Tư tưởng hồ chí minh về mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội ở việt nam và sự vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

..............................................................

ĐỖ THỊ HẢO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỤC TIÊU, ĐỘNG LỰC CỦA
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: CNXHKH
Mã số: 60220308

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Phạm Ngọc Anh

Hà nội - 2015


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu ....................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ........................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 4
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu ..................................................... 5
6. Đóng góp của luận văn ..................................................................................... 5
7. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn ...................................................... 5
8. Kết cấu của luận văn ........................................................................................ 5
B. NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỤC TIÊU, ĐỘNG LỰC CỦA

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 85


A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hồ Chí Minh không chỉ là một vị anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là
danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể
của Việt Nam và với phương pháp tiếp cận đúng đắn, khoa học, Người đã có
nhiều luận điểm sáng tạo góp phần làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác –
Nin, đặc biệt là trong cách tiếp cận tư tưởng về chủ nghĩa xã hội và con đường
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, đặc biệt
phải kể đến là tư tưởng của Người về mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Người xác định: mục tiêu căn
bản, bao trùm của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội. Việc xác định mục tiêu bao trùm trên đã được thực tiễn cách mạng Việt
nam hơn 70 năm qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. Đó cũng chính là bài
học xuyên suốt toàn bộ quá trình của cách mạng nước ta.
Bên cạnh đó, Người còn đưa ra mục tiêu trực tiếp, cấp bách của chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là: “ Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao
động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và
sống một đời hạnh phúc”[30;415]. Để đạt được các mục tiêu đó, theo Người, cần
phải khai thác mọi tiềm năng của dân tộc, của quốc tế, biết khéo léo sử dụng tổng
hợp sức mạnh của dân tộc, của thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thấm nhuần tư tưởng của Người, cho đến nay, sức sống của tư tưởng trên
vẫn đang được thể hiện trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
qua các kì Đại hội và đang đi vào cuộc sống của mọi người dân.
Tuy nhiên, quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội không hề đơn giản,
con đường đi tới chủ nghĩa xã hội không bằng phẳng, trơn tru, không ít khó khăn,

thống thì chủ yếu mới được đặt ra từ sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần
thứ VII (1991). Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là
tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Hiện nay, đã có
một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này:
Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam như:
1 - Tìm hiểu tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. TS. Vũ Viết Mỹ đã trình bày quá trình hình thành và

2


phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đã làm nổi bật bản chất,
đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra nội dung tư tưởng
của Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực và các điều kiện để phát huy động lực
của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2 - Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. GS.TS Mạch Quang Thắng đã đề cập đến một số vấn đề phương pháp
luận trong việc vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả nêu nên giá trị lí luận và thực
tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và một số vấn đề
cần bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
3 - “Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lí luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam (1986-2011)” GS.TS Hoàng Chí Bảo đã đưa ra các tác động của tình hình
thế giới và trong nước tới công cuộc đổi mới, thời cơ thách thức và những quan
điểm chủ yếu của quá trình đổi mới tư duy lí luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2011.

lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của
Đảng vào việc xác định mục tiêu, động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+ Trình bày cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động
lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;
+ Phân tích được nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực
của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;
+ Đánh giá quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng vào việc
xác định mục tiêu, động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng:Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam và sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng vào việc xác định
mục tiêu, động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
- Phạm vi: Trên sơ sở lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về mục
tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội, luận văn tập trung nghiên cứu nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,

4


đồng thời làm sáng tỏ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng vào việc xác
định mục tiêu, động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ 1986 đến nay.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lí luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội.
- Phương pháp nghiên cứu: Trên sơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đề tài sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu như: Phương pháp hệ thống, phương pháp logic - lịch sử,
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, gắn lí luận với thực

Theo quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, chủ nghĩa xã hội
chính là giai đoạn đầu, giai đoạn thấp hay một nấc thang của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đồng thời, các ông cho rằng đây không phải là một xã
hội đã hoàn chỉnh ngay một lúc mà nó có sự bổ sung, hoàn chỉnh cùng với sự vận
động, biến đổi của lịch sử xã hội.
Khi phân tích quy luật vận động của xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
phát hiện ra xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người và đi đến
kết luận rằng chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng một xã hội khác tiến bộ
hơn, đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.
C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản
đó là: mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa cao với quan
hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản
xuất, luận chứng tất yếu xã hội phải trực tiếp chiếm hữu tư liệu sản xuất. Vì vậy,
việc xóa bỏ chế độ tư hữu và xây dựng chế độ công hữu là tiêu chí đầu tiên của
chủ nghĩa xã hội. Vì theo các ông, đấy là nguồn gốc đẻ ra mọi áp bức, bóc lột,
bất công trong xã hội.
Kế thừa tư tưởng trên, V.I.Lênin nhận thấy rõ được tầm quan trọng của
việc xóa bỏ chế độ tư nhân tư bản chủ nghĩa. Ông cho rằng: chế độ sở hữu tư bản
chủ nghĩa là nguồn gốc gây ra mọi đau khổ của quần chúng nhân dân lao động.
Vì vậy, để giải phóng người lao động cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ
nghĩa và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Các nhà kinh điển coi đó
là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà V.I.Lênin

6


giải thích: chủ nghĩa xã hội là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất từ chủ nghĩa tư
bản, nhân loại chỉ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội nghĩa là chế độ công hữu
về các tư liệu sản xuất và chế độ phân phối sản phẩm theo lao động của mỗi
người. Đồng thời, đó cũng là cơ sở để phát triển một nền sản xuất có kế hoạch.
Việc điều tiết nền sản xuất theo một kế hoạch là một trong những đặc trưng cơ

cũng nhận thấy ở nước Nga lúc này lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp trong
khi đó quan hệ sản xuất lại là xã hội chủ nghĩa. Điều này tạo ra mâu thuẫn giữa
lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản
xuất tiên tiến với lực lượng sản xuất lạc hậu, V.I.Lênin đã đưa ra và thực hiện Chính
sách kinh tế mới ( NEP).
Chính sách kinh tế mới đã thực hiện đa dạng hóa các quan hệ sở hữu, đa
dạng hóa các cách thức tổ chức quản lý sản xuất, khơi dậy tính tích cực xã hội
của người lao động vừa bằng lợi ích vật chất, vừa bằng giáo dục và động viên về
lí tưởng, sử dụng chuyên gia tư sản bằng cách trả lương cao và tạo những điều
kiện tốt nhất để họ làm việc, đồng thời tranh thủ thời gian ngắn nhất đào tạo
chuyên gia khoa học kĩ thuật trên các lĩnh vực … Chỉ sau vài năm thực hiện
Chính sách kinh tế mới, nước Nga đã đạt được những thành tự to lớn, không
ngừng phát triển lực lượng sản xuất, xác lập quan hệ sản xuất mới thích hợp để
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.
Tuy nhiên, sau khi khôi phục kinh tế, Liên Xô vẫn là một nước nông
nghiệp lạc hậu. Vì vậy, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô lúc này là phải
xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện mục tiêu
đó, Liên Xô phải thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Công
nghiệp hóa ngày càng mở rộng đòi hỏi cần phải có những kế hoạch dài hạn với
những mục tiêu cụ thể cho từng thời kì đó là các kế hoạch 5 năm phát triển kinh
tế - xã hội. Các kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928-1932), lần thứ hai (19331937) đều được hoàn thành trước thời hạn…Nhờ vậy, Liên Xô đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn vươn lên trở thành cường quốc đứng thứ hai trên thế giới, chỉ
sau Mĩ.
* Về động lực
Theo các nhà kinh điển, động lực của chủ nghĩa xã hội không phải là một
động lực mà là hệ động lực gồm cả vật chất và tinh thần, cả trong và ngoài nước.
Trước hết là động lực về lợi ích vật chất
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả những gì mà con người đấu
tranh để giành lấy đều dính liền với lợi ích của họ: và một khi tư tưởng tách rời
khỏi lợi ích thì nhất định nó sẽ làm nhục nó” [45; 126]. Có nghĩa là, mọi hoạt

điều đó. Điều đó có nghĩa là việc sản xuất theo hình thức tự cung tự cấp, trao đổi
hàng hóa lúc này không còn phù hợp nữa mà thay vào đó cần phải phát triển lưu
thông tiền tệ và mua bán bằng tiền mặt… nhằm khơi dậy các động lực sản xuất
vật chất, động lực kinh tế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

9


Thứ hai: Động lực chính trị
Khi đề cập đến cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có nhiều luận điểm về
động lực chính trị trong quá trình cách mạng. Các ông cho rằng : “tất cả những
phong trào lịch sử từ trước đến nay, đều do thiểu số thực hiện, hoặc đều mưu lợi
ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu
lợi ích cho khối đại đa số” [ 46; 611].
Chúng ta thấy rằng, hầu hết các phong trào đấu tranh trước kia dù của giai
cấp chủ nô, giai cấp phong kiến hay giai cấp tư sản đều do các giai cấp này thực
hiện và sau khi hoàn thành cách mạng thì đều đem lại lợi ích cho giai cấp thống
trị. Còn đại đa số nhân dân lao động không được một chút quyền lợi gì cả. Họ
vẫn sống cực khổ và bị áp bức bóc lột. Đa số các cuộc cách mạng trước đó chỉ là
sự thay thế hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác mà thôi.
Tuy nhiên, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa lại khác hoàn toàn về chất
so với các cuộc cách mạng trước đó. Vì đây là cuộc cách mạng do đại đa số nhân
dân thực hiện và sau khi hoàn thành rồi thì nó đem lại lợi ích cho đại đa số nhân
dân lao động.
Đó chính là “động lực chính trị” trực tiếp nhất biểu hiện lợi ích và động
lực kinh tế của giai cấp công nhân và đại đa số nhân dân lao động trong tiến trình
cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời, C.Mác và Ph.Ăngghen còn cho rằng trong quá trình tiến hành
cách mạng xã hội chủ nghĩa cần phải “tạo ra một chế độ dân chủ” [46; 469] vừa

chính trị, lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội – Một sự nghiệp chưa
từng có tiền lệ kinh nghiệm về chính trị, khi Đảng Cộng sản và giai cấp công
nhân lãnh đạo xây dựng cả chế độ xã hội chủ nghĩa non trẻ, không thể không mắc
sai lầm, những thất bại, thậm chí rất nghiêm trọng, tạo ra “những bước lùi” tạm
thời.Tuy nhiên, vấn đề là cần phải nhận thức và sửa chữa được những sai lầm đó.
Thứ ba: là động lực văn hóa tinh thần
Khi đề cập đến động lực tinh thần trong cách mạng vô sản, C.Mác và
Ph.Ăngghen đặc biệt coi trọng vấn đề nhận thức lý luận như một động lực rất cơ
bản và to lớn để phát triển phong trào công nhân, phát động, giác ngộ và tổ chức
quần chúng trong cách mạng vô sản vì: “Lý luận đóng vai trò quyết định trong
việc làm cho giai cấp vô sản ý thức được lợi ích của mình”.
Ngay trong các tác phẩm đầu tay của mình, Ph.Ăngghen đã nhận rõ vai trò
động lực của vấn đề giáo dục, của sự giác ngộ trong phong trào công nhân để có

11


năng lực làm cách mạng vô sản. Ông cho rằng: sở dĩ giai cấp công nhân Anh có
năng lực chống lại sự bạo ngược một cách mãnh liệt như thế đó là nhờ sự giáo
dục của họ.
V.I.Lênin, ngay từ khi lãnh đạo nước Nga bước vào thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (Thời kì thực hiện Chính sách kinh tế mới), đã chú trọng cả những
động lực kinh tế, chính trị, lẫn các động lực về văn hóa tinh thần. Người đã chỉ
rõ: “Chính sách kinh tế mới cũng có ý nghĩa về mặt giáo dục nữa….ở nước ta
không còn chỗ cho những người không chịu học tập đến nơi đến chốn…Đứng về
mặt cần thiết phải học tập thật nhanh mà xét, thì mọi sự lơ là đều là tội lỗi rất
nặng” [42; 208 - 210].
Sau khi cách mạng Tháng 10 Nga thành công năm 1917, nước Nga lúc đó
về cơ bản vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp. Sau khi hoàn
thành công cuộc khôi phục kinh tế, nước Nga vẫn là một nước nông nghiệp lạc

trước đó. Vì vậy, Ở Việt Nam chúng đã tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn
điền như cà phê, cao su, hồ tiêu…,đầu tư khai thác tài nguyên, xây dựng một số
cơ sở công nghiệp, xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng nhằm phục vụ
lợi ích cho chúng. Chính sách khai thác đó của Pháp đã tạo ra sự chuyển biến đối
với nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngành kinh tế mới…), nhưng dẫn
đến hậu quả là nền kinh tế nước ta phát triển một cách què quặt, không cân đối,
kinh tế nước ta bị lệ thuộc vào nền kinh tế của Phápvà bị kìm hãm trong vòng lạc
hậu “ khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”[22; 2].
Về văn hóa - xã hội: Thực dân Pháp đã thực hiện chính sách văn hóa giáo
dục thực dân, dung túng, duy trì các thủ tục lạc hậu. “Chúng lập ra nhà tù nhiều
hơn trường học…, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu,
cồn để làm cho giống nòi ta suy nhược” [22; 2].
Dưới chính sách cai trị của Pháp, đã làm cho tính chất xã hội Việt Nam
thay đổi chuyển từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa
nửa phong kiến, cơ cấu giai cấp có sự phân hóa sâu sắc. Ngoài hai giai cấp cũ là
địa chủ phong kiến và nông dân, xã hội Việt Nam xuất hiện thêm một số giai cấp
và tầng lớp mới là giai cấp công nhân, tư sản và tầng lớp tiểu tư sản.
Mặt khác, khi Pháp xâm lược nước ta, nhiều phong trào đấu tranh chống
Pháp đã nổ ra như: Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết
khởi xướng theo khuynh hướng phong kiến; cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế
do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo diễn ra từ năm 1884 kéo dài đến năm 1913. Kết
quả đều thất bại. Sự thất bại của các phong trào trên chứng tỏ giai cấp phong kiến

13


và hệ tư tưởng phong kiến đã trở nên lỗi thời và lạc hậu, không đủ điều kiện để lãnh
đạo phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.
Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa trên, đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước
dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư


Vì vậy, ngày 5/6/1911, Người đã quyết định rời quê hương sang phương
Tây tìm một con đường cứu nước mới. Người đã trải qua nhiều châu lục trên thế
giới. Nơi Người ở lại lâu nhất là Pháp. Lần đầu tiên khi đặt chân lên cảng
Mácxây, Người thấy có người gọi Người là “Ông”. Người cảm nhận thấy, “ở
Pháp cũng có người nghèo như bên ta”, “người Pháp ở Pháp tốt và lễ phép hơn
người Pháp ở Đông Dương”. Nhận thức ấy lại được nhân lên ở một mức sâu sắc
hơn khi Người có điều kiện tiếp xúc cuộc sống khổ cực của giai cấp công nhân
và nhân dân các nước thuộc địa. Người nói: “những người Pháp ở Pháp phần
nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân lại rất hung ác và vô nhân đạo. ở
đâu chúng nó cũng thế … đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa
da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.
Từ đó, Người đã phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù. Người đã nhận
thức rõ hơn bản chất của kẻ thù dân tộc là một bộ phận phản động Pháp đi xâm
lược, còn nhân dân Pháp chính là bạn của nhân dân Việt Nam. Kẻ thù của dân tộc
Việt Nam cũng chính là kẻ thù của các dân tộc bị áp bức và nô lệ trên thế giới.
Năm 1917, khi đang hoạt động ở Pháp, đúng lúc đó cách mạng tháng
Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi đã làm chấn động trên toàn thế giới. Từ đó,
Người hướng tới tìm hiểu cuộc cách mạng ấy. Tuy nhiên, sự tham gia một cách
nhiệt thành để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga lúc bấy giờ chưa phải là
Người đã nhận thức được đầy đủ cái ý nghĩa vĩ đại của cuộc cách mạng đó với
thế giới. Hơn nữa, cho đến lúc ấy, Người cũng chưa có dịp đọc một tác phẩm nào
của Lênnin viết. Nhưng sự kiện trên là một bước khởi đầu rất quan trọng để
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Lênin, đến với Cách mạng Tháng Mười Nga
và tìm thấy ở đấy con đường giải phóng dân tộc, con đường phát triển tương lai
của đất nước. Vào năm 1960, Hồ Chí Minh viết: “Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách
mạng Tháng Mười chỉ theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng
lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin, vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải
phóng đồng bào mình, trước đó tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin
viết” [30; 561].

Sau khi tìm ra cho cách mạng Việt Nam con đường cứu nước đúng đắn,
Người đã ra sức chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho việc thành lập một
chính Đảng ở Việt Nam. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo, tích cực của Nguyễn Ái Quốc
dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1930. Sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng nước ta. Đảng
ra đời đã đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn xác định mục tiêu của cách
mạng nước ta là: sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân sẽ đi lên

16


xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng cũng xác định lực lượng chính
(động lực) của cách mạng là công nhân, nông dân, trí thức.
1.1.2.2. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
* Ở Liên Xô
Cuộc cách mạng Tháng 10 Nga thành công năm 1917, lần đầu tiên trong
lịch sử thế giới đã đưa nhân dân lao động Nga từ địa vị nô lệ nên địa vị làm chủ
nước nhà, lập nên được chính quyền của nhân dân lao động, xây dựng được một
xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có trạng người bóc lột người. Đồng thời,
thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử xã
hội loài người – Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới.
Chính những thành tựu của cách mạng Tháng 10 Nga mang lại đã thúc
đẩy Nguyễn Ái Quốc hướng tới nghiên cứu tìm hiểu về cuộc cách mạng này.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, tìm hiểu về cuộc cách mạng tháng 10 Nga
kết hợp với việc đọc sách báo của V.I.Lênin, Người đã quyết định đưa cách
mạng Việt Nam đi theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.
Sau cách mạng Tháng 10, nước Nga lại bước vào thời kì nội chiến. Đảng
Cộng sản Nga đứng đầu là V.I.Lênin đã đề ra Chính sách cộng sản thời chiến.
Nhờ thực hiện Chính sách cộng sản thời chiến, nước Nga Xô viết đã cung cấp đủ

dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô tạm thời bị gián đoạn.
Năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên Xô là nước chiến
thắng nhưng bị tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, với tinh thần tự lực, tự cường Liên
Xô đã hoàn thành kế hoạch 5 năm khôi phục kinh tế (1946 – 1950) trước thời hạn
9 tháng. Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc
quyền vũ khí hạt nhân của Mĩ. Liên Xô đạt được nhiều thành tựu trong công
nghiêp, nông nghiệp, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học - kĩ thuật, quân sự.. trở
thành cường quốc công nghiệp thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ.
Về đối ngoại, Liên Xô thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và tích cực
ủng hộ phong trào cách mạng thế giới; đấu tranh cho hoà bình, an ninh thế giới,
kiên quyết chống chính sách gây chiến của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản
động; tích cực giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất
nước; ủng hộ các phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội.

18


* Ở Đông Âu
Trong những năm 1944 – 1945, cùng với quá trình Hồng quân Liên Xô
truy kích quân đội phát xít Đức, nhân dân Đông Âu đã nổi dậy giành chính
quyền, thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân. Sau đó, các nước này bước vào
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong những năm 1950 – 1975, các nước
Đông Âu đã thực hiện nhiều kế hoạch 5 năm nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kĩ
thuật của chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu to lớn.Từ chỗ là những
nước nghèo, các nước Đông Âu đã trở thành những quốc gia công – nông nghiệp.
Sản lượng công nghiệp tăng lên gấp hàng chục lần, nông nghiệp phát triển nhanh
chóng, trình độ khoa học – kĩ thuật được nâng lên rõ rệt.
Thành tựu đó đã làm biến đổi đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các
nước, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, làm cho chủ nghĩa xã hội trở

Đến những năm 50, 60 của thế kỉ XX, khi miền Bắc bước vào thời kì xây
dựng chủ nghĩa xã hội, Người đã xác định rõ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là
thỏa mãn các nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người: Chủ nghĩa xã hội
trước hết là nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi
người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc; hoặc ở một
mức độ khái quát cao hơn: Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không ngừng cải
thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, cả đời sống vật chất và đời sống tinh
thần. Đây là cách diễn đạt mà Người thường dùng nhất.
Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn
đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân;
đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là
mục tiêu tổng quát theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng chính là khát vọng, mong muốn cháy
bỏng mà Hồ Chí Minh hy sinh cả cuộc đời mình để phấn đấu vươn tới: xây dựng
một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của thế giới.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về khát vọng, về mục tiêu cao cả của chế độ
xã hội mới - chủ nghĩa xã hội - rất gần với triết lý nhân sinh của Phật giáo: “Dĩ
chúng tâm vi kỷ tâm” (lấy cái tâm của người khác làm cái tâm của chính mình).
Vì thế, cách nói và diễn đạt này dễ đi vào lòng người, dễ được chấp nhận, bởi nó
không hoàn toàn xa lạ với tâm thức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bằng
cách xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh cho thấy, khi đề cập
đến một vấn đề hiện đại, Người vẫn đứng trên mảnh đất cội rễ truyền thống Việt

20


Nam, tạo nên một dòng chảy văn hoá liền mạch từ quá khứ, qua hiện tại, để
hướng tới tương lai theo một hệ chuẩn giá trị nhất quán, nhân văn và nhân đạo.

21


* Các mục tiêu cụ thể
- Về chính trị:
Theo Hồ Chí Minh, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ
chính trị phải là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm
chủ; Nhà nước là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước có hai chức năng: dân chủ
với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Hai chức năng đó không
tách rời nhau, mà luôn luôn đi đôi với nhau. Một mặt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh
phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; mặt khác, lại
yêu cầu phải chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân,
chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ con đường
và biện pháp thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt
động của các tổ chức chính trị – xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức
dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập
pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng.
Hồ Chí Minh xác định rõ dân chủ như một giá trị phổ biến mà loài người
mong muốn và đến chế độ xã hội chủ nghĩa, giá trị phổ quát này mới đạt đến
mức độ hoàn bị nhất. Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được
Người diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, nhưng ẩn chứa nhiều điều lớn
lao, hệ trọng: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân; chế độ ta là chế độ dân
chủ, tức là nhân dân là người chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền
hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Mặt khác, Người còn
xác định dân chủ như một động lực của sự phát triển: thực hành dân chủ là chiếc
chìa khoá vạn năng giải quyết mọi khó khăn; dân chủ là chìa khoá của mọi tiến
bộ và phát triển… Quan niệm này đặt nền tảng và giữ vai trò chủ đạo trong lý
luận xây dựng Nhà nước, xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nhất là
trong điều kiện Đảng cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo hệ thống chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status