Mặt trận đã hoạt động rất tích cực trong việc tham gia khôi phục kinh tế
và phát triển văn hoá, hàn gắn vết thương chiến tranh và làm hậu phương
vững chắc cho chiến trường miền Nam Việt Nam với các phong trào diệt
“giặc dốt”, “giặc đói” mà chất lượng cuộc sống và trình độ của nhân dân đã
có kết quả tốt đẹp. Công nghiệp và nông nghiệp cũng được đầu tư phát triển
cho nên đã đạt được sản lượng và năng suất cao. Nhân dân có quyền tự
nguyện tham gia mọi hoạt động sản xuất, văn hóa, chính trị. Đây là điều kiện
thiết yếu để khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng rộng lớn.
15
Với vai trò xây dựng xã hội chủ nghĩa và hàn gắn vết thương chiến
* Với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân
dân ta đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và
cùng đi lên chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ đất nước chia ra làm hai miền mỗi
miền thực hiện một nhiệm vụ của mình để đi đến cuối cùng là thống nhất đất
nước. Nhưng việc thống nhất các tổ chức Mặt trận là nguyện vọng, là đòi hỏi
tất yếu sau khi đất nước giành độc lập.
Yêu cầu hiện nay là thành lập một Mặt trận duy nhất. Đại hội Mặt trận
dân tộc thống nhất Việt Nam họp tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31 – 1 đến
ngày 4 – 2 – 1977. Đại hội đã nhất trí quyết định thống nhất các tổ chức Mặt trận
ở hai miền thành một Mặt trận chung lấy tên lf Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Cơ cấu tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Với vai trò là tổ chức có khả năng tập hợp đông đảo các lực lượng cho
nên thành phần cấu thành nên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng rất đa dạng,
phong phú với các tổ chức thành viên:
3.1. Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam do chính chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và
rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng tháng 8 thành công, lập
nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay lf nghiên cứu Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế
độ thực dân, phong kiến hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất
đất nước, tiến hành công cuộc khởi nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
3.2. Quân đội nhân dân Việt Nam
Là bộ phận chủ yếu của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.
Quân đội nhân dân Việt Nam sinh ra và lớn lên trong chiến tranh cách
mạng sôi nổi, rộng khắp và liên tục, là đội quân công – nông mang bản
chất công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế thừa
Nam. Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của liên
đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế và liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN.
18
3.7. Hội cựu chiến binh Việt Nam
Hội cựu chiến binh Việt Nam là một đoàn thể chính trị - xã hội, thành
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân
dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, hiến pháp,
pháp luật của Nhà nước và điều lệ của hội.
3.8. Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam
Tập hợp đoàn kết trí thức khoa học và công nghệ trong cả nước; áp
dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống.
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội nhằm góp phần xây dựng cơ sở
khoa học cho việc phát triển khoa học – công nghệ, kinh tế - xã hội, tăng
cường an ninh và quốc phòng cả Đảng và Nhà nước.
3.9. Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam
Là tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, là Mặt trận của các hội văn
học, nghệ thuật trong cả nước gồm: các hội văn học nghệ thuật chuyên ngành
toàn quốc và các hội văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố.
3.10. Liên hiệp các tổ chức hoà bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam
Là tổ chức chính trị - xã hội trên phạm vi cả nước, có chức năng xây
dựng và phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam
với nhân dân các nước trên thế giới.
Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam có các tổ chức thành viên là
các tổ chức hữu nghị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
3.11. Hội luật gia Việt Nam
Là tổ chức chính trị - xã hội đoàn thể thống nhất của những công nhân
đông y. Hội tập hợp và đoàn kết những người làm nghề y dược đông y
Việt Nam, tự nguyện đem khả năng, kiến thức và kinh nghiệm chuyên
môn cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, hội phối hợp với
các ngành y tế để kế thừa, phát huy và phát triển đông y Việt Nam. Kết
hợp chặt chẽ đông y với tây y để phục vụ sức khoẻ nhân dân trong sự
nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
20
3.17. Hội khoa học lịch sử học Việt Nam
Hội sử học là tổ chức xã hội nghề nghiệp của công dân Việt Nam hoạt
động trong các ngành khoa học lịch sử và những ngành có liên quan mật thiết.
Mục đích của hội là tập hợp đoàn kết và giúp đỡ nhau nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn bảo vệ quyền lợi cho hội viên, góp phần phát triển khoa học lịch
sử Việt Nam, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc.
3.18. Uỷ ban đoàn kết công giáo Việt Nam
Là một tổ chức thành viên của uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, hoạt động theo hiến pháp và pháp luật của nước cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, trụ sở tại Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
3.19. Giáo hội phật giáo Việt Nam
Được viết tắt là GHPGVN hay hiệu của giáo hội phật giáo Việt Nam
hình tròn ở giữa vòng tròn có hoa sen trắng, trên nền xanh lá cây đậm vương
gương sen, 8 hột; vòng ngoài có chữ “giáo hội phật giáo Việt Nam” màu
trắng. Trụ sở của giáo hội đặt tại chùa Quán Sứ, số 73 phố Quán Sứ Hà Nội.
3.20. Tổng hội thánh tin lành Việt Nam
Mục đích của hội thánh tin lành là hội họp những người Việt Nam có
Hội là tổ chức quần chúng đoàn kết tập hợp những công dân Việt Nam
trong và ngoài nước không phân biệt nam, nữ, tôn giáo, tự nguyện ủng hộ cho
chương trình sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hó gia đình Việt Nam.
3.26. Hội người cao tuổi Việt Nam
Là tổ chức xã hội của người cao tuổi Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo và Nhà nước quản lý, hoạt động theo pháp luật của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3.27. Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt Nam
22
Là tổ chức xã hội từ thiện, hội tập hợp những người Việt Nam, tự
nguyện góp phần vào sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh” vì lợi ích của người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt Nam.
3.28. Hội khuyến học Việt Nam
Là tổ chức tự nguyện của mọi người Việt Nam tích cực tham gia phong
trào “trồng người”, tham gia xã hội hoá giáo dục, nâng cao dân trí, bồi dưỡng
người tài cho đất nước.
3.29. Hội châm cứu Việt Nam
Là tổ chức nghề nghiệp theo y học cổ truyền không dùng thuốc trong
ngành y tế - công và tư, đang tại chức hay về hưu góp phần chăm sóc quân,
dân xây dựng nền y học Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3.30. Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài
Là tổ chức rộng rãi, tự nguyện.
3.31. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
Là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp,
người sử dụng lao động và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp góp phần
hợp tác quốc tế, phát triển thương mại mà trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi.
3.32. Hội nạn nhân chất độc da cam – Đioxin Việt Nam
Bằng sức mạnh của mấy ngàn năm văn hiến, bằng ý chí sắt đá của cả
dân tộc “thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”. Đó là bản thiên anh hùng ca của cả dân tộc Việt Nam.
Ngày nay vượt qua khó khăn trong nước và ngoài những thách thức do
tình hình thế giới diễn biến phức tạp, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam và Mặt trận rộng rãi, đất nước ta ngày càng phát triển, dân chủ ngày
càng mở rộng, quan hệ hữu nghị hợp tác ngày càng không ngừng phát triển.
24
Đạt được những thành tựu đó là do công sức của nhân dân, của mọi người dân
Việt Nam yêu nước thuộc các giai cấp, các tầng lớp xã hội các dân tộc, các
tôn giáo, từ miền ngược đến miền xuôi, từ thành thị đến nông thôn, đồng bào
trong nước và đồng bào sinh sống ở nước ngoài; mọi người đều đồng tâm
nhất trí, đoàn kết chặt chẽ, hăng hái thực hiện đường lối, chính sách pháp luật
của Đảng và Nhà nước.
Là dân tộc đã từng trải qua những hy sinh to lớn trong chiến tranh và
những nỗ lực vượt bậc trong xây dựng, nhân dân Việt Nam có nguyện vọng
một cuộc sống độc lập tự do, hạnh phúc. Nhưng con đường này còn nhiều
chông gai, thử thách. Hiện nay nước ta vẫn còn trong tình trạng nghèo nàn lạc
hậu, thu nhập thấp hơn so với các nước trên thế giới và trong khu vực, mất ổn
định như tham nhũng, buôn lậu, các tệ nạn xã hội khác làm cho tình hình càng
thêm phức tạp. Sinh thời, Bác Hồ thường nhắc nhở: “dẫu trăm lần không dân
cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”; hơn lúc nào hết chúng ta phải ra
sức xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân cả nhân dân trong nước
và ở nước ngoài trong đại gia đình dân tộc Việt Nam để thực hiện mục tiêu
cao cả: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Liên mịnh công nhân, nông dân, trí thức nước ta là lực lượng chủ yếu
trong Mặt trận, làm nòng cốt tập hợp, động viên mạnh để tiến hành thắng lợi