tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước và sự vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp quyền việt nam - Pdf 22

Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước và sự vận dụng trong xây dựng nhà nước
pháp quyền việt nam
Trong quá trình học tập và trau dồi kiến thức về chính trị - pháp lý ở trường Đại
học Luật Hà Nội, có một vấn đề đã làm chúng em hết sức băn khoăn.
Tại sao Điều 16 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp
lại nhấn mạnh rằng : "Một xã hội trong đó không bảo đảm việc sử dụng các quyền
và không thực hiện sự phân quyền thì không có Hiến pháp"(1); hay tại sao Điều 13
của Tuyên ngôn về chủ quyền quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Xôviết Liên bang Nga lại khẳng định: "Việc phân công các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga như là một nhà nước pháp
quyền"(2) ?
Việc chưa biết gì nhiều về tư tưởng phân chia quyền lực, và việc không thể dùng
những kiến thức đã có của mình để giải thích cho mối liên hệ giữa tư tưởng này
với công cuộc xây dựng một xã hội tôn trọng pháp luật, một nhà nước pháp quyền
đã thực sự cuốn hút chúng em để tâm tìm hiểu và nghiên cứu.
Với sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của các thầy cô giảng viên bộ môn Lý luận Nhà
nước và Pháp luật, khoa Luật Hành chính - Nhà nước, trường Đại học Luật Hà
Nội, chúng em đã rút ra được những bài học rất quý báu.
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân - một nhiệm vụ đã được Đảng ta đề ra trong các Văn
kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, và X, thì việc vận dụng những
hạt nhân tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong tổ chức và xây dựng bộ máy
nhà nước Việt Nam theo hướng dân chủ, tiến bộ, khoa học và nhân đạo là điều tất
yếu. Điều đó đã được thể hiện rõ trong Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng: " Nhà nước ta
là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp
quyềncủa dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp"(1).
Bởi vậy, với mong muốn là góp thêm một vài dòng vào bên cạnh những công trình

các giai cấp thống trị xã hội tổ chức và thực hiện; 4) Được bảo đảm thực hiện
bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước." (1)
Trong một xã hội có giai cấp, quyền lực nhà nước là sức mạnh có tính bao trùm
rộng lớn nhất, quan trọng nhất, có khả năng khống chế và bắt buộc mọi cá nhân, tổ
chức, lực lượng trong xã hội phải phục tùng ý chí của mình.
_____________
(1) Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách
khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nôi, 2006, tr.652, từ mục " quyền lực nhà nước ".
Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách thức thực hiện thứ
quyền lực này, nhưng tựu chung lại thì có hai quan điểm cơ bản, đó là tập
quyền và phân quyền.
Tập quyền là "nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thể hiện việc tập trung
quyền lực vào tay một người hoặc một cơ quan"(1).
Trong chế độ quân chủ chuyên chế, mọi quyền lực nhà nước nằm hoàn toàn trong
tay nhà vua, ý chí của vua là luật pháp đối với thần dân, vua quản lý mọi công việc
hành chính của nhà nước, đồng thời vua cũng là vị quan toà tối cao. Các chức vụ
quan lại, đều do vua cắt cử hoặc bãi chức, chính là hệ thống những người có nhiệm
vụ thực thi các mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua.
Phân quyền, hiểu một cách đơn gian là trái với tập quyền, là nguyên tắc tổ chức
quyền lực nhà nước sao cho không một cá nhân hay cơ quan nào nắm trọn vẹn
quyền lực.
Nhà nước quân chủ nhị hợp là một dạng nhà nước phân quyền. Vua nắm toàn
quyền hành pháp với quyền hạn thành lập và điều hành Chính phủ, nhưng lại
không được tham gia vào công việc lập pháp, là quyền được Hiến pháp giao cho cơ
quan đại diện nhân dân (có thể là cơ quan đại diện đẳng cấp hoặc Nghị viện), cũng
như không nắm quyền tư pháp - thứ quyền lực đã thuộc về cơ quan Toà án.
Trong nhà nước quân chủ đại nghị thì vua chỉ còn là một chức danh tượng trưng,
hình thức, không có thực quyền trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của quyền lực
nhà nước. Nghị viện nắm quyền lập pháp, quyền hành pháp nằm trong tay Chính
phủ do Nghị viện bầu ra, và Toà án nắm quyền tư pháp.

phân chia quyền lực, hay còn được gọi là học thuyết phân quyền.
Học thuyết phân chia quyền lực lần đầu tiên được nêu ra thành hệ thống lý luận
hoàn chỉnh vào năm 1689 bởi John Locke, trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về
Chính quyền hay Luận về Nguồn gốc, Phạm vi và Mục đích chân chính của Chính
quyền dân sự; và được phát triển hoàn thiện bởi Charles Louis Montesquieu với tác
phẩm De L'esprit des Lois (Bàn về tinh thần Pháp luật),xuất bản năm 1748 ở Paris.
Nhà nước đầu tiên trên thế giới mà trong hiến pháp công nhận thực hiện nguyên
tắc phân chia quyền lực giữa các cơ quan nhà nước là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với
bản Hiến pháp năm 1787.
Nhưng đó không phải là lần đầu tiên con người tìm đến nguyên tắc này như một
cách thức hữu hiệu để xây dựng bộ máy nhà nước, chống lại sự lạm quyền của
những người cai trị. Mầm mống của tư tưởng phân quyền đã xuất hiện ngay từ
những xã hội sơ khai đầu tiên của nhân loại.
_____________
(1) Hiến pháp Việt Nam ( Năm 1946, 1959, 1980, 1992 ), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, năm 1995, tr.102 và tr.163
(2) Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, Approved by the National
Assembly of France, 1789, translate by Marquis de Lafayette and Thomas
Jefferson
(3) TS Trần Hậu Thành: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Lý luận chính trị,
Hà Nội, năm 2005, tr.225 - 226
1. Tư tưởng phân chia quyền lực trong thời kỳ cổ đại.
Aristote ( 384 - 322 TCN ) - bộ óc bách khoa nhất của thế giới cổ đại, là người đầu
tiên đề cập tới việc phân chia quyền lực trong các nhà nước. Trong tác
phẩm Politics ( Chính trị ) được viết từ cơ sở nghiên cứu tổ chức bộ máy nhà nước
của 158 quốc gia, ông cho rằng để đảm bảo sự công bằng trong dân chúng, để có
được những đạo luật công bằng thì nhà nước phải được tổ chức có quy củ, để có sự
quy củ này thì mọi nhà nước đều phải có "ba bộ phận: bộ phận tư vấn pháp lý về
hoạt động của nhà nước, bộ phận thứ hai là các toà thị chính, bộ phận thứ ba là

chất và đặc điểm các vụ việc mà toà án đó chuyên giải quyết. Về cách thức lựa
chọn các thẩm phán, ông cũng chỉ ra nhiều dạng tuỳ theo hình thức nhà nước: việc
mọi công dân đều có thể trở thành thẩm phán là đặc điểm của nhà nước dân chủ;
nếu chỉ có một số công dân thuộc những đẳng cấp nhất định mới có thể trở thành
thẩm phán thì đó là chế độ đầu sỏ chính trị; còn tuỳ theo từng vụ việc cụ thể mà
chọn thẩm phán trong nhân dân hay trong những người đặc biệt là biểu hiện của
chế độ quý tộc.
Dù là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đề cập tới vấn đề phân chia quyền
lực, nhưng tư tưởng này của Aristote vẫn chưa chứa đựng quan điểm phân chia
quyền lực theo tinh thần của thuyết phân chia quyền lực hiện đại, và ông mới chỉ
dừng lại ở mô tả bộ máy nhà nước mà chưa đi sâu, chỉ ra mối liên hệ giữa các cơ
quan nhà nước, cũng như chưa chỉ được ra nguyên nhân phải chia quyền lực nhà
nước thành các nhánh quyền lực như vậy.
Polybe và Cicéron là những người đã thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực qua
quan điểm về sự cai trị hỗn hợp.
Polybe ( khoảng 200 -120 TCN ) cho rằng một nhà nước lý tưởng là nhà nước hỗn
hợp của ba chính quyền - ba thế lực chính trị: chính quyền quốc vương, chính
quyền quý tộc và chính quyền nhân dân, mà theo quan điểm ngày nay đó chính là
ba thứ quyền lực: quyền hành pháp trong tay vua, quyền lập pháp trong tay viện
nguyên lão của giới quý tộc và quyền tư pháp thuộc về sự phán xét của dư luận
nhân dân. Polybe chỉ ra nhà nước tổng thể thực hiện quyền lực bằng cách nào, và
các chính quyền khác nhau trong nhà nước ấy bằng cách thức nào có thể cản trở,
kiềm chế nhau, hoặc ngược lại, bảo vệ và ủng hộ nhau. Khi một thế lực muốn vượt
quyền hạn của mình và gây phương hại tới lợi ích của các thế lực khác thì sẽ đụng
độ sự phản đối thích đáng từ các thế lực này, và kết quả là sẽ đạt đến một trật tự
đúng đắn, đảm bảo cho sự ổn định và vững mạnh của nhà nước tổng thể.
Cicéron ( 106 - 43 TCN ) - nhà lập pháp nổi tiếng của Roma thời kỳ Cộng hoà.
Trong tác phẩm Đối thoại, ông viết: " một phần quyền lực của nhà nước phải
được phân chia và trao cho uy thế của những người chiếm hàng đầu, còn một số
công việc phải dành cho nhân dân xét đoán và giải quyết "(1). Cicéron đã nghiên

thành một thành bang theo chế độ cộng hoà quý tộc chủ nô.
Trước đà phát triển của nền kinh tế công thương, năm 594 TCN, Solon - đang là
chấp chính quan của Athène, đã tiến hành một cuộc cải cách mang tính dân chủ
tiến bộ. Quan trọng nhất trong những cải cách về tổ chức bộ máy nhà nước của ông
là thành lập toà án nhân dân có nhiều bồi thẩm, cùng thảo luận xét xử để tránh sự
tuỳ tiện và tăng cường tính dân chủ.
Tiếp theo Solon là Clisthenes, và cuối cùng là hai thầy trò Ephialtes - Pericles đã
tiến hành những cuộc cải cách chính trị sâu rộng, từng bước dân chủ hoá bộ máy
nhà nước Athène, cũng như hạn chế quyền lực của Viện nguyên lão, đưa Viện
nguyên lão từ cơ quan nắm giữ mọi quyền lực nhà nước thành tổ chức chỉ có
quyền trong các hoạt động tôn giáo.
Cải cách của Pericles đã xây dựng bộ máy nhà nước Athène một cách hoàn thiện
nhất, bao gồm các cơ quan chủ yếu: Hội nghị công dân, Hội đồng 500 người, Toà
án nhân dân và Hội đồng 10 tướng lĩnh.
Hội nghị công dân ( người Hy Lạp gọi là Eccơlêdia ) là cơ quan quyền lực cao nhất
của thành bang, có quyền thảo luận và biểu quyết các vấn đề hệ trọng của đất nước,
thông qua hay phủ quyết các dự luật, chọn cử những viên chức nhà nước.
Eccơlêdia là đại hội của tất cả các công dân nam Athène tuổi từ 18 trở lên, họp
hàng tháng, và ít nhất là 10 lần trong một năm. Trong hội nghị, mọi công dân đều
có quyền đưa ra một dự án luật hoặc đề nghị bãi bỏ một điều luật hiện hành.
Hội nghị công dân bầu ra Hội đồng 500 người ( gọi là Bulê ) - là cơ quan hành
pháp của nhà nước. Bulê có nhiệm vụ thay mặt nhân dân thực hiện các công việc
hành chính của nhà nước trong suốt một năm. Ngoài ra Bulê còn có nhiệm vụ kiểm
tra tư cách công dân cũng như tư cách của các viên chức trong bộ máy nhà nước.
Hội đồng được chia thành 10 uỷ ban - Pơritani. Mỗi Pơritani có chức năng thường
trực thay mặt Bulê giải quyết các công việc hành chính hàng ngày trong nhiệm kỳ
1/10 năm ( khoảng từ 36 đến 39 ngày ).
Toà án nhân dân là cơ quan tư pháp của nhà nước có cơ cấu gồm 6000 thành viên,
do Hội nghị công dân bầu ra, vừa làm thẩm phán, vừa làm bồi thẩm trong nhiệm
kỳ một năm. Khi cần xét xử một vụ án cụ thể thì tiến hành bốc thăm trong số 6000

Đại hội bình dân Plebs ra đời muộn hơn các cơ quan khác của nhà nước Roma, là
kết quả của cuộc đấu tranh giữa các cư dân mới tới ( Plebs ) đòi hỏi phải có tiếng
nói của mình bên cạnh Đại hội nhân dân Centuries của cư dân Roma bản địa. Do
người Plebs chiếm tỉ lệ cao trong số cư dân Roma nên họ tự coi đại hội của mình là
đại hội của toàn thể cư dân Roma, những quyết nghị của đại hội này có hiệu lực
như pháp luật với toàn thể công dân Roma, nhưng Đại hội bình dân Plebs chỉ quyết
định các vấn đề liên quan tới các bộ lạc hay liên quan tới các đơn vị hành chính
lãnh thổ.
Viện nguyên lão ( Senate ) bao gồm 300 thành viên, là các quý tộc giàu có, hoạt
động theo nguyên tắc: Đại hội Centuries là cơ quan quyền lực tối cao, nhưng mọi
quyết định đều phải thông qua sự phê chuẩn của Viện nguyên lão; các quan chức
của bộ máy nhà nước cũng chỉ được bầu chọn từ những nghị viên của Viện, bởi
vậy, thực tế Viện nguyên lão chính là cơ quan đại diện thường trực của Đại hội
nhân dân Centuries để quyết định những vấn đề thường xuyên của nhà nước như:
hành chính, ngân sách, ngoại giao, lễ nghi tôn giáo
Hai chấp chính quan do Đại hội Centuries bầu ra nắm trong tay quyền hành pháp,
ngoài ra, còn có một số quyền lập pháp nhất định. Trong nhiệm kỳ 1 năm, nếu xảy
ra trường hợp Tổ quốc lâm nguy thì một trong hai chấp chính quan sẽ được chọn
cử làm Dictato - hay Độc tài, trong thời hạn 6 tháng. Trong thời gian này, Dictato
nắm giữ quyền hành tối cao về mọi vấn đề.
Hội đồng các quan bảo dân lúc đầu chỉ gồm 2 người, rồi là 4, 6 và 10 người, để
bảo vệ, bênh vực người dân trước những quyết định đi ngược lại lợi ích nhân dân
của Viện nguyên lão hay của các quan chấp chính, giám sát và có ý kiến đối với
những dự luật và việc làm của chính quyền Roma, ngoài ra còn giải quyết các vụ
án dân sự. Hội đồng này tương ứng với cơ quan tư pháp.
Theo thoả thuận giữa Viện nguyên lão với nhân dân, quyền lực và tư cách của các
quan bảo dân ( tribun ) là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Nằm bên cạnh các cơ
quan của nhà nước Cộng hoà, các quan bảo dân có quyền phủ quyết đối với mọi dự
luật hay đề án chính sách của Viện nguyên lão nếu xét thấy có hại cho nhân dân.
Quan bảo dân cũng có quyền tham dự và theo dõi các phiên họp của của Viện

đại nhất của nền triết học chính trị và chính trị học nhân loại, chính là nơi Locke
trực tiếp đưa ra học thuyết của mình về nhà nước - một học thuyết đan xen các tư
tưởng pháp quyền tự nhiên, khế ước xã hội và phân chia quyền lực.
Trong những chương đầu của tác phẩm, Locke giải thích cho sự ra đời của nhà
nước là từ một bản khế ước, khi những con người ở trạng thái tự nhiên chấp thuận
kết hợp bản thân mình vào cộng đồng quốc gia, và nhường những quyền tự nhiên
của mình cho nhà nước, nhằm mong muốn có được sự bảo vệ tài sản và bản thân
mình một cách ổn định. Từ đó, ông nêu cao yêu cầu nhà nước và pháp luật thực
định phải tôn trọng những quyền tự nhiên của con người, như là sự thực hiện đúng
những cam kết trong khế ước.
Về quyền lực nhà nước, Locke cho rằng đó là "quyền làm luật có án phạt tử hình,
và do đó, bao hàm tất cả những hình phạt thấp hơn, để quy định và bảo toàn sở
hữu, quy định và bảo toàn việc sử dụng vũ lực của cộng đồng khi thực thi các luật
này, trong việc phòng vệ của cộng đồng quốc gia trước những phương hại gây ra
từ nước ngoài; và tất cả những việc như thế chỉ duy nhất là vì lợi ích công"(1).
Từ quan điểm trên, có thể thấy Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập
pháp. Ông nhấn mạnh: "chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp,
mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là, những cái phụ thuộc vào nó"(2).
Hơn thế, theo ông, "tuỳ việc quyền lực lập pháp được đặt ở cương vị nào mà hình
thức của cộng đồng quốc gia là như thế đó"(3). Nếu như quyền lực lập pháp nằm
trong tay đa số cộng đồng, và việc thi hành các đạo luật này là bởi các quan chức
do chính họ bổ nhiệm thì đó là một nền dân chủ hoàn hảo. Nếu như quyền lực này
nằm trong tay một số ít người được lựa chọn và những người thừa kế của họ thì đó
là chính thể đầu sỏ. Còn nếu như quyền lực này được giao trọn cho một người, thì
đó là một nền quân chủ. Khi quyền lực được dành cho ông ta và những người thừa
kế của ông ta, đó là nền quân chủ cha truyền con nối. Còn khi nó được dành cho
ông ta trọn đời nhưng vào lúc ông ta chết đi, quyền đề cử một người kế vị trở về
với số đông nhân dân, thì đó là nền quân chủ tuyển cử. Và từ những chính thể này
mà cộng đồng quốc gia có thể tạo sự kết hợp hoặc hỗn hợp giữa các hình thức
chính quyền, theo như cách họ cho là tốt nhất.

thượng là vì lợi ích của nhân dân.
Thứ hai, hay thực chất là nguyên tắc để ngăn chặn sự độc đoán, chuyên chế của cơ
quan lập pháp, là yêu cầu phải có những đạo luật thường trực đã ban hành và
những quan toà có hiểu biết được trao thẩm quyền khi đưa ra những quyết định có
liên quan tới các quyền của mỗi thành viên trong xã hội. Chỉ khi có những luật
được minh định, những quy tắc thường trực để ràng buộc thì con người mới biết
đâu là quyền và đâu là sở hữu của mình; "còn nếu không như thế thì hoà bình, sự
yên ổn và sở hữu của họ vẫn chỉ là trong cùng một trạng thái bất định như đã có ở
trạng thái tự nhiên"(1).
_____________
(1) John Locke: Sđd, tr.189
Thứ ba, cơ quan lập pháp không thể ban hành những quyết định cho phép lấy toàn
bộ hay một phần tài sản của bất kỳ ai mà không có sự chấp thuận của anh ta, vì bảo
toàn sở hữu là mục đích chân chính và hàng đầu của chính quyền, và cũng là
nguyên nhân con người đồng ý từ bỏ trạng thái tự nhiên mà gia nhập vào cộng
đồng quốc gia, nên vi phạm vào nguyên tắc này nghĩa là nhà nước đã vi phạm vào
khế ước đầu tiên tạo thành xã hội. Nếu không có nguyên tắc này thì cũng có nghĩa
là không ai trong xã hội có sở hữu, bởi có thể bị người khác hay bởi chính chính
quyền tước mất. Cụ thể, Locke nhấn mạnh rằng: "nếu một người bất kỳ nào đòi hỏi
một quyền lực để đặt ra và thu thuế đối với nhân dân bằng thẩm quyền riêng của
ông ta mà không có sự chấp thuận của nhân dân, thì ông ta đã xâm lấn vào luật
căn bản của sở hữu và làm biến chất mục đích của chính quyền"(1).
Thứ tư, cơ quan lập pháp không thể chuyển giao quyền làm luật vào tay bất kỳ ai
khác, bởi theo khế ước, các cá nhân trong xã hội đã trao quyền lực vào cơ quan lập
pháp với nhiệm vụ "để làm luật mà không phải là để làm nên các nhà lập pháp, do
đó, cơ quan lập pháp không có quyền gì để chuyển giao thẩm quyền làm luật của
họ và đặt nó vào tay người khác"(2).
Theo Locke, luật pháp được làm nên trong thời gian ngắn nhưng có sức mạnh bất
biến và dài lâu, nên cơ quan lập pháp không phải lúc nào cũng cần hiện diện. Hơn
thế, sự cám dỗ của quyền lực rất dễ khiến những nhà làm luật có tham vọng nắm

mình, nên hai quyền lực này cần được trao vào những bàn tay khác nhau.
Theo Locke, nếu như trong một nhà nước mà cơ quan lập pháp không tồn tại
thường xuyên, một người nào đó nắm toàn quyền hành pháp và cũng có quyền
tham dự vào cơ quan lập pháp thì con người này, theo một nghĩa có thể chấp nhận
được, chính là quyền lực tối cao, bởi lẽ ông ta nắm toàn quyền hành pháp, và bởi lẽ
không có một cơ quan lập pháp cấp trên nào có thể thông qua một đạo luật nếu
không có sự đồng ý của ông ta. Từ bản thân ông ta xuất phát ra thứ quyền cai trị
của tất cả các quan cấp dưới, và các viên quan này cũng như toàn thể dân chúng
phải tuyệt đối trung thành với ông ta, phải tuân thủ mọi ý chí của ông ta. Nhưng sự
trung thành và sự tuân thủ này chỉ là một sự chấp hành luật pháp không hơn không
kém. Hành động của ông ta là dựa theo ý chí xã hội, là thứ đã được minh định
trong pháp luật, bởi vậy, ông ta không có ý chí nào khác, quyền lực nào khác ngoài
ý chí và quyền lực của luật pháp. Nếu ông ta không thực hiện, hoặc thực hiện trái
lại nhiệm vụ mà cơ quan lập pháp đã uỷ nhiệm cho, nghĩa là ông ta đã tự giáng
chức mình, trở thành một thành viên của cộng đồng như mọi thành viên khác, và
không còn bất cứ một quyền lực nào hơn những thành viên còn lại để buộc họ phải
tuân thủ theo ý chí của mình, khi mà bản thân họ chỉ duy nhất phải tuân thủ theo ý
chí chung của pháp luật.
Những cá nhân nắm quyền hành pháp phải luôn nhớ rằng quyền lực của mình là do
cơ quan lập pháp uỷ thác, để thực hiện cũng như giám sát sự thực hiện các đạo luật
đã được ban hành. Và do quyền lực đó được cơ quan lập pháp trao cho, nên cơ
quan lập pháp cũng có quyền thu hồi nó lại khi nhận thấy sự yếu kém hay sự đi
ngược lại luật pháp của quyền hành pháp, và trao lại cho một cá nhân hay tập thể
khác thích hợp hơn nắm giữ.
_____________
(1) John Locke: Sđd, tr.203
Còn một thứ quyền lực khác nữa của chính quyền được Locke đưa ra, đó là quyền
liên hiệp, dù bản thân ông tự nhận là không quan tâm tới việc đặt tên gọi cho nó.
Ông cho rằng thứ quyền lực này "bao hàm quyền lực về chiến tranh và hoà bình,
tạo liên minh và lập đồng minh, cũng như tất cả mọi giao kết khác, với mọi cá

đối với cơ quan hành pháp và quyền lực liên hiệp phải được đặt vào những cá
nhân có thể hành động tách rời nhau, và theo đó mà sức mạnh cưỡng bức của dân
chúng sẽ được đặt dưới những mệnh lệnh khác nhau, là điều có khuynh hướng gây
ra sự hỗn loạn và phá hoại, vào lúc này hay lúc khác"(1).
Quay lại với cơ quan lập pháp, về thời điểm nhóm họp và hoạt động của cơ quan
quyền lực tối cao này, Locke đưa ra hai phương án: thứ nhất là thời điểm này được
ấn định rõ ràng trong hiến pháp gốc, và cơ quan hành pháp chỉ phải điều hành cụ
thể việc bầu chọn và hội họp của cơ quan lập pháp theo đúng quy định; thứ hai là
cơ quan hành pháp, bằng sự cân nhắc thận trọng của mình, tiến hành tuyển cử hay
triệu tập cơ quan lập pháp, khi nhận thấy đòi hỏi phải tu chỉnh, sửa đổi những luật
cũ hay ra những luật mới, hoặc khi nhận thấy những hiểm nguy đang đe doạ nhân
dân.
Việc trao quyền triệu tập hay giải tán cơ quan lập pháp cho cơ quan hành pháp
không phải là trao một vị thế cao hơn cho nó. Đó đơn giản chỉ là niềm tin được uỷ
thác cho nó, vì lợi ích cao nhất của nhân dân. Có thể cần ban hành ngay một điều
luật mới, có thể cần sửa đổi hay bãi bỏ ngay một điều luật cũ, có thể cần qiải quyết
một vấn đề khẩn cấp của cộng đồng, cũng có khi là không có việc gì cần tới cơ
quan lập pháp , mà thời gian hội họp của cơ quan lập pháp được ghi nhận trong
hiến pháp là không hợp lý ở hoàn cảnh đó, bởi vậy, một cá nhân luôn luôn hiện
diện, có nhiệm vụ canh giữ cho lợi ích công, được nắm quyền triệu tập hay giải tán
cơ quan lập pháp là phương cách tốt nhất có thể tìm được cho khiếm khuyết này.
_____________
(1) John Locke: Sđd, tr. 202
Một câu hỏi được đặt ra là phải làm sao khi cơ quan hành pháp, với vũ lực của toàn
thể cộng đồng trong tay, sử dụng nó để cản trở việc hội họp và hoạt động của cơ
quan lập pháp ? Locke khẳng định rằng hành động đó của cơ quan hành pháp là
trái với thẩm quyền và nhiệm vụ đã được uỷ thác cho nó, và hơn thế, khi dùng sức
mạnh để chống lại nhân dân thì đây đã là trạng thái chiến tranh đối với nhân dân,
và nhân dân có đầy đủ lý do cũng như thẩm quyền để xoá bỏ sức mạnh ấy đi bằng
vũ lực.

người mới, những hình thức mới mà nhân dân cho là tốt đẹp nhất.
Tóm lại, qua tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền hay còn có tựa đề phụ
là Luận về Nguồn gốc, Phạm vi và Mục đích chân chính của chính quyền dân
sự của Locke, ta có thể khẳng định tư tưởng phân quyền của Locke là một bước
phát triển hơn hẳn so với các học giả thời kỳ cổ đại Hy Lạp - Lamã. Tuy vẫn còn
một số điểm hạn chế, mà chủ yếu là chưa phân tách quyền tư pháp ra độc lập với
quyền hành pháp, nhưng tư tưởng phân chia quyền lực của Locke vẫn là nền tảng
đầu tiên vững chắc cho các học giả tư sản về sau tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.
Charles Louis Montesquieu ( 1689 - 1755 ):
Bàn về Tinh thần pháp luật ( De L'esprit des Lois ) - viên ngọc sáng trong kho tàng
lý luận về khoa học pháp lý cũng như triết học và nhiều môn khoa học xã hội khác
của nhân loại, là tác phẩm đồ sộ nhất và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất của người
tiên phong cho phong trào Khai sáng Pháp Charles Louis Montesquieu. Đây chính
là nơi ông thể hiện một cách sâu sắc toàn bộ tư tưởng của mình.
Thành tựu to lớn nhất của Bàn về Tinh thần pháp luật chính là tư tưởng phân chia
quyền lực, bởi vậy khi nhắc đến Bàn về Tinh thần pháp luật là người ta nghĩ ngay
đến tư tưởng phân quyền, và bởi sự xuất sắc của Montesquieu trong tác phẩm kinh
điển này mà khi nhắc đến tư tưởng phân quyền, người ta cũng sẽ nghĩ ngay
đến Bàn về Tinh thần pháp luật. Tư tưởng này của Montesquieu được tập trung thể
hiện trong quyển 11, chương 6: Hiến pháp nước Anh, mà ta có thể dễ dàng nhận ra
nhiều sự tiếp thu, kết nối với tư tưởng phân quyền của Locke trong Khảo luận thứ
hai về chính quyền.
Ngay từ dòng đầu tiên của chương này, Montesquieu đã khẳng định: "Trong mỗi
quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp
với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.
Với quyền lực thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời
gian hay vĩnh viễn, và huỷ bỏ hay sửa đổi các luật này.
Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định việc hoà hay chiến, gửi đại sứ đi các
nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược.
Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh

_____________
(1) Charles Louis Montesquieu: Bàn về Tinh thần pháp luật, Nxb Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2006, tr.105
(2) TS Nguyễn Thị Hồi: Sđd, tr.75
(3) C.L. Montesquieu: Sđd, tr.106
Ông cho rằng ở phần lớn các nước châu Âu, khi nhà vua nắm quyền lập pháp, hành
pháp và nhường quyền tư pháp cho nhân dân thì việc cai trị còn có mức độ; nhưng
ở các nhà nước mà quyền lực bị thâu tóm toàn bộ trong tay một người hay một
nhóm người thì "nền chuyên chế nghiệt ngã đè lên đất nước"(1). Và ông nghiên
cứu khá kỹ các nhà nước cộng hoà Italia - những biểu hiện của việc quyền lực tập
trung trong tay một tập đoàn quý tộc. Theo ông, nhân dân trong các nhà nước này
có ít quyền tự do hơn nhiều so với trong các nước quân chủ châu Âu. Ông khẳng
định: "Ở đây, tất cả quyền lực chỉ là một. Tuy bề ngoài chẳng có sự phô trương gì
của ông vua chuyên chế, mà người ta vẫn cảm thấy sự chuyên chế vào bất cứ lúc
nào"(2). Nhưng sự chuyên chế của những nhà nước cộng hoà này không giống hẳn
chính thể chuyên chế ở châu Á, ví dụ như ở Cộng hoà Venise có sự phân quyền
tương đối, khi Đại hội đồng có quyền lập pháp, các đại quý tộc Prégadi nắm quyền
hành pháp, và nắm quyền tư pháp là các quý tộc Quaranties; nhưng cái dở ở nhà
nước Venise này là: tuy có sự phân quyền, nhưng mọi cơ quan này đều nằm trong
tay tầng lớp quý tộc, nên cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thực chất
cũng chỉ là một thứ quyền lực mà thôi, thực chất là chẳng có một sự phân quyền
nào cả. Và ông chỉ ra cái tai hại của nhà nước ấy: "cơ quan cầm quyền vừa là kẻ
thi hành luật vừa tự cho mình là kẻ lập pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng
những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có
thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ"(3).
Cũng giống như Locke, Montesquieu đặc biệt chú trọng tới cơ quan lập pháp, dù
ông hoàn toàn không thừa nhận rằng đây là cơ quan quan trọng nhất, có khả năng
uỷ thác quyền lực để hình thành nên các cơ quan khác như trong học thuyết của
Locke.
_____________

còn "chức năng ngăn cản là quyền làm cho quyết định của người khác trở thành
vô hiệu"(1). Theo ông, Viện quý tộc chỉ được tham gia vào công việc lập pháp với
chức năng ngăn cản chứ không có chức năng quy định, tức là chỉ có quyền phủ
quyết hoặc chuẩn y các quyết định của Viện thứ dân mà không được sửa đổi quyết
định đó, hoặc đưa ra một quyết định khác. Nguyên nhân của việc này, theo ông là
do Viện quý tộc có hình thức cha truyền con nối, mà lại được lập nên để bảo vệ
đặc quyền của một nhóm người, nên có thể nó sẽ chỉ biết đến lợi ích riêng tư của
mình mà quên đi lợi ích chung của cả cộng đồng.
_____________
(1) C.L. Montesquieu: Sđd, tr.113
Về hoạt động của các đại biểu dân chúng trong cơ quan lập pháp, theo
Montesquieu, các đại biểu này là người đã nhận được ý kiến chung của những
người bầu ra họ, là đại diện cho ý chí của các cử tri, nên không nhất thiết mọi việc
đều phải hỏi ý kiến dân chúng. Ông thừa nhận làm như thế mới đảm bảo được
quyền tự do và dân chủ của nhân dân, nhưng như vậy thì công việc sẽ kéo dài vô
tận, và trong những trường hợp cấp bách thì lối làm việc này sẽ làm ngưng trệ cả
quốc gia, hay thậm chí là huỷ diệt nó. Và ông đưa ra cách làm mà ông cho là hợp
lý như ở quốc hội Hà Lan, khi các đại biểu chỉ phải báo cáo lại công việc với các
cử tri.
Về cách thức bầu cử cơ quan lập pháp, Montesquieu cho rằng người dân biết rõ
nhu cầu của thành phố mình hơn là của các thành phố khác, hiểu năng lực của
người láng giềng mình hơn là láng giềng của người khác, nên dân chúng ở mỗi địa
phương phải được chọn ra một người đại biểu, chứ không nên tiến hành bầu cử
chung trong cả nước.
Về tinh thần của người lập pháp, được ông nêu lên trong Chương 1, Quyển 29, và
được khẳng định lại bởi một chính khách Pháp về sau là Abel Francois Villemain
thì: "Luật phải thật vô tư, không thiên vị. Chính người lập pháp phải vô tư để
không ghi tham vọng của mình vào tác phẩm luật"(1). Và Montesquieu nhấn mạnh
lại quan điểm chính phủ phải "trung dung" của Aristote trong quyển 1,
sáchPolitics: "Một chính phủ càng xa đảng phái và càng gắn với phương sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status