Đề tài khoa học nghiên cứu đề tài Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay - Pdf 13

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đại đoàn kết là một tư tưởng lớn được hình thành và phát triển cùng
với toàn bộ quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
Theo Người, đại đoàn kết dân tộc không phải là sách lược trong một
thời kỳ, một giai đoạn cách mạng mà là chiến lược cơ bản lâu dài xuyên suốt
tiến trình cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh vô tận làm nên thắng lợi
của cách mạng Việt Nam. Người từng nói “đoàn kết là một truyền thống cực
kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”
1
, và Người đòi hỏi mỗi người, trước hết
là đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất như “giữ gìn con ngươi của
mắt mình”
2
bởi đó là một trong những nhân tố hàng đầu để giành và giữ độc
lập dân tộc, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đường
lối, chiến lược đại đoàn kết của Đảng ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII (năm 1991) thông
qua khẳng định: “đoàn kết là truyền thống quý báu và bài học lớn của cách
mạng nước ta”. Tổng kết bài học kinh nghiệm của 15 năm đổi mới, Báo cáo
Chính trị tại Đại hội IX viết: “Để công cuộc đổi mới thành công phải động
viên được mọi tầng lớp nhân dân và các thành phần kinh tế tham gia”. Gần
đây nhất, Đại hội lần thứ X của Đảng lại tiếp tục khẳng định và coi đó là
“nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định
chính trị - xã hội của đất nước”.
Chính vì Đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa như vậy, đặc biệt muốn
nhằm hiểu rõ hơn tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và việc vận dụng
1, 2.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.12, tr.497.

Lịch sử Đảng, số 6 – 1995.
- Đỗ Mười – Lê Quang Đạo: Đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nxb.CTQG, H,
1996.
- Vũ Oanh: Đại đoàn kết dân tộc phát huy nội lực nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nxb.CTQG, H, 1998.
- TS. Lê Văn Yên: Hồ Chí Minh với chiến lược đại đoàn kết quốc tế
trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nxb.QĐND, H, 1998.
- GS.TS. Phùng Hữu Phú: Chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Nxb.CTQG, H, 2003.
- Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về việc đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
trong thời kỳ mới. Nxb.CTQG, H, 2004. (Cuốn sách được tuyển chọn từ
những bài tham luận trong Hội thảo khoa học có chủ đề: Tư tưởng đại đoàn
kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
tổ chức vào tháng 5 – 2003).
Nhìn chung, các công trình, bài viết trên đều đã khẳng định và làm rõ
được Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh và sự vận dụng vào trong thực
tiễn cách mạng Việt Nam của Đảng ta. Một số tác giả cũng đã mạnh dạn đề
cập đến những hạn chế của việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết trong
nhiều thập kỷ qua. Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu tư tưởng đại
đoàn kết của Người một cách có hệ thống, nhất là việc vận dụng trong công
cuộc đổi mới với rất nhiều thách thức mới đang đặt ra.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
3
Phân tích, làm rõ những nội dung của chiến lược đại đoàn kết trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta vận dụng chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh
trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đề xuất một số giải pháp, định hướng
nhằm phát huy hơn nữa sức mạnh đại đoàn kết theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

HỢP VỚI MỞ RỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam,
một nhà văn hóa lớn, một chiến sỹ cộng sản quốc tế, đã cống hiến trọn đời
mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần
vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội;… Những thành tựu vẻ vang của nhân dân Việt Nam
gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh, và Người là một trong những vĩ nhân
của thế kỷ XX đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những luận điểm khoa học
về chính trị, quân sự, văn hóa… Một nội dung nổi bật, xuyên suốt và nhất
quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
là chiến lược đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với
sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội. Đó là một cống hiến đặc sắc, độc đáo, đã trở thành một bộ phận trong
đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố cực kỳ quan
trọng góp phần tạo nên những thắng lợi trong quá trình đấu tranh cách mạng
của Đảng ta, dân tộc ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn
kết quốc tế là sự kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống dân tộc và văn
hóa nhân loại, đặc biệt là những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó
là truyền thống yêu nước, nhân văn được hun đúc qua lịch sử dựng nước và
giữ nước hàng ngàn năm, đấu tranh không mệt mỏi khắc phục thiên tai,
chống giặc ngoại xâm của một quốc gia nhỏ bé, đa dân tộc, đa tôn giáo. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là sự thể hiện những giá trị văn
hóa phương Đông, tư tưởng đại đồng, nhân ái, hòa hợp của Nho giáo và Phật
6
giáo, là tiếp thụ giá trị văn hóa phương Tây, những hạt nhân hợp lý của tư
tưởng dân chủ tư sản tiến bộ: tự do, bình đẳng, bác ái. Tinh hoa văn hóa của
nhân loại, những yếu tố hợp lý không chỉ được Người tiếp thụ mà được sàng

đề này.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm
về nội dung, con đường đầy khó khăn, phức tạp và lâu dài của cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó, Người cũng chỉ ra đặc điểm lớn nhất là
nước ta từ nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Chiến lược đại đoàn kết phải làm sao xây
dựng được mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp rộng rãi nhân dân vào khối
đại đoàn kết dân tộc bao gồm các dân tộc, giai cấp, tôn giáo, các giới… khi
mà vị trí, quyền lợi về kinh tế, xã hội của mỗi cá nhân, thành phần xã hội có
sự khác nhau, không thống nhất. Và như vậy, xây dựng khối đại đoàn kết
trong thời kỳ đổi mới đất nước, mở cửa, hội nhập không phải là một vấn đề
mới đặt ra, mà có thể tìm thấy những lý luận và bài học quý trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về đại đoàn kết. Bởi vì với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn
kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, xuyên suốt mọi thời kỳ cách
mạng; không phải chỉ là vấn đề phương thức tập hợp, hình thức tổ chức lực
lượng cách mạng trên một trận tuyến đấu tranh mà là một bộ phận xuyên
suốt, thấm đẫm trong đường lối chiến lược cách mạng.
Trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc, vấn đề căn bản, quyết định
nhất để xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc là tìm được điểm
thống nhất, mẫu số chung. Theo Hồ Chí Minh, mẫu số chung của khối tập
hợp là thành tâm yêu nước, cùng hướng vào mục tiêu độc lập dân tộc, nhân
dân tự do, hạnh phúc. Đó chính là quyền lợi cơ bản, tối cao của quốc gia dân
8
tộc và quyền chính đáng của mỗi con người. Tâm điểm cho sự quy tụ toàn
dân tộc là chân lý “ không có gì quý hơn độc lập, tự do”, từ đó mà vượt qua
những điểm khác biệt giữa các thành viên trong quốc gia dân tộc.
Để xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc, chất kết dính mọi thành
viên lại là truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường, lòng tự
tôn dân tộc, truyền thống văn hiến. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đại hội VIII và Đại hội IX của Đảng khẳng định: “ Phát huy sức mạnh của

chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, tin vào dân, dựa vào dân, đấu tranh vì
dân đã là một nguyên tắc tối cao. Dân là gốc đã là nguyên tắc cơ bản, xuyên
suốt trong tư duy chiến lược và mọi hoạt động, đã trở thành tư tưởng chỉ đạo
trong xây dựng Mặt trận qua các thời kỳ cách mạng. Theo đó, xây dựng mặt
trận dân tộc thống nhất là xuất phát từ nhu cầu khách quan của chính phong
trào cách mạng của quần chúng nhân dân và vì mục tiêu giành thắng lợi của
cuộc đấu tranh. Những mâu thuẫn giai cấp, âm mưu chống đối trong nước và
từ bên ngoài vẫn tồn tại, đặc biệt là khi có sự tiếp tay của các thế lực phản
động, cường quyền, đặt ra yêu cầu phải xử lý những mâu thuẫn theo hướng
tranh thủ mọi khả năng, phát triển cộng đồng, tránh đẩy tới mâu thuẫn đối
kháng, có lợi cho quần chúng nhân dân lao động, không để các thế lực thù
địch, phản động chia rẽ.
Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng Cộng sản là một bộ phận
hữu cơ, là hạt nhân lãnh đạo và là linh hồn của khối đại đoàn kết. Đoàn kết
nội bộ Đảng là chỗ dựa, là cơ sở để đoàn kết dân tộc và khối đại đoàn kết
dân tộc chỉ có thể xây dựng được khi đường lối cách mạng có mục tiêu,
phương pháp phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số nhân dân.
Đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch, là nền tảng, bệ đỡ
cho hoạt động hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh thời đại, tranh thủ những
thời cơ và vận hội trong quá trình xây dựng đất nước. Trong tiến trình hội
nhập quốc tế rất đa dạng và phức tạp, chứa đựng những vấn đề thống nhất và
đối lập, cơ hội và thách thức đan xen, nhiều vấn đề không đồng nhất với tính
độc lập của những yếu tố quốc gia dân tộc. Nguyên tắc trong mở rộng quan
hệ quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ngắn gọn trong câu “Dĩ bất biến,
10
ứng vạn biến” và trở thành nguyên tắc của Đảng ta là giữ vững độc lập tự
chủ, bình đẳng và cùng có lợi, vì hòa bình, hữu nghị và phát triển. Trên cơ
sở đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết
hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Trung thành, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá

1
. Đặc biệt, Cách mạng Tháng Mười Nga, cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới, càng khẳng định vai trò quyết định của khối
quần chúng công – nông “ Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn
cách mệnh thành công thì phải dân chúng ( công nông ) làm gốc…”
2
.
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.274.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.280.
12
Quy luật lịch sử khách quan về vai trò quyết định của quần chúng
công – nông, mối quan hệ giữa các tầng lớp quần chúng trong cách mạng vô
sản được Hồ Chí Minh khái quát thành một nguyên lý phổ biến cho tất cả
các hình thức cách mạng vô sản, ở tất cả các nước khác nhau. “ Cuộc cách
mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông
nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông
dân ủng hộ tích cực. Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách
mạng – cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản. Trong thời kỳ
cách mạng tư sản dân quyền, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để thực hiện
các khẩu hiệu của mình và chuyển cuộc cách mạng tư sản dân quyền thành
cách mạng vô sản không thể giành được thắng lợi hoàn toàn nếu không có
khối liên minh cách mạng của giai cấp vô sản và nông dân, nếu không có sự
tham gia tích cực của quần chúng nông dân bị áp bức vào việc thực hiện
những khẩu hiệu của cách mạng. Ba cuộc cách mạng Nga, cuộc cách mạng
vĩ đại Trung Quốc và các cuộc đấu tranh cách mạng ở nhiều nước khác đã
chứng minh rõ ràng điều đó. Đối với tất cả những nhà cách mạng chân chính
hiện nay, nguyên tắc lêninnít căn bản ấy là sự thực hoàn toàn không thể chối
cãi. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, ở Mỹ Latinh, ở nhiều nước châu Âu ( các nước

quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cải tạo và xây dựng chế độ xã hội mới. Công
nhân, nông dân là những người trực tiếp tham gia vào quá trình cách mạng
đánh đổ đế quốc, phong kiến, xây dựng nên nhà nước dân chủ nhân dân ở
nước ta. Chính khối liên minh công – nông lại trở thành cơ sở xã hội và nền
tảng xã hội vững chacứ của nhà nước đó. Tư tưởng chỉ đạo này được Hồ Chí
Minh thể hiện thành một nguyên tắc hiến định, có sức mạnh pháp lý, trở
thành nguyên tắc nền móng trong xây dựng và củng cố nhà nước. Theo Hồ
Chí Minh, trong suốt quá trình phát triển đất nước “Nhà nước của ta là Nhà
nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp
công nhân lãnh đạo”
2
. Liên minh công – nông, cơ sở xã hội vững chắc của
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.3.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.586.
14
Nhà nước, là một nội dung quan trọng quy định bản chất giai cấp công nhân
của Nhà nước Việt Nam.
Trong cải tạo và xây dựng xã hội mới, thực hiện bước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, vai trò quyết định của liên minh công – nông càng thể hiện rõ
nét. Ngoài sự ủng hộ quốc tế, việc có hay không có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa xã hội có thắng lợi được trong lòng một nước nông nghiệp lạc hậu hay
không phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng, củng cố và tăng cường khối liên
minh công nông. Bởi lẽ “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh
cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài. Nhân dân ta hãy đoàn kết chặt chẽ
dựa trên nền tảng liên minh công nông, bền bỉ phấn đấu dưới sự lãnh đạo
của Đảng và Chính phủ, thì chúng ta nhất định thắng lợi”
1
.

. Người không xóa nhòa ranh giới tính chất hai
loại lao động mà chỉ nhấn mạnh sự xâm nhập, bổ sung lẫn nhau của chúng
mà thôi.
Từ quan điểm của Hồ Chí Minh có thể thấy, vai trò quyết định của
khối liên minh dựa trên hai cơ sở chính. Thứ nhất, trong điều kiện một nước
nông nghiệp lạc hậu, nông dân, công nhân, trí thức chiếm đại đa số dân cư,
là lực lượng sản xuất cơ bản, trực tiếp tham gia cách mạng giải phóng dân
tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là kết quả
lao động sáng tạo của hàng chục triệu quần chúng. Thứ hai, khi đã có sự hợp
tác giữa công, nông, trí thức thì kẻ thù của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội bị cô lập, mất dần cơ sở xã hội và cuộc đấu tranh phá hoại của chúng bị
vô hiệu hóa. Vì thế, liên minh công, nông, trí thức là hạt nhân, cơ sở của
khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân, có thể tập hợp, thu hút
mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vào một mặt trận chung thống nhất vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Liên minh công – nông – trí thức do giai cấp công nhân lãnh
đạo.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liên minh công, nông, trí thức là một tất
yếu lịch sử khách quan, được chế định bởi các cơ sở xã hội hiện thực và
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.37.
16
được hiện thực hóa qua đường lối tập hợp lực lượng của Đảng Cộng sản.
Điều này cũng xác định rõ rằng: Liên minh công, nông, trí thức là nhu cầu
tồn tại và phát triển của cả công nhân, nông dân và trí thức, chứ không phải
chỉ là do ý muốn chủ quan của riêng giai cấp công nhân và đảng tiên phong
của nó.
Quan hệ giữa công nhân, nông dân và trí thức là yếu tố nội tại trong
kết cấu xã hội – giai cấp của chủ nghĩa xã hội. Xu hướng hợp tác giữa chúng
dựa trên những cơ sở khách quan, không chỉ xuất phát từ nhu cầu, lợi ích

và trí thức.
Về phía nông dân, do địa vị kinh tế - xã hội và bản chất giai cấp của
mình, họ tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân và nếu không liên kết với
công nhân, trí thức thì dễ bị giai cấp tư sản lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc
sống nô lệ, bóc lột, áp bức. Điều này thể hiện rõ nét hơn đối với nông dân
những nước thuộc địa, nửa phong kiến, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa. Sự tiến bộ của nông dân ngày càng gắn bó hơn với
công nhân và trí thức. Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa, làm cho
nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần tới sự hỗ trợ của công
nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật. Đây là nhu cầu thiết thực để
nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiên cứu và các cơ sở dịch vụ
kỹ thuật. Trên bình diện xã hội, công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực
vào quá trình giải phóng người nông dân, giúp họ thoát khỏi những hạn chế,
tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiện đại và đồng thời có dịp phát huy
các giá trị văn hoấ được tích tụ ngàn đời trong nông thôn.
Về phía tầng lớp trí thức, là một tầng lớp xã hội đặc biệt có đặc trưng
nổi bật là lao động trí óc, sáng tạo, không thể tồn tại biệt lập trong cộng đồng
18
xã hội. Địa vị kinh tế - xã hội không bao giờ đặt trí thức vào vị trí lãnh đạo
xã hội. Trong kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nhân, nông dân
rất cần trí thức như là các đại biểu kết tinh của trí tuệ và các giá trị văn hóa
tinh thần; và trí thức cũng chỉ khẳng định được vị trí của mình trong mối
quan hệ trực tiếp với công nhân và nông dân. Công nhân và nông dân tạo ra
những cơ sở vật chất, những điều kiện sinh hoạt và làm việc cần thiết, đặt ra
các nhu cầu làm động lực cho sự tìm tòi sáng tạo của hoạt động nghiên cứu
khoa học, còn các lĩnh vực hoạt động của công nhân và nông dân sẽ là môi
trường để trí thức đem khoa học kỹ thuật vào cuộc sống, phục vụ con người.
Khoa học chân chính không bao giờ có mục đích tự thân, mà trước hết là
hướng vào việc thỏa mãn các nhu cầu của con người, củng cố và hoàn thiện
các giá trị làm người; chức năng xã hội của mọi khoa học là giải phóng con

1
.
Quan hệ giữa công nhân, nông dân và trí thức cũng diễn ra theo quy
luật chi phối tương tự. Theo Hồ Chí Minh: “Nông dân, công nhân, lao động
trí óc đều phải dựa vào nhau. Nông dân không có sự giúp đỡ của công nhân
thì không được… Công nhân không có nông dân… cũng không được”
2

3. Các hình thức thực hiện liên minh công – nông – trí thức.
Cũng như các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh
cho rằng, liên minh công, nông, trí thức là một hình thức hợp tác đặc biệt,
toàn diện giữa các giai cấp và tầng lớp lao động trong tất cả các mặt khác
nhau của đời sống xã hội. Tính chất đặc biệt của nó thể hiện ở chỗ, đây
không phải là một hình thức liên kết để cùng nhau chia sẻ quyền lực, tạm
thời thỏa hiệp, mà là đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của giai cấp công nhân,
rất bền vững, lâu dài, với các mặt phong phú, đa dạng.
Vấn đề lớn nhất mà Hồ Chí Minh trăn trở, thường xuyên tìm kiếm là
các hình thức thực hiện mối quan hệ giữa nông dân với công nhân và trí
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.459.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.621-622.
20
thức. Quán triệt phép biện chứng mácxít về giải quyết mối quan hệ giữa cái
chung (xã hội) và cái riêng (từng giai cấp, tầng lớp xã hội), giữa ổn định và
phát triển, Hồ Chí Minh đã chủ động chỉ đạo các hình thức đan kết, cùng
một lúc phối hợp nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, sự phong phú, đa
dạng của các hình thức tìm kiếm đều phục vụ cho nhiệm vụ của từng thời kỳ
cụ thể và bị các điều kiện hiện thực chi phối; cùng một hình thức, trong
những thời điểm khác nhau lại có cách sự dụng riêng. Thông thường trong

mang bản chất giai cấp công nhân, Nhà nước của dân, do dân, vì dân đại
diện cho lợi ích toàn xã hội. Với tư cách là một hình thức thể hiện liên minh
công – nông – trí, quan hệ Nhà nước – nông dân chứa đựng hai nội dung:
quan hệ quyền lực (giữa một bộ phận hợp thành chủ thể quyền lực với quyền
lực xã hội chung) và quan hệ hợp tác dân sự (quan trọng nhất là trong kinh tế
để Nhà nước và nông dân cùng có lợi).
Dù thực hiện theo bất kỳ một hình thức nào, Hồ Chí Minh luôn yêu
cầu các hình thức quan hệ giữa nông dân với công nhân, trí thức đều phải
thiết thực, cụ thể, bộc lộ được định hướng và vai trò lãnh đạo của giai cấp
công nhân, làm cho liên minh công – nông – trí có nội dung xác định và đi
vào thực chất với sinh khí và sức hấp dẫn vốn có của đời sống hiện thực.
Những chỉ dẫn này của Hồ Chí Minh ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Theo
bác: “Công nhân phải giúp nông dân, giúp hợp tác xã cải tiến công cụ từ
những cái thô sơ trở đi… Một số nhà máy đã tổ chức giúp đỡ nông dân…
Mỗi nhà máy tùy sức mình mà làm. Nhưng giúp phải có kế hoạch và từ đầu
đến đuôi, chứ không phải lúc nào cao hứng thì giúp, không thì lại bỏ. Nên tổ
chức kết nghĩa giữa nhà máy và nông thôn. Tổ chức cho nông dân vào thăm
nhà máy, công nhân thăm quan nông thôn xem hợp tác xã cần gì thì nghiên
cứu giúp đỡ. Các cô, các chú thường nói công nông liên minh. Liên minh là
phải giúp nhau thật sự như vậy chứ không thì chỉ công nông liên minh đầu
22
miệng”
1
. Người còn chỉ dẫn rõ hơn: “Về chính trị, chính quyền của ta là do
giai cấp công nhân lãnh đạo và dựa trên nền tảng công nông liên minh.
Nhưng sự thực có nơi công nhân chưa lãnh đạo gì, chưa liên minh gì. Phải
làm cho công nhân thấy cần giúp nông dân. Phải biết tại sao phải giúp.
Muốn thế phải vận động chính trị, vận động tư tưởng làm cho công nhân
hiểu cần phải giúp nông dân và giúp như thế nào… phải giúp đỡ có kế
hoạch, từ đầu đến cuối, giúp cho có thủy có chung”

thời cũng củng cố vững chắc cơ sở xã hội của Nhà nước, nâng cao chất
lượng khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân. Bởi lẽ: “Khối
đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn luôn được củng
cố và phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
1
.
Điều này đặt ra yêu cầu phải đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ
thể đối với công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức, nâng cao chất lượng của
cả khối liên minh.
Đối với công nhân, coi trọng phát triển cả về số lượng và chất lượng,
nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp,
thực hiện “trí thức hóa công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo
công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng
cao, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới.
Đối với nông dân, ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn thông qua
thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa để họ thật sự trở
thành chủ thể năng động, sáng tạo, tự cải thiện đời sống, nâng cao dân trí,
tham gia xây dựng nông thôn mới.
Đối với trí thức, tạo điều kiện thuận lợi để họ thu nhận thông tin, tiếp
cận các thành tựu mới của khoa học, công nghệ của văn hóa thế giới, nâng
cao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn. Khuyến khích tự do sáng tạo
phát minh, cống hiến. Phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng đúng và đãi ngộ xứng
đáng các tài năng. Phát huy năng lực của trí thức trong việc thực hiện các
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001, tr.86.
24
chương trình, đề tài nghiên cứu của Nhà nước và xây dựng đường lối, chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status