Vai trò của chủ tịch hồ chí minh trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng việt nam 1941 1945 - Pdf 39

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2

ĐẶNG THỊ KIM NGÂN

VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
TRONG XÂY DỰNG LỰC LƢỢNG VŨ TRANG
CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1941 - 1945

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh

HÀ NỘI - 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2

ĐẶNG THỊ KIM NGÂN

VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
TRONG XÂY DỰNG LỰC LƢỢNG VŨ TRANG
CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1941 - 1945

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

Đại tá Đào Văn Chung

HÀ NỘI - 2016

Sinh viên

Đặng Thị Kim Ngân


KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

NXB

Nhà xuất bản

QĐND

Quân đội nhân dân

LLVT

Lực lượng vũ trang

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

CAND

Công an nhân dân

1.1.2. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hay còn gọi là cách mạng kỹ
thuật lần thứ hai có những điểm khác biệt so với cuộc Cách mạng kỹ thuật
lần thứ nhất ................................................................................................. 7
1.2. Khái quát tình hình Việt Nam trong những năm đầu của chiến tranh thế
giới lần thứ hai .............................................................................................. 8
1.2.1. Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất
phản động.................................................................................................... 8
1.2.2. Đời sống của nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về chính
trị, bần cùng về kinh tế, chịu cảnh “một cổ hai tròng”.............................. 8
1.3. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên bùng nổ ..................................... 8
1.3.1. Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi nghĩa Nam Kỳ và Binh biến Đô Lương . 8
1.3.2. Phong trào Việt Minh ..................................................................... 10


1.3.3. Cao trào kháng Nhật....................................................................... 10
1.3.4. Cách mạng tháng Tám .................................................................... 11
1.3.5. Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam ........................................................ 12
Chƣơng 2. VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY
DỰNG LỰC LƢỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI
KỲ 1941 - 1945............................................................................................... 13
2.1. Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam ........... 13
2.1.1. Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng ................ 13
2.1.2. Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ sở cách mạng,
tổ chức quần chúng, chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ tám của
Đảng .......................................................................................................... 13
2.1.3. Giữa năm 1944, tình hình thế giới và nước ta chuyển biến mau lẹ
có lợi cho cách mạng ................................................................................ 14
2.1.4. Hai đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân
cùng nhau hợp nhất thành Việt Nam Giải phóng quân ............................ 15
2.2. Xây dựng lực lượng chính trị quần chúng ............................................ 17

3.3. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa trong tình hình mới ................................................................... 35
3.3.1. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại .................................................................................... 35
3.3.2. Xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại ............................................................................................ 38
3.3.3. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới ................... 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 50


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thấm nhuần sâu sắc, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, kế thừa những bài học
kinh nghiệm của ông cha ta về xây dựng tổ chức quân sự trong lịch sử giữ
nước của dân tộc, đồng thời đi sâu phân tích bản chất của chủ nghĩa thực
dân, Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra đối với các dân tộc thuộc địa, muốn chiến
thắng kẻ thù hung bạo thì không có sự lựa chọn nào khác là phải “dùng bạo
lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo
vệ chính quyền”.
Đầu năm 1941 sau gần ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí
Minh trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trực tiếp chỉ đạo xây
dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Sự ra đời và lớn mạnh không
ngừng của lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, dân tộc ta
đã giành được thắng lợi vẻ vang trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945, trong
hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những thắng lợi
vĩ đại đó là minh chứng cho sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo và vai trò to lớn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chiến lược quân sự thiên tài, người cha thân
yêu của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, người sáng lập, giáo dục rèn

trang cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 - 1945.
- Vận dụng những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của Hồ Chí Minh trong xây dựng lực
lượng vũ trang Cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 - 1945.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng lực

2


lượng vũ trang cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 - 1945 và vận dụng trong
xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic
- Phương pháp liệt kê
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
- Một số phương pháp chuyên ngành
6. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, khẳng định vai trò to lớn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang Cách mạng Việt Nam.
- Đề tài góp phần bổ sung những cơ sở, nền tảng trong xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
7. Kết cấu đề tài
- Mở đầu
- Nội dung gồm: 3 chương
Chương 1: Bối cảnh tình hình thế giới và Việt Nam trong những năm
đầu của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

49,3%). Có thể thấy rằng, Mỹ đã làm giàu trên sự đổ nát của châu Âu và thế
giới. Sau chiến tranh, nước Mỹ đã trở thành nước giàu mạnh nhất, chiếm ưu
thế về mọi mặt trong thế giới tư bản chủ nghĩa.
Có thể nói, Mỹ vượt trội hơn tất cả các nước về kinh tế, quân sự và chính
trị… Từ đây tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ ngày càng bộc lộ và đây
cũng là cơ sở để Mỹ triển khai nhanh chóng kế hoạch của mình trong một bối
cảnh quốc tế và tương quan so sánh lực lượng hết sức thuận lợi đứng cả về hai

4


phía quan hệ: Mỹ với các nước trong khối đồng minh tư bản chủ nghĩa; Mỹ
với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, sức mạnh và ưu thế của Mỹ không kéo dài được mãi, nó đã bị
giảm sút tương đối từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, đặc biệt từ những
năm 70 khi các nước tư bản phục hồi và vươn lên nhanh chóng, trước hết là
Tây Âu và Nhật Bản.
Bị thiệt hại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chẳng những
mất hết thuộc địa mà nền kinh tế cũng lâm vào tình trạng bị phá hủy hoàn
toàn. Đất nước tiêu điều, các thành phố lớn bị tàn phá nặng nề, Nhật Bản bị
kiệt quệ về kinh tế, bị đè bẹp về quân sự, bị suy sụp về tinh thần, bị thiệt hại
lớn về người và của. Nhờ vào kế hoạch đầu tư của Mỹ mà bước sang những
năm 60 của thế kỷ XX, kinh tế Nhật Bản đã có bước phát triển nhanh chóng,
đuổi kịp và vượt các nước Tây Âu, vươn lên đứng thứ hai (sau Mỹ) trong thế
giới tư bản chủ nghĩa. Thực ra sự phát triển nhanh chóng vượt bậc này của
kinh tế Nhật Bản có những nguyên nhân khách quan, chủ quan của nó, và sự
“thần kỳ” này đã chứa đựng những mặt trái của nó mà từ đầu những năm 70
trở đi đã ngày càng bộc lộ rõ ràng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng Nhật
Bản đã có những bước tiến hết sức kỳ diệu trong tất cả các lĩnh vực, khiến cả
thế giới phải kinh ngạc.

đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Một loạt các nước Đông Âu, Châu Á và khu
vực Mỹ Latinh sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đã
tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội cùng với Liên Xô hợp thành một hệ thống xã
hội chủ nghĩa hùng mạnh. Những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
những năm 50 - 60 đã thu hút sự chú ý của thế giới và tác động tới chiều hướng
phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội
ngày càng lớn, chủ nghĩa xã hội là chỗ dựa tin cậy của phong trào đấu tranh vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa tư bản không
còn là một hệ thống duy nhất chi phối nền chính trị thế giới. Tình hình trên đây

6


đã dẫn tới một vấn đề: trong chiến lược của mình, Mỹ và các nước đồng minh
không thể không tính đến việc hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa xã hội.
- Thứ tư, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cao trào giải phóng dân tộc
diễn ra sôi nổi ở khắp các lục địa của Á, Phi, Mỹ Latinh, hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa thực dân bị tan vỡ từng mảng lớn và đến giữa những năm 60 đã
sụp đổ về cơ bản. Hơn 100 quốc gia dân tộc trẻ tuổi ra đời, ngày càng tham
gia tích cực vào đời sống chính trị thế giới. Bộ mặt hành tinh thay đổi to lớn.
Trong chiến lược của hai cường quốc Xô - Mỹ và hai hệ thống không thể
không tính đến lực lượng này.
- Thứ năm, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật bùng nổ vào những năm
40 của thế kỷ XX và diễn ra mạnh mẽ sau đó. Cuộc cách mạng này đã đưa lại
những tiến bộ nhảy vọt, những thành tựu kì diệu, những tác động tích cực và
những hậu quả của nó rất to lớn. Những nước nào đi sâu vào cách mạng khoa
học - kỹ thuật, tận dụng những thành tựu của nó thì vươn lên mạnh mẽ, tiếng
nói của họ trong quan hệ quốc tế ngày càng có trọng lượng hơn. Những nước
bỏ lỡ cơ hội tận dụng thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật, thì tụt
hậu, hình bóng của các nước ấy trong quan hệ quốc tế cũng trở nên mờ nhạt.

Lợi dụng sự thất thủ của Pháp ở Đông Dương, tháng 9/1940 Nhật Bản
cho quân xâm lược Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông
Dương cho Nhật. Chịu cảnh “một cổ hai tròng” đời sống của nhân dân Việt
Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế.
- Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp, Nhật và tay sai phản động
ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
1.3. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên bùng nổ
1.3.1. Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi nghĩa Nam Kỳ và Binh biến Đô Lương
- Ngày 27 tháng 9 năm 1940, người dân Bắc Sơn do Đảng bộ Đảng
Cộng sản Đông Dương địa phương lãnh đạo đã chớp cơ hội đế quốc Nhật tấn
công vào Lạng Sơn, đế quốc Pháp trốn chạy về Thái Nguyên qua Bắc Sơn,

8


Đảng bộ Bắc Sơn huy động dân chúng vũ trang cướp chính quyền, tấn công
chiếm được đồn Mỏ Nhài, tiếp tục tấn công tàn quân Pháp ở đèo Canh Tiêm,
Sập Dì. Xứ ủy Bắc Kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương cử Trần Đăng Ninh lãnh
đạo phong trào và xây dựng lực lượng để chiến đấu lâu dài. Pháp sau đó tập
trung quân chiếm lại các đồn và đàn áp phong trào. Khởi nghĩa Bắc Sơn tan rã
nhưng phong trào du kích vẫn tiếp tục.
- Năm 1940, Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương chủ
trương và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trong hoàn cảnh nước Pháp bị
bại trận trong “Đệ nhị thế chiến”, Phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương,
chiến tranh Pháp - Xiêm có nguy cơ bùng nổ, phong trào phản kháng của binh
sĩ người Việt trong quân đội Pháp ở miền Nam Việt Nam có dấu hiệu phát
triển. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp
tháng 11 nhận định điều kiện cách mạng chưa chín muồi, đã quyết định đình
hoãn cuộc khởi nghĩa. Nhưng quyết định đó chưa kịp phổ biến thì lệnh khởi
nghĩa đã được ban bố. Ngày 23 tháng 11, khởi nghĩa đã diễn ra ở Mỹ Tho,

được đề ra từ hội nghị VI vào tháng 11 năm 1939 là đề cao nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, vào ngày 19
tháng 5 năm 1941, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập
Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh).
1.3.3. Cao trào kháng Nhật
Cao trào kháng Nhật cứu nƣớc và Khởi nghĩa Ba Tơ
+ Tối 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn bán đảo Đông Dương,
trong đó có Việt Nam. Sau khi lật Pháp độc chiếm Đông Dương, chính quyền
Nhật liền thi hành chính sách mua chuộc, mỵ dân, kết hợp với chính sách
đàn áp.
+ Về chính trị, Phát xít Nhật Bản tuyên bố trao trả “độc lập” cho Việt
Nam, thành lập và bảo hộ Đế quốc Việt Nam, nhưng giữ nguyên bộ máy cai

10


trị của Pháp và thay người Nhật vào vị trí người Pháp. Nhật cho quân đội
Thiên Hoàng tấn công vào các chiến khu và cơ sở cách mạng của Việt Minh.
+ Về kinh tế, Nhật chiếm các cơ sở kinh tế của chế độ cũ, in giấy bạc
mới tung ra thị trường, vơ vét tư liệu sản xuất, hàng hóa, lương thực và cướp
đoạt tài sản của dân chúng Việt Nam; làm cho nền kinh tế Việt Nam bị kiệt
quệ, cuộc sống người dân điêu đứng, cùng quẫn. Giá gạo ở Bắc Kỳ vào tháng
10/1944 còn là 1150 đồng/tạ, thì đến tháng 2/1945 đã là 1.000 đồng/tạ. Tình
trạng đó đã dẫn đến nạn đói Ất Dậu, làm gần 2 triệu người bị chết đói.
Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương phát động cao trào kháng Nhật mạnh
mẽ và chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa; đồng thời thay đổi hình thức tuyên
truyền, thay đổi khẩu hiệu tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với
tình hình mới.

Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh mời một số người đến góp ý
cho bản Tuyên ngôn độc lập do ông soạn thảo.
Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh bổ sung thêm cho dự thảo
Tuyên ngôn độc lập.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập
trước đông đảo nhân dân, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Việt Nam chính thức phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc.
Đây được nhiều người xem là bản Tuyên ngôn độc lập thứ ba trong lịch
sử Việt Nam, sau bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt ở thế
kỷ 10 và Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi viết năm 1428.

12


Chƣơng 2
VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG LỰC
LƢỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
THỜI KỲ 1941 - 1945
2.1. Hồ Chí Minh về nƣớc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam
2.1.1. Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng
- Ngày 28/1/1941, sau 30 năm tìm đường cứu nước và hoạt động yêu
nước ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc. Pắc Bó (Hà Quảng Cao Bằng) là nơi đầu tiên được Người chọn đặt cơ quan lãnh đạo cách mạng.
2.1.2. Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ sở cách mạng,
tổ chức quần chúng, chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ tám của
Đảng
- Về đến Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ
sở cách mạng, tổ chức quần chúng, chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ
tám của Đảng. Hội nghị họp trong tháng 5/1941 tại Pắc Bó do Người chủ trì,
tiếp tục chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, nhưng nêu cao hơn
nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chủ trương giải quyết vấn

2.1.3. Giữa năm 1944, tình hình thế giới và nước ta chuyển biến mau lẹ
có lợi cho cách mạng
- Giữa năm 1944, tình hình thế giới và nước ta chuyển biến mau lẹ có
lợi cho cách mạng. Căn cứ vào đó, ngày 7/5/1944 Tổng bộ Việt Minh ra chỉ
thị cho các cấp sửa soạn khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân “Sắm vũ khí đuổi thù
chung”. Tháng 10/1944, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc nêu rõ:
“phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt... Cơ hội cho 1 dân tộc ta chỉ ở trong
một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”.

14


2.1.4. Hai đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân
cùng nhau hợp nhất thành Việt Nam Giải phóng quân
- Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và được Hồ Chí Minh giao
trọng trách, ngày 22/12/1944 Võ Nguyên Giáp thành lập “Đội Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân” gồm 34 chiến sĩ trong một khu rừng thuộc
huyện Nguyên Bình - Cao Bằng. Sau đó, Đội xuất quân và giành chiến thắng
liền trong hai trận, tiêu diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng)
ngày 25 và 26/12/1944.
- Phát huy trận đầu ra quân là chiến thắng, đội đẩy mạnh hoạt động vũ
trang tuyên truyền, kết hợp chính trị và quân sự, xây dựng cơ sở cách mạng,
góp phần củng cố và mở rộng khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng, cổ vũ và thúc đẩy
phong trào cách mạng trong cả nước.
+ Ở Thái Nguyên, đội Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích, hạ
nhiều đồn địch, phối hợp cùng với nhân dân thành lập chính quyền ở một số
nơi. Đến giữa tháng 5/1945, hai đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
và Cứu quốc quân cùng nhau hợp nhất thành Việt Nam Giải phóng quân.
Như vậy, bên cạnh lực lượng hùng hậu của quần chúng, lực lượng vũ
trang ra đời và trưởng thành nhanh chóng, trở thành chỗ dựa cho cách mạng.

dân chủ. Nền văn hoá đó phải được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản: khoa
học, dân tộc, đại chúng.
Muốn cho ba nguyên tắc đó được thực hiện, một mặt, cần ra sức xây
dựng nó; mặt khác, cần tích cực đấu tranh chống lại văn hoá tư tưởng thực
dân phong kiến, nô dịch, phản khoa học, phản dân tộc, phản nhân dân, xa rời
quần chúng. Cùng với “Đề cương văn hoá Việt Nam”, Hội văn hoá cứu quốc
Việt Nam ra đời và tham gia Việt Minh.
Đảng còn vận động, giúp đỡ một số sinh viên, trí thức yêu nước tiến bộ
thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam, một chính Đảng của tư sản dân tộc và trí
thức yêu nước, tiến bộ Việt Nam. Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời tháng

16


6/1944 và gia nhập Việt Minh.
Như vậy, bên cạnh lực lượng hùng hậu của quần chúng, lực lượng vũ
trang ra đời và trưởng thành nhanh chóng, trở thành chỗ dựa cho cách mạng.
2.2. Xây dựng lực lƣợng chính trị quần chúng
Xây dựng lực lượng vũ trang là vấn đề cơ bản, trọng yếu của mọi cuộc
cách mạng. Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và với tầm nhìn
chiến lược, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có nhiều chỉ thị, huấn thị về công tác
chính trị trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân qua các thời kỳ. Những
quan điểm đúng đắn, sáng tạo của Người đến nay còn nguyên giá trị lý luận
và thực tiễn.
2.2.1. Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Hồng
quân công nông, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng một cách sáng tạo,
phù hợp vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam
- Ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, Nguyễn Ái
Quốc đã chủ trương: “Tổ chức ra quân đội công nông” nhằm thực hiện các
nhiệm vụ chính trị do Đảng xác định. Đặc biệt, giai đoạn 1941 - 1945, khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status