Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong công cuộc đổi mới đất nước - Pdf 16

PHẦNMỞĐẦU
1- Lý do chọn đề tài:
Hồ Chí minh, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới,
người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng cộng sản Việt nam. Toàn bộ
cuộc đời của Người dành cho sự nghiệp cách mạng Việt nam. Trong số các
di sản Người để lại cho dân tộc ta cóđại đoàn kết - một tư tưởng nổi bật,
bao trùm, xuyên suốt, nhất quán cả trong tư duy lý luận và thực tiễn của
Người.
Tư tưởng Đại đoàn kết đã trở thành tình cảm, suy nghĩ của mọi người
Việt nam yêu nước, là sợi dây liên kết cả dân tộc và tạo nên sức mạnh to
lớn, đưa tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân
tộc Việt Nam độc lập hoàn toàn, đất nước Việt Nam thống nhất trọn vẹn
năm 1975.
Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh, minh chứng rõ rằng : khi nào
Đảng ta, dân tộc ta đoàn kết một lòng, thực hiện triệt để tư tưởng Đại đoàn
kết của Người, thì cách mạng lúc đó thuận lợi, thu được nhiều thắng lợi.
Ngược lại lúc nào, nơi nào dân ta vi phạm đoàn kết, xa rời tư tưởng đại
đoàn kết Hồ Chí Minh, thì lúc đó nơi đó cách mạng gặp nhiều khó khăn,
thậm chí tổn thất.
Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
Cách mạng nước ta đang trên đường đổi mới , với nhiều thách thức đặt ra.
Chỉ có thể huy động sức mạnh đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh
chúng ta mới đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng dân
giàu nước mạnh , xã hội công bằng văn minh, dân chủ. Vì vậy, việc hiểu rõ
và vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới
hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng, cóý nghĩa hết sức to lớn. Đó là lý do
tôi chọn đề tài : “Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh và sự vận dụng
trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay “ làm đề tài tiểu luận.
1
2- Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

I - Vị trí vấn đềđoàn kết trong tư duy lý luận và hoạt động thực
tiễn cách mạng của Hồ Chí Minh.
1- Đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật của Hồ Chí Minh.
Trong quá trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, có một sốý kiến
của các nhà nghiên cứu cho rằng: Đại đoàn kết không phải là tư tưởng của
Hồ Chí Minh. Theo họ, Người chỉ kế thừa và phát huy truyền thống đoàn
kết của dân tộc Việt nam trong điều kiện lịch sử mới . Và như vậy, những
nhà nghiên cứu này đã phủ nhận luôn những luận điểm, những nguyên tắc,
những phương pháp đại đoàn kết của Hồ Chủ Tịch.
Song, hầu hết các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh đều thống nhất rằng :
: Đại đoàn kết là tư tưởng - một tư tưởng lớn, một tư tưởng nổi bật, một tư
tưởng xuyên suốt, nhất quán của Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng, củng cố,
tăng cường lực lượng cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc, giải phóng xã hội , giải phóng loài người.
Khi thực hiện tư tưởng này, Hồ Chí Minh đưa ra những lời kêu gọi
mang tính hiệu triệu, động viên nhằm tập hợp toàn dân trong nước, lao
động trên toàn thế giới thành một khối đoàn kết, nhất trí trong cuộc đấu
tranh chống kẻ thù chung của dân tộc mình và của giai cấp công nhân.
Người kêu gọi : “ Toàn dân đoàn kết muôn năm “ ( Hồ Chí Minh : toàn tập,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 6, trang 182) ; “ Lao động tất cả các
nước, đoàn kết lại “ (Hồ Chí Minh, dd, t2, tr437 ).
Lịch sử cách mạng Việt nam đã thể hiện rõđại đoàn kết là mối quan
tâm hàng đầu có tính chiến lược hay là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Sau
đây là một vài dẫn chứng :
3
- Sau khi gặp luận cương của Lê nin về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa. Hồ Chí Minh đấu tranh rất tích cực trong phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế , nhằm thực hiện luận điểm của Lê nin và khẩu hiệu nổi
tiếng của Quốc tế Cộng sản vềđoàn kết quốc tế : “ Vô sản tất cả các nước
và các dân tộc bịáp bức, đoàn kết lại “.

nhằm chỉ thị , động viên không ngừng mở rộng Mặt trận hơn nữa. Vì vậy,
ngày 21/04/1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình
Việt Nam ra đời do ông Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch; thành phần gồm
những tri thức, công chức yêu nước trong bộ máy Ngụy quyền Sài Gòn
kiên quyết chống ngoại xâm, đánh đổ chếđộ Nguỵ quyền giành độc lập,
dân chủ, hoà bình và mong muốn thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc ở
Miền nam. Hồ Chí Minh khẳng định , liên minh này “ Luôn sát cánh với
Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam Việt nam “ trong công cuộc chống
Mỹ cứu nước ( Hồ Chí Minh: dd, tl2, tr461 ). Ngày 23/05/1969 tuy sức
khoẻđã giảm nhiều, Hồ Chí Minh còn gửi điện cảm ơn Chủ tịch Nguyễn
Hữu Thọ cùng Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam
Việt nam, gửi điện cảm ơn Chủ tịch Trịnh Đình Thảo vàUỷ ban Trung
ương liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt nam.
Như vậy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh
luôn hết sức quan tâm đến vấn đềđoàn kết toàn dân, tập hợp cho hết các lực
lượng yêu nước trong dân tộc vì mục tiêu một Việt nam hoà bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, đồng thời Người cũng hết sức quan
tâm đến đoàn kết quốc tế, thực hiện di huấn của lê nin và khẩu hiệu của
Quốc tế Cộng sản vìthắng lợi của phong trào hoà bình, độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Qua đó chúng ta có thể khẳng định : Đoàn kết, đại đoàn kết là một
tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh; một tư tưởng nổi bật, bao trùm, xuyên
suốt, nhất quán của Người. Tư tưởng đại đoàn kết hồ Chí Minh ngay
5
từđầu năm 1930 khi Đảng ta ra đời, đã trở thành chiến lược cóý nghĩa
xuyên suốt đường lối của Đảng.
Có thể khẳng định từ những năm 20 của thế kỷ XX đến nay, đại đoàn
kết toàn dân, đoàn kết quốc tế trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin và truyền
thống dân tộc đã hoá thành sức mạnh, thành động lực phát triển quan trọng
của dân tộc Việt nam. Nhờđó mà năm 1975 dân tộc Việt nam hoàn toàn

dân tộc , dân chủ và hoà bình Việt nam, thống nhất thành một Mặt trận
chung có tên gọi làMặt trận Tổ quốc Việt nam.
- Về cơ sở thực hiện đoàn kết quốc tế :
Bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng,
Hồ Chí Minh rút ra một nhận xét hết sức quan trọng, độc đáo : “ Dù màu da
có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người : Giống người bóc lột và
giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà
thôi: Tình hữu ái vô sản “ ( Hồ Chí Minh : dd, t1, tr 266 ).
Theo Hồ Chí Minh, trước chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc,
quyền lợi của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trên thế giới là thống
nhất , gắn bó với nhau. Đó là hoà bình , tự do vàấm no , hạnh phúc.
Đồng thời , Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, trước phong trào cộng sản
quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, thì chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa
đế quốc thường liên minh chặt chẽ với nhau và làm tất cả những gì có
thểđể ngăn chặn, phá hoại đoàn kết quốc tế theo tinh thần chủ nghĩa Mác -
Lê nin.
Cuối năm 1922, thay mặt Ban nghiên cứu thuộc địa của Phân bộ Pháp
thuộc Quốc tế Cộng sản, Người kêu gọi : “Vì hoà bình thế giới, vì tự do
vàấm no của mọi người, những người bị bóc lột thuộc mọi nòi giống,
chúng ta hãy đoàn kết lại vàđấu tranh chống bọn áp bức “( Hồ Chí Minh :
dd.t1, tr460 ). Như vậy, theo Hồ Chí Minh : Hòa bình, tự do , ấm no, hạnh
phúc, bình đẳng, bác ái là mục đích chung và là cơ sở cho những người lao
7
động bị bóc lột trên toàn thế giới đoàn kết, nhất trí trong cuộc đấu tranh
chống lại áp bức, bóc lột.
Từ nhận thức đúng đắn này được chủ nghĩa Mác - Lê nin soi sáng,
Hồ Chí Minh đặt cách mạng Việt nam là một bộ phận của cách mạng thế
giới, Người nhanh chóng trở thành một chiến sỹ quốc tế, luôn coi trọng và
góp sức vào việc xây dựng đoàn kết giữa nhân dân các thuộc địa, đoàn kết
giữa giai cấp công nhân chính quốc và nhân dân thuộc địa, đoàn kết giữa

kết lại, đứng lên tự giành lại độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc,...
II- Nội dung cơ bản tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh bổ sung, hoàn thiện
nội dung chiến lược đại đoàn kết cho phù hợp với những yêu cầu, hoàn
cảnh lịch sử của từng giai đoạn cách mạng Việt nam. Nội dung cơ bản của
tư tưởng đoàn kết Hồ Chí Minh được thể hiện rõ, nhất quán trong các
nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết của người.
1- Nguyên tẵc đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Trước sau Hồ Chí Minh vẫn kiên trì tuân thủ những nguyên tắc cơ
bản xuyên suốt của chiến lược đại đoàn kết sau đây :
Nguyên tắc thứ nhất : Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ
sởđảm bảo những lợi ích tối cao của dân tộc và những quyèen lợi cơ bản
của toàn dân
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ
Chí Minh. Hạt nhân của nguyên tắc này là giải quyết đúng đắn mối quan hệ
lợi ích phức tạp, chồng chéo giữa cá nhân - tập thể, gia đình - xã hội, bộ
phận - toàn thể, giai cấp - dân tộc, quốc gia - quốc tế theo phương châm
chỉđạo là : Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết và tất cả do con người. Ví dụ:
Chính sách giảm tô 25 % trong kháng chiến chống Pháp Hồ Chí Minh nhắc
nhở : “ Chủ ruộng giảm tô cho đúng “ ; Đồng thời cũng nhắc nhở : “ Táđiền
9
nộp tô cho đều “(Hồ Chí Minh: dd, t5, tr591).Chính sách này đã giải quyết
thỏa đáng lợi ích ruộng đất giữa địa chủ và nông dân nghèo trong điều kiện
phải đoàn kết để kháng chiến thắng lợi. Địa chủ có ruộng cho thuê và nông
dân nghèo thuê ruộng đều phải hy sinh một phần lợi ích của mình đểđoàn
kết nhau lại, thực hiện khẩu hiệu : “Tổ quốc trên hết“ “Tất cả cho kháng
chiến thắng lợi “.
Tóm lại, muốn đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân, phải giải quyết đúng
đắn các mối quan hệ lợi ích dân tộc. Song, khi giải quyết các mối quan hệ
lợi ích này phải đặt quyền lợi dân tộc, quyền lợi Tổ quốc, quyền lợi toàn

sáng kiến của nhân dân. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt tin vào lòng yêu
nước của nhân dân, với niềm tin đó Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đoàn
kết, Lương - Giáo đoàn kết, các dân tộc, các thành phần dân tộc đoàn kết,...
Thực tiễn cách mạng Việt nam đến nay đã khẳng định tư tưởng này của
Người là hoàn toàn đúng, chẳng những phù hợp với đặc điểm ngưiơì Việt
nam mà còn đúng với quan điểm của giai cấp công nhân.
Nguyên tắc thú ba : Đoàn kết rộng rãi, đoàn kết lâu dài, đoàn kết
chặt chẽ theo lập trường giai cấp công nhân.
Trong quá trình thực hiện đại đoàn kết, xây dựng và phát triển lực
lượng cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhất quán một nhận thức khoa học:
Đoàn kết không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, tự phát, nhất thời mà là
một tập hợp bền vững của các lực lượng xã hội cóđịnh hướng, có tổ chức,
có lãnh đạo.
Đầu năm 1955, nói chuyện tại hội nghịđại biểu Mặt trận Liên - Việt
toàn quốc, Hồ Chí Minh chỉ rõ : “ Đoàn kết của ta không những rộng rãi
mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là
một thủđoạn chính trị. Ta đoàn kết đểđấu tranh cho thống nhất vàđộc lập
của Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà “ (Hồ Chí Minh :
dd, t7, tr 438). Như vậy theo Hồ Chí Minh, đoàn kết toàn dân trong các Tổ
chức của Mặt trận dân tộc thống nhất phải rộng rãi và lâu dài; đoàn kết
11
không phải là một thủđoạn chính trị, mà là một chính sách dân tộc, một
chính sách nhất quán của Đảng và nhà nước ta.
Qua câu nói trên của Hồ Chí Minh, ta thấy rõ tư tưởng của Người:
Toàn dân ta phải đoàn kết cả trong cách mạng giải phóng dân tộc, cả trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa hay đoàn kết trong suốt quá trình cách mạng
Việt Nam. Theo Người, Đảng công sản Việt nam phải đoàn kết lâu dài với
các đảng phái và các đoàn thể yêu nước khác trong Mặt trận dân tộc thống
nhất, không phải đoàn kết nhất thời. Điều này được Hồ Chí Minh chỉ rõ khi
Người nói chuyện tại buổi lễ kết thúc ra mắt của Đảng lao động Việt nam

mỗi thành viên phải tự giác tuân theo.
Về lãnh đạo : Lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân làĐảng cộng sản.
Hồ Chí Minh khẳng định Đảng cộng sản là người lãnh đạo khối đoàn
kết toàn dân ; nhưng Người chỉ rõ : “Đảng cộng sản cũng là một bộ phận
hữu cơ của Mặt trận, nhưng “Phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất,
hoạt động nhất và chân thực nhất “ của Mặt trận. (Hồ Chí Minh: dd, t13 tr
139 ).
Để khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ, trước
hết Đảng phải đoàn kết, nhất trí, nhất là cán bộ lãnh đạo Đảng. Đây là yếu
tố quyết định sự tồn tại và sức mạnh của khối đại đoàn kết. Hồ Chủ Tịch
đãđặt lên hàng đầu: “Tư cách người kách mệnh” và chỉ rõ muốn đoàn kết
trong Đảng, đoàn kết toàn dân, Đảng luôn luôn tự phê bình và phê bình,
phải phê phán nghiêm khắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí, vi
phạm quyền làm chủ của nhân dân. Người nhấn mạnh: “Đoàn kết là một
truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ
Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sựđoàn kết nhất trí của Đảng
như gìn giữ con ngươi của mắt mình “ (Hồ Chí Minh : dd, t12, tr510 ).
Muốn đoàn kết rộng rãi, đoàn kết lâu dài, đoàn kết chặt chẽ, theo Hồ
Chí Minh, khối đoàn kết phải luôn được củng cố, trong đó củng cố Liên
minh Công - Nông - Trí thức phải được quan tâm hàng đầu. Bởi vì, theo
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status