Quy trình lập hiến và vai trò của quy trình lập hiến trong xây dựng Nhà nước pháp quyền pot - Pdf 15

Quy trình lập hiến và vai trò của quy trình lập
hiến trong xây dựng Nhà nước pháp quyền
Ban hành Hiến pháp hay sửa đổi Hiến pháp là một công việc rất cẩn trọng,
phải phân biệt rõ ràng các vấn đề thuộc nội dung Hiến pháp và các vấn đề
thuộc nội dung lập pháp thông thường. Sự khó khăn của quy trình nhằm hạn
chế sự tuỳ tiện của việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, tạo điều kiện để nhân
dân bày tỏ ý chí của mình trong Hiến pháp - đạo luật thiết lập nền tảng cho
một quốc gia.
Quy trình lập hiến hiểu một cách đơn giản - là trình tự, thủ tục mà các chủ
thể có quyền lập hiến phải tuân theo trong quá trình ban hành hoặc sửa đổi
Hiến pháp
Quy trình lập hiến về cơ bản khác với quy trình lập pháp ở một số điểm cơ bản.
Một là, quy trình lập hiến phải do Hiến pháp quy định. Hiến pháp của nhiều nước
quy định lập hiến là một nội dung “cứng” không được sửa đổi khi tiến hành sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp. Bởi, Hiến pháp được xem là một khế ước xã hội, một văn
bản của nhân dân, “là một bộ phận của quyền lập hiến, quyền sửa đổi một hiến
pháp sau khi nó đã được chấp nhận và thông qua bởi nhân dân, cũng là một quyền
nguyên thủy chỉ có thể được hành xử bởi nhân dân một cách trực tiếp hoặc bởi
một hội đồng lập hiến đặc biệt được ủy quyền sửa đổi Hiến pháp”. Do vậy, Hiến
pháp không thể được sửa đổi một cách đơn phương bởi Nhà nước – nó được Hiến
pháp quy định như một trình tự, thủ tục đã được nhân dân ưng chuẩn.
Hai là, quy trình lập hiến ở các nước theo mô hình Hiến pháp cương tính, hay
Hiến pháp nhu tính thì thủ tục ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp đều khó khăn,
phức tạp bao gồm những quy định chặt chẽ, ngặt nghèo hơn so với việc ban hành
hay sửa đổi một đạo luật thông thường. Điều đó bắt nguồn từ tính chất của Hiến
pháp là một văn bản thiết lập các quan hệ nền tảng của một quốc gia, thể hiện sự
cam kết đối với chủ quyền của nhân dân. Vì vậy, ban hành Hiến pháp hay sửa đổi
Hiến pháp là một công việc rất cẩn trọng, phải phân biệt rõ ràng các vấn đề thuộc
nội dung Hiến pháp và các vấn đề thuộc nội dung lập pháp thông thường. Sự khó
khăn của quy trình nhằm hạn chế sự tùy tiện của việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp,
tạo điều kiện để nhân dân bày tỏ ý chí của mình trong Hiến pháp – đạo luật thiết

và phản hồi ý kiến của cơ quan soạn thảo.
Giai đoạn thứ tư là thảo luận thông qua Hiến pháp tại Quốc hội (Nghị viện), dự
thảo Hiến pháp được Quốc hội thông qua thường quy định ít nhất có 2/3 trở lên số
đại biểu đồng ý.
Sau khi được Nghị viện thông qua, ngày nay, một xu hướng phổ biến trong quy
trình lập hiến của nhiều nước là tiến hành trưng cầu dân ý. Những điều khoản
được soạn thảo sau khi phê chuẩn trong một cuộc trưng cầu dân ý trên toàn quốc.
Hiến pháp năm 1946 ở nước ta quy định theo cách thức này.
Việc sửa đổi Hiến pháp khác với làm một bản Hiến pháp mới. Sửa đổi Hiến pháp
là một quyền lực có giới hạn. Còn làm Hiến pháp mới là một quyền lực nguyên
thủy nên không có giới hạn, nghĩa là nhà lập hiến không bị ràng buộc bởi một thủ
tục pháp lý nào, việc sửa Hiến pháp phải tuân theo thủ tục đã được Hiến pháp quy
định. Nói cách khác, việc sửa Hiến pháp là một quyền lực Hiến định nên bị giới
hạn của Hiến pháp. Quyền sửa đổi Hiến pháp chỉ bao gồm quyền thay đổi, bổ
sung, mở rộng, loại bỏ những điều khoản của Hiến pháp nhưng vẫn giữ lại bản
thân bản Hiến pháp. Đúng như một nhà nghiên cứu luật Hiến pháp người Đức Carl
Sehmitt đã viết “trong khi sửa đổi Hiến pháp, bản sắc và tính chỉnh thể của Hiến
pháp phải được giữ lại”. Điều đó có nghĩa là hệ thống chính trị bao gồm hình thức
chính thể nhà nước, chế độ chính trị không được thay đổi trong khi sửa đổi Hiến
pháp. Vì thế, các Hiến pháp ngày nay thường có các quy định đặt ra các giới hạn
đối với việc sửa đổi Hiến pháp, để khi tiến hành sửa đổi không thể tùy tiện. Đây
cũng là một nội dung của quy trình lập hiến. Ví dụ Hiến pháp của nền cộng hòa
thứ 5 của Pháp (năm 1958) quy định chính thể cộng hòa không thể được sửa đổi.
Quy trình lập hiến nói chung, quy trình sửa đổi Hiến pháp nói riêng có vai
trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền
Trước hết, Nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng và đề cao Hiến pháp trong
tổ chức và hoạt động của đời sống nhà nước và đời sống xã hội, trong việc bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ an ninh, an toàn cho cuộc sống con
người. Theo đó, đòi hỏi chất lượng của Hiến pháp phải cao, phải hoàn hảo về nội
dung và hình thức thể hiện, phải tồn tại được lâu dài để bảo đảm được sự phát

thái độ tôn trọng chủ quyền của nhân dân.
Với vai trò quan trọng của quy trình lập hiến như nói trên, việc hoàn thiện quy
trình lập hiến ở nước ta là một tất yếu khách quan trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN. Tính tất yếu khác quan đó, bắt nguồn từ các đòi hỏi sau:
một là, quy trình lập hiến hiện hành còn quá đơn giản, không đầy đủ, và không cụ
thể, chủ quyền nhân dân trong việc thực hiện quy trình còn mang tính hình thức.
Theo đó, hoàn thiện quy trình phải hướng tới khắc phục các khiếm khuyết này.
Hai là, hoàn thiện quy trình lập hiến là một đòi hỏi tất yếu của quá trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN nhằm hoàn thiện một bản Hiến pháp thể hiện sâu
sắc dân chủ XHCN, một bản Hiến pháp của dân, do dân, vì dân; một bản Hiến
pháp hoàn hảo cả về nội dung lẫn hình thức; bảo đảm cho nó giữ được vị trí tối
thượng trong đời sống Nhà nước và đời sống xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status