LUẬN VĂN: Lý luận của lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng lý luận đó ở việt nam hiện nay - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Lý luận của lê nin về chủ nghĩa tư
bản nhà nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội và sự vận dụn lý
luận đó ở việt nam hiện nay A. phần mở đầu
Lênin là người Mac-Xit đầu tiên đã có công nghiên cứu sâu sắc vấn đề Chủ nghĩa
tư bản Nhà nước trong rất nhiều tác phẩm của mình, xay dựng nên những nền tảng lý luận
về Chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong điều kiện chuyên chính vô sản. Và đã áp dụng lý
luận này vào nước Nga sau thời kỳ cộng sản thời chiến.
Sau khi thấy rõ sự thất bại trong cái ý định dùng phương pháp “xung phong”,
nghĩa là dùng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất
và phân phối theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, cùng với tình hình chính trị lúc đó Lênin
nhận thấy cần phải rút lui về vị trí của chủ nghĩa tư bản Nhà nước, cần phải chuyển từ
“xung phong” sang “bao vây”. Sự chuyển đổi ấy được đánh dấu bằng chính sách kinh tế
mới (N.E.P).
Khi chuyển sang NEP, Lênin đã thẳng thắn thừa nhận “Toàn bộ quan điểm chủ
chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về cơ bản”. Lênin nhấn mạnh rằng, chủ nghĩa tư
bản Nhà nước ở trong một nước mà chính quyền thuộc về tư bản, và chủ nghĩa tư bản
Nhà nước ở trong một Nhà nước mô sản, đó là hai khái niệm khác nhau. Lênin còn chỉ rõ

quan hệ với các thành phần kinh tế khác để phát huy có hiệu quả các nguồn lực đẩy mạnh
đất nước theo những mục tiêu đã hoạch định. Bài viết này góp phần làm rõ vấn đề đã nêu
trên.
B. phần nội dung
Chương I :
Lý luận của lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội.
1. Những tư tưởng của Lênin về chủa nghĩa tư bản Nhà nước trong hệ thống
chính sách kinh tế mới (N.E.P).
Sau cuộc thí nghiệm trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện
khó khăn chưa từng thâý, trong điều kiện nội chiến, trong điều kiện giai cấp tư sản buộc
nước Nga Xô Viết phải tiến hành cuộc đấu tranh ác liệt thì đến mùa xuân năm 1921,
những người cộng sản Nga đã nhận thấy rõ là chưa nên xây dựng trực tiếp chủ nghĩa xã
hội, mà trong nhiều lĩnh vực kinh tế cần phải lùi về phía chủ nghĩa tư bản Nhà nước, từ
bỏ biện pháp tấn công chính diện và bắt đầu chuyển sang một cuộc bao vây lâu dài,
không thích thú, khó khăn và gian khổ. Sự chuyển đổi ấy được đánh dấu bằng “Chính
sách kinh tế mới”.
Toàn bộ nội dung chính sách kinh tế có thể được khái quát thành chính sách phát

sẽ nảy nở ở những nơi mà trước đây chúng không thể nảy nở được. Từ đó thấy được sự
cần thiết phải dung nạp chủ nghĩa tư bản vì nó cần cho đông đảo quần chúng nông dân và
cho tư bản tư nhân là người buôn bán để thỏa mãn được quần chúng nông dân và cho tư
bản tư nhân là người buôn bán để thoả mãn được nhu cầu của nông dân. Vì thế cần phải
tổ chức công việc như thế nào cho tiến trình bình thường nền kinh tế tư bản Nhà nước và
của việc lưu thông tư bản chủ nghĩa có thể có được, vì điều đó cần thiết cho nhân dân. ở
đây đã diễn ra một điều mà chính Lênnin cũng phải nói “Hình như là ngược đời: chủ
nghĩa tư bản tư nhân lại đóng vai trò trợ thủ cho chủ nghĩa xã hội”, “Có thể sử dụng chủ
nghĩa tư bản tư nhân để xúc tiến cho chủ nghĩa xã hội”. Nhưng muốn không thay đổi bản
chất của mình, Nhà nước vô sản chỉ có thể thừa nhận cho chủ nghĩa tư bản được phát
triển trong một chừng mực nào đó và chỉ với điều kiện là thương nghiệp tư nhân và tư
bản tư nhân phải phục tùng sự điều tiết của Nhà nước và những biện pháp có tính chất
Nhà nước từ bên trên.
Như vậy trong điều kiện Nhà nước vô sản, tự do trao đổi, tự do mua bán dẫn đến
sự phục hồi chủ nghĩa tư bản dưới hình thức chủa yếu là chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Trong điều kiện một nước mà chủ nghĩa tư bản tiểu tư sản chiếm ưu thế, hàng hoá
chỉ có thể có được từ nông dân, từ nông nghiệp. Và như vậy chỉ có nông sản hàng hoá
nàu trao đỏi với nông sản hàng hoá khác, điều đó dữ không kích thích nông dân, nông
nghiệp phát triển. Phải có hàng hoá mà nông dân cần. Mà muốn có những hàng hoá đó
phải dựa vào sự phát triển thủ công nghiệp và công nghiệp. Nhưng tỷong một nước bị tàn
phá kiệt quệ sau 7 năm chiến tranh, tuyệt đại đa số nhân dân là nông dân cũng bị phá sản
sẽ không giải quyết được ngay vấn đề này nêú không có sự giúp đỡ cảu tư bản”.
Lênin nói rõ : có sự giúp đỡ của tư bản nước ngoài. Theo Lênin cần phải “du
nhập” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài bằng những hợp đồng buôn bán với các nước tư bản
lớn, bằng chính sách tô nhượng, tóm lại bằng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa
tư bản Nhà nước.
2. Vai trò của chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội.

chủ nghĩa xã hội, ở nước tiểu nông tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa tư bản Nhà nước là một bước tiến lớn, nhờ nó mà chiến thắng được tình
trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế của giai cấp ấy là cái quan trọng hơn hết.
Chính vì thế mà chủ nghĩa tư bản Nhà nước sẽ đưa nước Nga lên chủ nghĩa xã hội bằng
con đường chắc chắn nhất.
Chủ nghĩa xã hội Nhà nước còn là công cụ để khắc phục được “kẻ thù chính trong
“nội bộ” đất nước, kẻ thù của các biện pháp kinh tế” của chính quyền Xô Viết. Đó là bọn
đầu cơ, bọn gian thương, bọn phá hoại độc quyền của Nhà nước.
Chủ nghĩa tư bản Nhà nước còn được xem là công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa
quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ nghĩa. Lênin phân tích về nguồn gốc kinh tế
của chủ nghĩa quan liêu ở nước Nga : ấy là tình trạng riêng lẻ, tình trạng phân tán của
những người sản xuất nhỏ, cảnh khốn cùng của họ, tình trạng dốt nát của họ, tình trạng
không có đường xã, nạn mù chữ, tình trạng không có sự trao đổi giữa Nông nghiệp và
Công nghiệp, tình trạng thiếu sự liên hệ và tác động qua lại giữa Nông nghiệp và Công
nghiệp.
Thông qua Chủ nghĩa tư bản mà giai cấp công nhân có thể học tập được cách tổ
chức và quản lý một nền sản xuất lớn. Khi ấy giai cấp công nhân Vô sản Nga, so với bất
cứ giai cấp Vô sản ở các nước phát triển nào khác là giai cấp tiên tiến hơn về cấp độ
chính trị của nước mình và về sức mạnh cảu chính quyền công nông, nhưng lạc hậu hơn những nước lạc hậu nhất ở Tây Âu về mặt tổ chức một Chủ nghĩa tư bản Nhà nước có
quy củ, về trình độ văn hoá, về mức độ chuẩn bị cho việc “thực hiện” Chủ nghĩa xã hội
trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Chủ nghĩa tư bản Nhà nước (nếu thực hiện được) sẽ giúp
cho chính quyền Xô Viết khắc phục dần được tình trạng lạc hậu ấy. Cũng qua đây mà họ
tập được cách tổ chức của “những người thông minh và có kinh nghiệm”, trong những xí
nghiệp hết sức to lớn thực sự đảm nhận được việc cung cấp sản phẩm cho hàng chục triệu
người.
Chủ nghĩa tư bản Nhà nước thông qua sự “du nhập” của tư bản từ bên ngoài là
hình thức du nhập tiến bộ kỹ thuật hiện đại ; qua đó mà hy vọng được trình độ trang bị

xuất XHCN, và thu được lợi nhuận của tư bản mà mình bỏ ta, rồi nộp cho Nhà nước
CHCN một phần sản phẩm. Tô ngượng là hình thức kinh tyế mà hai bên cùng có lợi. Nhà
tư bản kinh doanh theo phương thức tư bản cốt để thu được lợi nhuận bất thường, siêu
ngạch hoặc để có được loại nguyên liệu mà họ không tìm được hoặc khó tìm được bằng
cách khác. Chính quyền Xô Viết cũng có lợi : Lực lượng sản xuất phát triển, số lượng sản
phẩm tăng lên.
Hình thức Tô nhượng là sự “du nhập” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài vào. Tất cả
khó khăn trong nhiệm vụ này là phải cân nhắc, phải suy nghĩ hết mọi điều khi ký hợp
đồng tô nhượng và sau đó phải biết theo dõi việc chấp hành nó.
Trong Báo cáo về Tô nhượng, Lênin đã nêu ra những điều cần phải cần phải chú ý
như sau:
- Để thực hành Chủ nghĩa tư bản Nhà nước (Tô nhượng) cần phải từ bỏ Chủ nghĩa
ái quốc địa phương của một số người cho rằng tự mình có thể làm lấy, không chấp nhận
trở lại ách nô dịch của tư bản. Lênin nêu rõ càn phải sẵn sàng chịu đựng cả một loạt hy
sinh thiếu thốn và bất lợi miễn sao có được sự chuyển biến quan trọng và cải thiện tình
trạng kinh tế trong các ngành công nghiệp chủ yếu.
- Người tô nhượng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí nghiệp tô
nhượng sao cho đạt tới mức sống trung bình của người nước ngoài. Cải thiện đời sống
cảu công nhân các xí nghiệp tô nhượng và ngoài tô nhượng được xem là “cơ sở của chính
sách tô nhượng”. - Ngoài ra người nhận tô nhượng phải bán thêm cho Chính quyền Xô Viết (nếu có
yêu cầu) từ 50 đến 100% số lượng sản phẩm tiêu dùng cho các công nhân ở Xí nghiệp Tô
nhượng cũng với giá bán như trên, làm như vậy để cải thiện đời sống công nhân khác.
- Vấn đề trả lương cho công nhân ở các xí nghiệp tô nhượng sẽ được quy định theo
sự thoả thuận riêng của từng hợp đồng.
- Điều kiện về thuê mướn, về sinh hoạt vật chất, về trả lương cho công nhân lành
nghề và nhân viên người nước ngoài được quy định theo sự thoả thuận tự do giữa hai bên,
Công đoàn không có quyền trong việc này.

Trong báo cáo tại Đại hội IV quốc tế Cộng sản, Lênin đã nói về những thành tựu
đạt được do thực hành chế độ chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Khi nói về lĩnh vực thương
nghiệp, chính quyền Xô Viết đã cố gắng lập ra những Xông ty Hợp doanh, thành lập theo
thể thức tiền vốn một phầm là của tư bản tư nhân, ngoài ra của tư bản nước ngoài và một
phần là của chính quyền Xô Viết.
Đó là một số hình thức của CNTBNN có thể rút ra từ thực tiễn thực hành chế độ
này và được Lênỉntình bày khi thì tập trung, khi thì rải rác ở một số tác phẩm.
4. Kết quả thực hiện CNTB Nhà nước.
Sự thực hành CNTBNN đã mang lại những kết quả lớn. Đến tháng 11 năm 1922
Lênin đã trình bày khái quát những thành tựu của chính sách kinh tế mở nói chung,
CNTBNN nói riêng như sau:
Trước hết và chủ yếu là tình hình giai cấp nông dân. Từ chỗ đói kém, bất bình đến
chỗ nông dân chẳng những đã thoát khỏi nạn đói mà còn nộp được thuế lương thực hàng
trăm triệu pút. Từ những cuộc bạo động mang tính chất phổ biến năm 1921, nông dân đã
hài lòng với tình hình của họ.
Công nghiệp nhẹ đang có đà phát triển đời sống của công nhân được cải thiện, tình
hình bất mãn của công nhân không còn nữa. Công nghiệp nặng tuy vẫn còn khó khăc nhưng đã có sự thay đổi nhất định. Lý do
là không có những khoản cho vay lớn hàng mấy trăm triệu đôla. Chính sách tô nhượng thì
hay thật nhưng cho đến lúc ấy (1922) vẫn chưa có một tô nhượng sinh lợi nào trong công
nghiệp nặng. Không hy vọng vay được ở các nước giàu có, các nước đế quốc vẫn đang
muốn bóp chết Nhà nước XHCN non trẻ. Tuy nhiên, nhờ chính sách kinh tế mới mà thu
được một số vốn lớn hơn 20 triệu rúp vàng (nhờ thương nghiệp mà có vốn ấy). Điều quan
trọng nữa là tiết kiệm về mọi mặt, kể cả những chi phí về trường học đã cứu vãn công
nghiệp.
Riêng về chính sách Chủ nghĩa tư bản Nhà nước đã có những tác dụng tích cực
nhất định góp phần làm sống động nền kinh tế nước Nga đã bị suy sụp sau chiến tranh.
Nhờ tô nhượng với nước ngoài nhiều nhành công nghiệp quan trọng (đặc biệt là nhành

cá thể ở nước ta đã được mở rộng, hiện cung cấp khoảng 2/3 tổng sản phẩm trong nước.
Cần hướng kinh tế này vào con đường chủ nghĩa tư bản Nhà nước.
Sự phát triển kinh tế nói chung và việc thực hành đường lối chủ nghĩa tư bản Nhà
nước nói riêng ở nước ta đặt trong cục diện chung của thế giới có nhiều thuận lợi.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở cuối thể kỷ XX đến nay đã mang đến
những đảo lộn lớn lao trong cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiến trúc thượng tầng, trong thế
chế chính trị kinh tế, xã hội, trong quan hệ quốc tế, trong kết cấu giai cấp và xã hội Đó
là sức mạnh thời đại. Sức mạnh này có thể đưa một nền kinh tế kém phát triển cất cánh
lên một cách nhẹ nhàng nếu nước đó biết nắm bắt thời cơ và biết đi đúng hướng.
Đất nước ta có hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho việc bình thường hoá quan hệ kinh
tế quốc tế trong đó có sự “du nhập” CNTB từ bên ngoài, từ các nước tư bản phát triển.
Nước ta nằm ngay giữa khu vực phát triển năng động nhất của thế giới ngày nay,
là vùng vành đai Thái Bình Dương thuộc khu vực Châu á. Về khách quan, các nước phát
triển không thể không mở rộng ảnh hưởng và tìm những nguồn đầu tư mới ở vùng này.
Chỉ cần có một chính sách hợp tác khu vực đúng đắn với chính sách kinh tế mềm dẻo
chúng ta có thể thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài dưới những hình thức khác nhau
của chủ nghĩa tư bản Nhà nước.
Sự phát triển mạnh mẽ của lượng sản xuất trong một nền sản xuất toàn cầu hoá,
trong một nền kinh tế thế giới đang chuyển hoá thành một thể thống nhất, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng lên. Phụ thuộc lẫn nhau là ta cần
người và người cũng cần ta. Các nước công nghiệp phàt triển đang chuyển sang một cơ
sở vật chất kỹ thuật mới về cho nên về khách quan họ có nhu cầu chuyển nhượng những
kỹ thuật được gọi là truyền thống cho những nước kém phát triển. Điều này cũng tạo ra
một só thuận lợi cho chúng ta trong việc thu hút những kỹ thuật đó và các nguồn vốn gắn
với kỹ thuật ấy từ các nước phát triển về công nghiệp.
Cũng phải nói đến mặt mạnh của đất nước ta có thu hút đối với tư bản nước ngoài.
Cái mà chủ nghĩa tư bản thế giới cần là sự chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường (dĩ
nhiên là theo quan điểm của họ), thì chúng ta đã bắt đầu (dĩ nhiên là theo mục đích của

sở trong nước ở bên ngoài và cơ sở trong nước liên doanh với nước ngoài. Nên tích cực,
chủ độngtìm bạn hàng, đặt quan hệ nhiều hãng, trước hết là các tập đoàn xuyên quốc gia,
kinh doanh nhiều ngành. Bởi vì những tập đoàn này có đặc trưng là rất linh hoạt, có
những quan hệ bền vững với nhiều nước, có bộ máy tiêu thụ đã được xếp đặt hoàn hảo.
Nhưng còn mặt trái của tấm huy chương cần phải lưu ý. Chẳng hạn như trong phân công
lao động thì các nước kém phát triển thường được phân công làm những quy trình công
nghệ cần nhiều lao động giản đơn, luồng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến không có là bao.
Các Công ty liên doanh thường đầu tư lớn vào các nước phát triển để sử dụng tiềm lực
khoa học lớn ở nơi đây nhằm đón trước các thành tựu khoa học - kỹ thuật. Như vậy, trong
buổi đầu liên doanh cũng khó mà hy vọng vào những nguồn đầu tư lớn từ bên ngoài.
Việc lựa chọn cơ sở trong nước để liên doanh với nước ngoài cũng cần phải xem
xét cẩn thận nếu không muốn “đánh mất mình”. Ngoài yếu tố phẩm chất chính trị của
những nhà quản lý, còn phải tính đến phẩm chất kinh doanh đạt chất lượng cao, nhờ đó
mà giành được sự tín nhiệm.
2.2. Công ty cổ phần với tính cách là hình thức kinh tế tư bản Nhà nước và cổ
phần hoá xí nghiệp để thành lập xí nghiệp tư bản Nhà nước.
Công ty cổ phần xuất hiẹn là một tất yếu khách quan, cho yêu cầu tập trung tư bản
và có vai trò rất lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất. Khi xuất hiện Công ty cổ
phần có nhiều dạng. Xét theo khả năng chuyển nhượng cổ phiếu mức quy định vốn pháp
định tối thiểu, chia Công ty cổ phần làm hai loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công
ty vô danh. Trong điều kiện hiện nay, trong nền kinh tế nhiều thành phần Công ty cổ phần
được xem là một tất yếu kinh tế, sự tồn tại của nó không những chỉ là kết quả của quá
trình tích tụ vốn mà còn là nhu cầu khách quan của việc củng cố tính hiệu quả nền kinh tế
nhiều thành phần nói chung, của quốc doanh nói riêng.
Cùng với việc xây dựng các Công ty cổ phần bắt đầu từ việc bán cổ phần và thu
hút, Công ty cổ phần còn được thành lập trên cơ sở các xí nghiệp quốc doanh bằng biện
pháp “cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước”.

nước đơn độc, thuần tuý, mà có nhiều hình thức cụ thể, như gồm cả hình thức tô nhượng,
liên doanh, cho tư bản nước ngoài thuê.v.v
Hiện nay ở nước ta đang chủ trương thí điểm thành lập khu chế xuất ở Tân thuận,
vì vấn đề còn hết sức mới mẻ nên cần tham khảo kinh nghiệm các khu chế xuất trên thế
giới.
2.5. Cho tư bản trong và ngoài nước, cho nông dân thuê các cơ sở sản xuất
Kinh doanh và các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân.
Đây cũng là một hình thức kinh tế tư bản Nhà nước được Lênin rất coi trọng.
Trong cải cách, đổi mới kinh tế hiện nay ở nhiều nước đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa và đã thực hiện hình thức kinh tế này.
Không thể liệt kê toàn bộ dạn mục các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước trong
nông nghiệp vì quá trình thực hiện mới chỉ vừa bắt đầu. Nhưng việc sử dụng các hình
thức kinh tế này trong nông nghiệp cũng phải được coi là “cần thiết, có lợi, đáng mong
đợi”. Đó là con đường hữu hiệu nhất để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất trong
nông nghiệp, chuyển nền sản xuất từ phân tán đến tập trung, từ nền nông nghiệp nửa tự
nhiên, tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá. Đó là con đường xã hội hoá sản xuất nông
nghiệp trong thực tế.
2.6. Các Tổ chức hợp tác liên doanh với tính cách là các hình thức kinh tế tư
bản Nhà nước.
Những hợp tác xã được Tổ chức theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thực
hiện phân phối theo lao động có sự hỗ trợ của Nhà nước, sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng
Cộng Sản thì chúng thuộc thành phần kinh tế tập thể mà chúng ta vẫn thường nói là một
thành phần XHCN. ở nước ta mấy năm nay cũng xuất hiện những Tổ chức hợp tác tương tự như liên
doanh liên hộ, tổ hợp dịch vụ, chế biến cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm v.v Những Tổ
chức hợp tác liên doanh mà có sử dụng đất đai của sở hữu toàn dân, có vay vón của Nhà
nước, và nhất là có sự kiểm dê kiểm soát của nhà nước, thì với quan niệm rộng theo tư
tưởng của Lênin đó cũng đều là hình thức chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Chúng ta cần nắm

bình của cả một tầng lớp dân cư nào đó trước sự dung nạp, du nhập chủ nghĩa tư bản.
Nhìn chung lại, việc thực hành chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở nước ta sẽ có cả khó
khăn và thuận lợi. Nhưng trước mắt khó khăn sẽ không nhỏ. Nghĩa là phải dự báo trước
cái giá phải trả không phải nhỏ. Chúng ta chỉ có thể hạn chế cái giá phải trả, chứ không
thể không phải trả. Phải trả giá để phát triển. Vấn đề là phải dũng cảm và khôn ngoan,
phải có chiến lược bước đi, hình thức thực hiện hữu hiệu.
Chương III
Phương hướng để vận dụng thành công kinh tế tư bản nhà nước ở
nước ta hiện nay.
1. phát huy mạnh mẽ tiềm năng của các thành phần kinh tế.
Vấn đề được đặt ra xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của nước ta và từ việc tạo
ra những tiền đề kinh tế xã hội cho sự chuyển hoá từ một kết cấu kinh tế tiểu nông là chủ
yếu sang nền kinh tế hàng hoá định hướng lên chủ nghĩa xã hội.
Sản xuất hàng hoá không thể ra đời nếu không có sự phát triển của phân công xã hội
và chuyên môn hoá sản xuất là kết quả và biểu hiện trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất đạt đến mức độ nào. Cái gốc của vấn đề là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản
xuất. Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại sở dĩ được coi là hiện đại vì dựa
trên trình độ lực lượng sản xuất hiện đại.
Trên quan điểm vì lợi ích phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh sự phân
công và chuyên môn hoá sản xuất, đẩy mạnh cạnh tranh và tạo ra tỷ xuất hàng hoá và số
lượng hàng hóa ngày cành nhiều, trên quan điểm ấy thành phần kinh tế tư nhan có vị trí

đều chứa đựng những giá trị mang tính nhân loại. Và chính những cái đó đã thúc đẩy xã
hội loài người tiến lên không ngừng và hoàn thiện. Chủ nghĩa tư bản cũng không nằm
ngoài thông lệ đó.
Những thành tựu tư duy kinh tế mới chỉ ra rằng : những nước kinh tế lạc hậu chỉ
có lợi dụng chủ nghĩa tư bản một cách đúng đắn, biết học tập chủ nghĩa tư bản thì mới có
thể làm cho đất nước phồn vinh giàu mạnh. Thực tiẽn cũng chỉ ra rằng để quá độ lên chủ
nghĩa xã hội cần phải phát triển kinh tế hàng hoá, phát triển mậu dịch đối ngoại, tranh thủ
vốn của nước ngoài, thu hút kỹ thuật tiên tiến,kinh nghiệm quản lý khoa học, thu hút các
chuyên gia, nhân tài, sử dụng một số quan điểm mô hình và phương pháp trong lý luận
kinh tế vẫn được coi là chủ nghĩa tư bản hiện đại. Lợi dụng chủ nghĩa tư bản bằng cách
thực hành chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong điều kiện chính trị mới.
Những gì mà chúng ta học tập ở chủ nghĩa tư bản chính là những cái chung phổ
biến của nền kinh tế hàng hoá mà chủ nghĩa tư bản là người đi trước dầy dặn kinh
nghiệm.
Phải biết lợi dụng chủ nghĩa tư một cách đúng đắn, học tập chủ nghĩa tư bản mới
có thể làm cho đất nước phồn vinh giàu mạnh. 3. Xác định bước đi có hiệu quả.
Việc xác định những bước đi cũng là một quan điểm chiến lược. Bước đi đúng hay
sai có quan hệ mật thiết đến hiệu quả ít hay nhiều của việc thực hành chủ nghĩa tư bản
Nhà nước. Cũng có thể coi đây là chiến lược kinh doanh từ đó mà có thể xác định phương
hướng, hình thức, trình độ cụ thể, những cái giá nào cần trả trong khi thực hành chủ nghĩa
tư bản Nhà nước qua các giai đoạn khác nhau.
Phải xuất phát từ xu hướng kinh tế khách quan là sự phân công lao đọng quốc tế
mới trong một nền sản xuất ngày càng quốc tế hoá, tính từ phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế của các quốc gia ngày càng chặt chẽ từ thực lực xuất phát của mình, kể cả cái
thế trong bàn cân chính trị - kinh tế thế giới. Yêu cầu phải đạt tới là làm sao nhanh chóng
tìm ra được chỗ đứng của mình trong trào lưu phát triển kinh tế thế giới.
Tóm lại để thực hành chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong điều kiện nước ta trước hết

liên doanh giữa kinh tế Nhà nước và tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa
kinh tế Nhà nước với tư bản nước ngoài. Kinh tế tư bản Nhà nước có vai trò quan trọng
trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của
các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển
đất nước ”.
Đối với nước ta sử dụng kinh tế tư bản Nhà nước là điều kiện để khắc chế tính tự
phát trong sản xuất và chế độ sản xuất phân tán kém hiệu quả của kinh tế sản xuất nhỏ,
nhằm khai thác tối đa tiềm năng để tập trung cho các nguồn lực hướng về mục tiêu kinh
tế xã hội cao nhất như công nghiệp hoá hiện đại hoá và các chương trình kinh tế lớn khác.
Hơn nữa, tố chất cạnh tranh vốn có của chủ nghĩa tư bản Nhà nước sẽ như chất xúc tác cho một môi trường kinh tée cạnh tranh sôi động, giúp cho tất cả các thành phần kinh tế
trong xã hội có một nhận thức về bản thân mình đúng hơn, ý thức hơn về nhu cầu tồn tại
trong phát triển xã hội, và do đó sẽ đáp ứng sản phẩm tốt hơn cho người tiêu dùng. Một
hệ quả hết sức quan trọng cuả sự phối hợp kinh tế trong nước với nhau và trong nước với
nước ngoài và sự giao lưu và tăng trưởng trí tuệ, kiến thức xã hội và do đó thúc đẩy mặt
bằng học vấn xã hội được nâng cao. Tuy nhiên việc vận dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước
ở nước ta còn nhiều hạn chế, sao chép một cách thiếu chọn lọc, thậm chí áp dụng nguyên
xi mô hình của nước ngoài, đây là điều tối kỵ. Vì sẽ gây triệt tiêu dần khả năng cạnh tranh
của sản xuất trong nước, việc quản lý đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo, chưa đồng bộ,
nguồn lực tư nhân còn phân tán quá nhiều Chúng ta nên vận dụng hình thức tư bản Nhà
nước để có thể khai thác tối đa những ưu điểm và hạn chế tối thiểu những nhược điểm.
Tóm lại, cần phải nhạn rõ tầm quan trọng của việc thực hành chủ nghĩa tư bản Nhà
nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì là chủ nghĩa tư bản Nhà nước cho nên hiệu quả
của việc thực hiện nó phụ thuộc vào năng lực tổ chức của bộ máy Nhà nước ta - mà Nhà
nước này là của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status