MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác tư tưởng là một bộ phận hữu cơ, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn
bộ lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Để giữ vững và đảm bảo sự lãnh đạo đó, điều
cốt lõi là lãnh đạo về tư tưởng chính trị, trước hết và quan trọng nhất là tư tưởng chính
trị. Để thực hiện có hiệu quả nhất nhiệm vụ chủ yếu đó, công tác tư tưởng phải đồng thời
huy động và phát huy sức mạnh của các chức năng cơ bản: lý luận, giáo dục, nhận thức,
đổi mới, phát triển nội dung, các phương thức hình thức tốt nhất, phù hợp nhất đến các
đối tượng tác động của công tác tư tưởng. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, hiệu quả của công tác
tư tưởng là hiệu quả tổng hợp, tác động vào con người đồng thời cả lý trí và tình cảm,
nhận thức và cảm xúc, tư duy và tâm hồn do tính chất đa dạng, phong phú của các mặt
các loại hình, các binh chủng của hoạt động tư tưởng tạo nên. Điều đó có nghĩa là mỗi
loại hình, mỗi binh chủng đó có những đặc trưng và ưu thế riêng, có phương thức đặc thù
tác động đến con người. Đặc điểm này thể hiện rõ đối với loại hình văn hoá, văn học,
nghệ thuật.
Hoạt động văn hoá với rất nhiều loại hình đa dạng của nó và hoạt động văn học,
nghệ thuật – lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm của văn hoá luôn giữ vị trí đặc biệt và làm phong
phú, sinh động cho toàn bộ hoạt động của công tác tư tưởng.
Bằng cách riêng của mình, với sức mạnh độc đáo thông qua những đặc trưng khi
nhận thức, thể hiện cuộc sống bằng tính cụ thể, trực quan, hình tượng và khả năng tác
động đặc biệt vào tâm hồn, tình cảm, cảm xúc con người, văn hoá - văn nghệ được khẳng
định là “binh chủng đặc biệt” trong công tác tư tưởng nhằm xây dựng và củng cố vững
chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Đồng thời trực tiếp nuôi dưỡng, đào tạo con người mới,
nhân cách kiểu mới với những phẩm chất cao đẹp và được phát triển toàn diện về trí, đức,
thể mỹ. Hoạt động này đồng thời phải đáp ứng hai đòi hỏi lớn: một mặt thoả mãn và
nâng cao tinh thần – văn hoá của nhân dân, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi mặt hoạt
động của con người và xã hội, sáng tạo được nhiều sản phẩm, công trình có giá trị tư
tưởng và nghệ thuật. Mặt khác, thông qua đó, xây đắp thế giới tinh thần, trí tuệ, tình cảm
1
Nội - 1992.
Phan Ngọc: Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới. Nxb Văn hoá – Thông tin,
Hà Nội 1994.
Lương Quỳnh Khuê (chủ biên): Giáo trình Lý luận văn hoá Mác – Lênin. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2002.
Từ nhiều góc độ nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đề cập đến
vai trò, đặc trưng, phương hướng của văn hoá - văn nghệ phù hợp với sự phát triển của
công tác tư tưởng qua đó cũng thể hiện rõ quan điểm, chủ trương của Đảng trong quá
trình xây dựng nền văn hoá Việt Nam
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích
Mục đích của đề tài là nghiên cứu vai trò và ảnh hưởng của hoạt động văn hoá văn nghệ đến công tác tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
3.2.Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của đề tài là phân tích khái niệm, những vai trò cơ bản của văn hoá –
văn nghệ trong công tác tư tưởng, đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế của
hoạt động này, đồng thời đưa ra một số giải pháp tích cực nhằm khắc phục các mặt yếu
kém, khuyết điểm.
4. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
4.1Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, nghiên cứu tài liệu chủ yếu
dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hoá - văn nghệ. Kết hợp phương pháp thống kê
thu thập thông tin, phương pháp quan sát thực tế.
3
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, em muốn tìm hiểu khái niệm, vai trò, thực trạng và một
số giải pháp phát triển văn hóa – văn nghệ trong công tác tư tưởng ở Tỉnh Phú Thọ giai
Theo ông Federico Mayor Laragoza - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO thì: "Văn
hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế
kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống
và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Trong những năm 1942-1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm: “Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo văn hoá, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Kế thừa định nghĩa của các nhà khoa học trong và ngoài nước, chúng ta có thể đi
đến định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh
5
thần được sáng tạo, tích luỹ trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con
người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và
liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau. Văn hoá thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính
riêng của mỗi dân tộc”.
*Khái niệm văn nghệ
TS. Vũ Duy Thông – Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương đưa ra khái niệm: “Văn
nghệ là một hình thái ý thái ý thức xã hội đăcj biệt, là phạm trù để chỉ những hoạt động
sáng tạo phản ánh hiện thực bằng hình thức cụ thể sinh động nhằm truyền bá hưởng
thụ”
Văn nghệ (Văn học, Nghệ thuật): là một thuật ngữ chỉ các hoạt động sáng tạo văn
học, nghệ thuật gồm các loại hình: văn học, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, kiến trúc, hội
hoạ, điêu khắc và các loại hình ca múa nhạc.
* Khái niệm văn hoá - văn nghệ
Theo nghĩa rộng: là hình thái ý thức xã hội đặc biệt của con người phản ánh tồn
của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ cách mạng. Cùng với thực tiễn văn hóa, thực tiễn
cách mạng và kinh nghiệm lãnh đạo Đảng ta đã đúc kết và hoàn chỉnh các quan điểm, chỉ
đạo của mình đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa cách mạng.
Với đề tài này, em xin được nêu tóm tắt một số quan điểm cơ bản nhất, không đi
sâu vào phân tích nội dung các quan điểm của Đảng về văn hóa – văn nghệ.
Những quan điểm của Đảng về văn hóa – văn nghệ được ghi thành văn, phải tính từ
“Đề cương văn hóa Việt Nam 1943”. Đề cương này do đồng chí Tổng bí thư Trường
Chinh soạn thảo, đề cương nêu len 3 phương châm: Dân tộc, khoa học, đại chúng; Tháng
11/1946, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ I, trong bức thư ngỏ ý của Chủ Tịch Hồ
Chí Minh gửi các văn nghệ sĩ Nam Bộ, Người nêu: “Văn hóa – văn nghệ cũng là mặt trận,
anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”; Năm 1948, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II,
Năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Năm 1957. Đại hội văn nghệ
toàn quốc lần thứ II, Đảng vẫn giữ nguyên 3 nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng
trong văn hóa – văn nghệ. Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ II, đồng chí Trường
Chinh còn nói thêm: “Văn nghệ có tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Hay nói cách khác
7
có tính dân tộc, hiện thực và nhân dân”; Trong các Đại hội III, IV, V, VI Đảng ta nêu
phương châm xây dựng nền văn hóa – văn nghệ với nội dung XHCN và tính dân tộc. Đối
với văn nghệ, Đại hội VI của Đảng nêu: “Tính chân thực, tính tư tưởng và tính nghệ thuật
chưa bao giờ là tiêu chuẩn của giá trtr tác phẩm hiện thực XHCN”; Năm 1991, tại Đại hội
lần thứ VII, Cương lĩnh mới của Đảng ghi rõ nền văn hóa của nước ta là: “Nền văn hóa
tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc”, “tạo một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú, đa
dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiên bộ; Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX đều khẳng
định xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Tuy vậy, chúng ta cần chú ý vào một số quan điểm cụ thê sau:
- Đảng lãnh đạo văn hóa – văn nghệ là một nguyên tắc. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng dựa trên cơ sở, những định hướng lớn qua các văn kiện. Nghị quyết của Đảng về
văn hóa – văn nghệ. Sự lãnh đạo của Đảng vừa đảm bảo tính định hướng, vừa đảm bảo
văn hoá do chính con người xây đắp và sáng tạo cho mình.
C.Mác nhận định, văn hoá là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra những giá trị văn
hoá, những tác phẩm và công trình nghệ thuật làm giàu đẹp thêm cho đời sống con
người. Khác với lĩnh vực sản xuất vật chất, lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị
đặcbiệt, khi được nhân dân khẳng định, nó trở thành những công trình có sức sống lâu
dài, trường tồn với thời gian là sự thực hiện bản sắc, đặc trưng những vẻ đẹp độc đáo của
một cộng đồng, một dân tộc.
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.
Trong quan điểm thứ nhất của Hồ Chí Minh về văn hoá, Người nhấn mạnh vai
trò của văn hoá - văn nghệ đối với sự phát triển kinh tế.
Đảng ta tiếp tục khẳng định, nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã
hội thì văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống ấy. Vì vậy, hai lĩnh vực kinh tế và
văn hoá luôn luôn giữ vị trí quan trọng trong giáo dục đối với sự vận động và phát
triển của xã hội đó. “Chăm lo văn hoá là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã
hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối
9
quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự
phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Từ vị trí của văn hoá là mục tiêu của sự phát triển, chúng ta cần phải nắm chắc
mối quan hệ giữa văn hoá- kinh tế, kinh tế – văn hoá, trong đó đặc biệt chú ý luận
điểm quan trọng trong Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII: “Xây dựng và phát triển
kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát
triển toàn diện”. F.Mayor – Nguyên Tổng giám đốc Unesco đã nhấn mạnh: “Hễ nước
nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì
nhất định sẽ sảy ra những mất cân đối nghiêm trọng trong cả nền kinh tế lẫn văn hoá
và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”.
hợp cho công tác tư tưởng trên lĩnh vực văn hoá - văn nghệ đối với từng giai đoạn phát
triển của cách mạng. Quan điểm nhất quán và xuyên suốt toàn bộ tiến trình lãnh đạo văn
hoá của Đảng ta từ 1930 đến nay luôn khẳng định văn hoá - văn nghệ là biện pháp khăng
khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng có sự mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng
trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt
Nam nhậnđịnh, xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi
hỏi phải vó ý chí cách mạng vạư kiên trì, thận trọng. Quan điểm này khẳng định lại yêu
cầu nâng cao tính chiến đấu của văn hoá, kết hợp nhuần nhuyễn giữa xây dựng và chống
lấy xây làm chính. Trong quan điểm này về xây dựng và phát triển văn hoá, Đảng ta nhấn
mạnh nhiệm vụ xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ trực tiếp và cực
kỳ quan trọng xây dựng con người cũng có nghĩa là là xác nhận vai trò to lớn và vị trí đặc
biệt của văn hoá trong công tác tư tưởng và hoạt động tư tưởng. Bởi vì, xét về bản chất,
công tác tư tưởng là toàn bộ hoạt động trên lĩnh vực ý thức của con người, nhằm mục tiêu
chủ yếu là biến tư tưởng tiến bộ, cách mạng đến lực lượng vật chất để cải tạo xã hội, xây
dựng chế độ mới, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp cách mạng trở thành hệ tư
tưởng chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội. Như vậy, có nghĩa là hoạt động văn hoá
- văn nghệ và công tác tư tưởng có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ vì đều là các lĩnh vực
trong phạm trù ý thức đến tinh thần và đều là các công việc trực tiếp đối với con người.
11
Trong quan hệ đặc thù này, văn hoá - văn nghệ trở thành một sức mạnh, một phương
thức độc đáo, có hiệu quả của công tác tư tưởng.
Chúng ta cần phái hiểu rằng, quan điểm trên không phải là sự áp đặt hay bóp méo
văn hoá- văn nghệ, biến nó thành “cái loa” của công tác tư tưởng. Tuy nhiên, sự tác động
tư tưởng của văn hoá - văn nghệ chỉ được thựchiện một cách sinh động và thuyết phục
khi nó thông qua các chức năng và các đặc trưng của văn hoá. Vì vậy, yêu cầu không
ngừng nêu cao và khẳng định nội dung tư tưởng của văn hoá, của các sản phẩm và hoạt
động văn hoá - văn nghệ chỉ là định hướng chính trị cơ bản trong công tác văn hoá - văn
khăn, thách thức; song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát
huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả quan trọng.
Kinh tế phát triển ổn định, duy trì mức tăng trưởng khá, bình quân đạt 10, 6 %/ năm;
Quy mô của nền kinh tế tăng 2,24 lần, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 11,8 triệu
đồng (tương đương 637 USD), tăng 2,2 lần so năm 2005. Thu ngân sách trên địa bàn
năm 2010 ước đạt 2000 tỷ đồng.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với định hướng phát
triển của tỉnh. Năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 38,6%, dịch vụ
35,8%, nông lâm nghiệp 25,6%.; Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ lao
động trong công nghiệp và dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp.
Hệ thống chính trị được tăng cường; an ninh - quốc phòng được giữ vững; chính
trị - xã hội ổn định; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thường xuyên được chú trọng và
triển khai thực hiện nghiêm túc; chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp
13
được nâng lên; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có sự đổi mới.
Khối đại đoàn kết toàn dân và hệ thống chính trị được xây dựng và ngày càng vững
mạnh; đời sống kinh tế của nhân dân trong tỉnh ngày càng ổn định phát triển, đời sống
văn hoá, tinh thần được cải thiện, trình độ văn hoá - xã hội, khoảng cách của dân cư giữa
các vùng miền ngày càng được thu hẹp.
Kinh tế - xã hội phát triển là môi trường thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo
việc phát huy vai trò của văn hoá – văn nghệ trong công tác tư tưởng của tỉnh Phú
Thọ trong giai đoạn hiện nay; Thông báo Kết luận số 213 -TB/TW của Ban Bí thư
về Đề án "Đấu tranh chống quan điểm sai trái trong Văn học, nghệ thuật" ; nhận
thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội, đoàn thể và quần chúng
nhân dân về lĩnh vực này ngày càng được nâng cao hơn; hoạt động văn học- nghệ
thuật được quan tâm, đầu tư, tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ tham gia sáng tác, góp
phần bảo vệ, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, tình yêu quê hương đất nước, ca
ngợi Đảng, ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh và công cuộc đổi mới của đất nước, của
Trong nhiệm kỳ Hội đã phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức thành công
của cuộc Hội thảo qui mô ghi nhận và khẳng định những đóng góp xứng đáng cho nền
văn học của 3 nhà văn: Sao Mai, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Hữu Nhàn.
- Về Thơ
Lực lượng sáng tác thơ ngày càng phát triển có thêm nhiều giọng điệu mới. Các tác
giả có thành tựu từ những năm trước nay vẫn viết khỏe, viết đằm hơn sâu hơn, trong đó có
3 người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là các nhà thơ: Nông Thị Ngọc Hoà,
Nguyễn Hưng Hải, Kim Dũng. Các cuộc thi thơ lục bát, thơ về Bác Hồ, về Thăng Long
ngàn năm văn hiến do báo Văn nghệ tổ chức đã thu hút nhiều tác giả thơ Phú Thọ tham
gia...Nhiều bài đã được in báo, chọn vào các tuyển tập và được giải thưởng. Lớp tác giả
trưởng thành sau năm 1975 đang có nhiều bứt phá, tiếp tục khẳng định được vị trí của
mình. Tiêu biểu là Nguyễn Hưng Hải, Cao Văn Định, Ngô Kim Đỉnh, Phạm Việt Đức,
Xuân Thu, Hà Thành...Cùng với lớp tác giả này, các cây bút trung niên và cao tuổi đã và
đang tự đổi mới về bút pháp, cấu tứ như Giang Châu, Nguyễn Đình Phúc, Quang Tuyên...
15
Trong 5 năm đã thêm 95 tập thơ, trường ca mới. Các tác giả in nhiều như Điền
Ngọc Phách, Quang Thuyên, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Đức Sơn. Nhiều tập đã tạo
được sự chú ý như “Khúc đồng dao” của Xuân Nhu, “Ngày thiêng” của Cao Định, “Mùa
heo may hạnh phúc” của Hà Thành. Phần lớn các tác giả này đều đạt giải thưởng về văn
học nghệ thuật của Uỷ ban nhân dân tỉnh (2005-2010), của Liên hiệp văn học nghệ thuất
Việt Nam, tạp chí Văn nghệ Quân đội...
Về xu hướng sáng tác, thơ Phú Thọ chủ yếu dựa trên nền thơ truyền thống, thơ về
đề tài nông nghiệp nhưng giàu chất hiện thực, bút pháp vững vàng, ánh lên vể đẹp của tư
tưởng, thể hiện sự trăn trở suy tư triết lý về nhân tình thế thái, về cuộc sống.
Một nét đặc sắc là 5 năm qua cung với các cuộc thi thơ trên cả nước và báo Văn
nghệ tổ chức, chúng ta đã tổ chức cuộc thi thơ trên tạp chí Văn nghệ Đất tổ trong 2 năm
2006-2007, tổ chức thành công ngày Thơ Việt Nam hoành tráng vào các năm từ 20052009 tuyển chọn, xuất bản tuyển tập thơ Đền Hùng được Hội nhà văn Việt Nam và các
- Về Mỹ Thuật
Lình vực mỹ thuật 5 năm qua tiếp tục được duy trì và giữ được phong trào với các
trại sáng tác được mở hàng năm. Các tác giả đều có tác phẩm và tham dự tất cả các cuộc
triển lãm khu vực hàng năm đều đạt giải thưởng. Các hoạ sỹ Đỗ Ngọc Dũng, Lệ Thuỷ,
Quang Hưng, Lương Công Tuyên, Huy Tuyển, triển lãm toàn quốc về tranh sơn dầu, về
đề tài lực lượng vũ trang, đề tài học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có
nhiều tác phẩm được trưng bày tại triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Điểm nổi bật nhất là
năm 2009, Hội đã đăng cai và tổ chức thành công triển lãm Mỹ thuật khu vực Tây Bắc Việt Bắc tại Phú Thọ lần thứ XIV, đầu năm 2010 phối hợp với Hội văn học nghệ thuật
các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá, Thừa Thiên Huế tổ chức triển
lãm mỹ thuật các vùng kinh đô xưa và nay, phục vụ Quốc lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm
2010, tạo không khi hoạt động mỹ thuật sôi nổi, thu hút nhiều hoạ sĩ trẻ tham gia.
Hoạ sỹ Đỗ Ngọc Dũng gương mẫu trong hoạt động sáng tác Mỹ thuật, đạt nhiều
giải thưởng ở trung ương và khu vực, có tác phẩm được lưu giữ trong bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam, xuất hiện trong nhiều tuyển tập Mỹ thuật.
17
Các hoạ sĩ Hoàng Gia Vinh, Nguyễn Lợi, Quang Hưng, Lệ Thuỷ, Quang Thái nêu
cao trách nhiệm của hội viên trung ương tiếp tục khẳng định mình bằng các tác phẩm đầy
sức tìm tòi, thể nghiệm. Các hoạ sĩ trẻ: Lương Công Tuyên, Đặng Phương Thảo, Quang
Hưng đạt giải thưởng của Liện hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam.
- Về Âm nhạc – Múa
Trong 5 năm qua, giới âm nhạc Phú Thọ đã có bước phát triển mạnh mẽ trong sáng tác,
biểu diễn phục vụ có hiệu quả những nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Đầu nhiệm kỳ có 7 hội viên Nhạc sỹ Việt Nam đến gần giữa nhiệm kỳ nhạc sỹ
Đào Đăng Hoàn, Đoàn Đăng Đức chuyên về Hà Nội còn lại 5 nhạc sỹ. Nhưng đến nay
các hội viên hội nhạc sỹ Việt Nam có 8 tác giả như: Vũ Văn Viết, Trịnh Hùng Khanh,
Đỗ Trọng Khiêm, Nguyễn Hùn, Phạm Đăng Ninh, Hà Hoàn, Nguyễn Văn Cúc, Nguyễn
Đức Thực tiếp tục có sự tìm tòi, đổi mới bứt phá. Nhạc sỹ Vũ Văn Viết, luôn tỏ ra là
người sáng tác sung sức với hàng loạt các tập nhạc, đĩa CD ca khúc được ra đời, phục vụ
nhiều đóng góp tích cực cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật, có vai trò nòng cốt trong các
đoàn nghệ thuật, tham gia các chương trình giới thiệu tác giả, tác phẩm như nghệ sỹ
Quốc Giới, Minh Luân, Việt Hà, Phương Liên, Hồng Vân, Đỗ Việt Hà, Quang Huy. Đạo
diễn Hoàng Tự Dung, Hoàng San dàn dựng đạo diễn nhiều vở diễn, chương trình văn
nghệ có chất lượng phục vụ công chúng đồng thời tham gia tích cực vào các hoạt động
nghệ thuật và giao lưu đối ngoại của Hội, một số chương trình trên Đài Truyền hình tỉnh
phục vụ tốt công tác tuyên truyền.
- Về Nhiếp ảnh
5 năm qua, Hội đã tổ chức nhiều chuyến đi thực tế sáng tác tạo cảm hứng cho anh
em nghệ sĩ có kết quả như trại Vũng Tàu, Sa Pa, Xuân Sơn, Điện Biên, Sơn La. Hàng trăm
tác phẩm của các tác giả đã ghi lại những khoảnh khắc nên thơ, ấn tượng, nhiều suy ngẫm
về cuộc sống, con người Phú Thọ và cả nước. Hàng năm, các trại sáng tác do Hội tổ chức,
tạo điều kiện cho anh em bám sát đề tài, bám sát cuộc sống để sáng tác. Một số tác phẩm
về Đền Hùng, về Xuân Sơn của các tác giả đã được tỉnh và các sở, ban, ngành chọn đặt
làm sản phẩm lưu niệm đã thực sự đi vào đời sống. Nhiều nghệ sỹ lặn lội đến vùng sâu,
vùng xa để ghi lại những hình ảnh sinh độn, tươi đẹp về cuộc sống con người Đất Tổ.
19
Nhiều tác phẩm của các tác giả như: Thanh Thuỷ, Đắc Phượng, Việt Thắng, Phương
Thanh, Lê Hiển, Vũ Hậu đạt nhiều giải thưởng cao ở các triển lãm toàn quốc và khu vực.
Ngoài các nghệ sỹ, tác giả có bề dày sáng tác đã xuất hiện một số tác giả trẻ đang
có sức bật mới như Phương Thanh, Việt Thắng, Lê Hiển, Minh Thái, Hữu Sơn. Nhiều
nghệ sỹ có tác phẩm được giới thiệu trên các báo chí trung ương trong các vựng tập. Đó
là những nỗ lực, đóng góp lớn của các nghệ sỹ, các tác giả nhiếp ảnh trong phong trào
văn hoá – văn nghệ tỉnh Phú Thọ.
Năm 2010 vừa qua Hội đã tổ chức triển lãm Nhiếp ảnh các vung kinh đô xưa và
nay phục vụ Đền Hùng 2010 và FESTIVAL Huế 2010 và Đại lễ 1000 năm Thăng Long
– Hà Nội. Đồng thời, hàng năm đã tham gia tích cực vào các liên hoan ảnh Nghệ thuật
khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, tổ chức triên lãm ảnh Nghệ thuật 15 tỉnh miền núi
phát hành bằng việc phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thành,
thị ra các số chuyên đề để vừa tuyên truyền được các nhiệm vụ chính trị, vừa tăng lượng
phát hành tạp chí. Đồng thời, Ban biên tập đã chú trọng tới các trường học, các điểm bưu
điện văn hoá xã để phát hành tạp chí. 5 năm qua đã xuất bản gần 60 số với 900.000 bản
in, trung bình mỗi kì phát hành 1500 – 1700 bản. Phạm vi phát hành tới các xã phường,
thị trấn, các cơ quan, ban ngành của tỉnh. 233 điểm bưu điện văn hoá xã, các trường phổ
thông, các phòng giáo dục, Văn hoá thông đã đặt mua dài hạn tạp chí Văn nghệ Đất tổ.
- Về Website văn học nghệ thuật Phú Thọ
Là trang thông tin điện tử tổng hợp của Hội trên Internet được Tỉnh uỷ cho phép
thành lập, được Bộ Thông tin Truyền thông cấp giấy phép hoạt động đã vận hành được
tròn 1 năm. Mặc dù cán bộ chuyên môn như biên tập viên, phóng viên, kỹ sư công nghệ
thông tin còn thiếu. Nhưng qua một năm vận hành thử nghiệm với địa chỉ truy cập:
vanhocnghethuatPhuTho.org.vn.com. Website đã thông tin kịp thời về các hoạt động văn
hoá, văn học nghệ thuật của tỉnh và cả nước, chọn lọc giới thiệu những sáng tác mới của
hội viên, phục vụ các nhiệm vụ tuyên truyền. Đồng thời đang hình thành là kho dữ liệu
về tác giả, tác phẩm của văn nghệ sĩ Phú Thọ từ năm 1975 đến nay phục vụ cho công tác
tìm hiểu, nghiên cứu và thưởng thức các giá trị văn học nghệ thuật Phú Thọ với hàng vạn
người truy cập.
21
- Về xuất bản
Là một khâu quan trọng trong việc giới thiệu, quảng bá các sáng tác của hội viên.
Điểm nổi bật trong nhiệm kỳ là công tác xuất bản các tác phẩm văn học nghệ thuật đã
được quan tâm, chú ý đúng mức. Trong 5 năm qua, Hội đã đứng tên xuất bản 56 tập sách
của hội viên và của các cộng tác viên, trong đó chủ yếu là thơ. Các xuất bản phẩm của
Hội đều đảm bảo về chính trị, có giá trị nhất định về tư tưởng và nghệ thuật, tạo ảnh
hưởng tốt trong dư luận xã hội.
Ngoài số sách do Hội đứng tên xuất bản , đa số các tác giả đã xuất bản sách của
mình ở các nhà xuất bản trung ương, tạo thêm phần phong phú, đa dạng cho thị trường
viên sáng tác găn bó với tổ chức Hội.
Về giáo dục chính trị tư tưởng: Bên cạnh nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ sáng tác,
Hội thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho hội viên. Bám sát tình
hình thời sự trong nước và quốc tế, sự chỉ đạo định hướng tuyên truyền của Ban Tuyên
giáo Tỉnh ủy, 5 năm qua Hội đã tổ chức 7 đợt học Nghị quyết của Đảng và các buổi nói
chuyện chuyên đề về văn hóa – văn nghệ, các đợt sinh hoạt tư tưởng tham gia đóng góp ý
kiến xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng, kỷ niệm các ngày truyền thống, gặp mặt
nhân dip xuân mới, ngày báo chí Việt Nam...Đặc biệt là cuộc vận động học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; cuộc vận động sáng tác quảng bá tác phẩm văn
học nghệ thuật, báo chí về đề tài Bác Hồ. Từ đó, góp phần bồi dưỡng, nâng cao nhận
thức chính trị của đội ngũ văn nghệ sĩ, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng,
vững vàng kiên định trong sáng tác.
2.2.2. Đánh giá tổng quát
* Ưu điểm
Nhìn chung, hội văn học – nghệ thuật Phú Thọ tiếp tục phát triển toàn diện hoạt
động sáng tác văn học nghệ thuật đã có nhiều khởi sắc. Đặc biệt, từ khi có quỹ hỗ trợ sáng
tác của tỉnh, của trung ương tài trợ số đầu sách xuất bản, số tác phẩm được công bố tăng
hẳn so với nhiệm kỳ trước. Hầu hết các tác phẩm đã bám sát cuộc sống, phản ánh chân
thực, sinh động cuộc sống, phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước,
của tỉnh Phú Thọ, động viên cổ vũ kịp thời các tầng lớp nhân dân, phấn đấu hoàn thành các
23
chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh. Vị trí của hội, của văn nghệ sỹ Phú Thọ ngày càng được
nâng cao, có ảnh hưởng trong đời sống xã hội, được xã hội thừa nhận, trân trọng.
Có thể khẳng định 5 năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về đời sống và
những diễn biến phức tạp, về tình hình chính trị- kinh tế trên thế giới, nhưng tuyệt đại bộ
phận văn nghệ sĩ Phú Thọ vẫn vững vàng, tâm huyết với sự nghiệp. Các hoạt động văn
học nghệ thuật trên quê hương Đất Tổ như: triển lãm nghệ thuật, hội diễn thơ nhạc, Ngày
thơ Việt Nam, hội thảo khoa học...đã diễn ra sôi động và không ngừng đổi mới, Hội trở
đây với nhiều sáng kiến tổ chức các hoạt động văn học – nghệ thuật, nhưng cơ quan
thường trực trình độ cán bộ tương ứng với nhiệm vụ chưa đồng đều, phương pháp tổ
chức và khả năng thực hiện chưa đồng bộ, công tác tham mưu của văn phòng còn nhiều
hạn chế. Cơ chế thị trường và những lo toan trong cuộc sống đã làm không ít người nản
lòng trước chặng đường sáng tạo nghệ thuật vinh quang nhưng đầy gian nan.
Một bộ phận hội viên hoạt động hiệu quả chưa cao, những tác giả mới, tác giả trẻ
kế tiếp chưa xuất hiện những tài năng nổi trội với phong cách nghệ thuật rõ nét. Cán bộ
phụ trách các chuyên ngành chưa thực sự với phong trào, một số chuyên ngành còn nhiều
lúng túng. Cán bộ cần phải giỏi ở một bộ môn và có nhiều hiểu biết ở các bộ môn khác,
đồng thời phải biết làm công tác quản lý.Có lúc có nơi trong một bộ phận hội viên chưa
thực sự đoàn kết cả trong sáng tác và trao đổi học thuật.
Mặc dù được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã hết sức
quan tâm đến sự phát triển của Hội, nhưng Nhà nước vẫn chưa có các cơ chế cần thiết và
thích hợp để làm cơ sở cho việc đầu tư phát triển ở địa phương. Việc thể chế NQ 23 của
Bộ chính trị chưa được kịp thời, kinh phí được cấp còn hạn hẹp đã hạn chế đến hiệu quả
công tác của Hội.
25