Chủ đề: Phân tích, chứng minh và vận dụng thực tế luận điểm sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa”. pot - Pdf 19

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ

BÀI THẢO LUẬN NHÓM

MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Chủ đề: Phân tích, chứng minh và vận dụng thực tế luận điểm sau của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: “ Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải
có những con người xã hội chủ nghĩa”. Danh sách nhóm

1. Đào Thanh Trường (TN) QH2009E-KTĐN
2. Nguyễn Quang Tú QH2009E-KTĐN
3. Vũ Thị Kim Phượng QH2009E-KTĐN
4. Nguyễn Văn Đức QH2009E-KTPT
5. Bùi Thị Hoa QH2009E-KTPT
6. Lê Thị Quỳnh QH2009E-KTPT


mạng, nó kết thành những làn sóng vô cùng mạnh mẽ khiến nhiều kẻ thù lớn
mạnh cũng phải dè chừng. Cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không
phải một hai người. Tuy nhiên, sức mạnh to lớn ấy chỉ phát huy khi được tập
hợp, đoàn kết và được lãnh đạo bởi một tổ chức chính trị chặt chẽ, chí khí và
phải kiên quyết.
Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề thật khéo léo: “Cách mệnh trước hết phải có
cái gì?. Một câu hỏi ngắn gọn, súc tích nhưng lại chứa đựng nhiều nội dung
quan trọng và có ý nghĩa, là đòn bẫy đưa người đọc đến với nhưng lý giải ở
phần tiếp sau. Nội dung câu hỏi của Người không chỉ đơn giản là cách mạng
cần phải có những cái gì mà ở đây, điều mà Người muốn nhấn mạnh đó là từ
“trước hết”. “Trước hết” không phải là cái duy nhất mà là cái đặt trên đầu tiên
hay nói cách khác nó chính là cái quan trọng nhất. Và cái “trước hết” đó, cái
quan trọng nhất đó được Người khẳng định là “Đảng cách mệnh”.
Vậy “Đảng cách mệnh” là gì?. Tại sao “Đảng cách mệnh” lại là yếu tố
Người lựa chọn làm cái cần thiết, cái “trước hết” khi đề cập đến vấn đề cách
mạng. Trong thời kỳ nào Đảng cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng, và trong
thời kỳ này, giai đoạn này này “Đảng cách mệnh” được xem là quan trọng hơn
cả trong sự nghiệp giải phóng đất nước.Vậy “ Đảng cách mệnh” nó giống và
khác Đảng ở chỗ nào. Ta thấy “Đảng cách mệnh” và Đảng khác nhau ở hai chữ
"cách mệnh".
- Theo tinh thần Nho giáo Trung Quốc: "cách mệnh" nghĩa là đổi mới
mệnh Trời giao cho con trời (thiên tử) – là vua nếu vua không làm tròn nhiệm
vụ, giữ cái mệnh ấy, vì vậy phải giao sứ mệnh này cho trời khác.
- Theo quan điểm của phương tây, "cách mệnh" lại có nghĩa là "vòng
quay, sự quay vòng, chu kỳ quay vòng hay đó là những biến động trong cơ cấu
kinh tế - xã hội, là sự thay dổi từ một chất lượng này sang chất lượng khác.
- Theo sổ tay hán việt “cách mệnh” được hiểu là một biến đổi căn bản
lớn trong quan hệ xã hội, chính trị, thực hiện thông qua đấu tranh giai cấp. Cuộc
đấu tranh nhằm thực hiện hoặc biến đổi về căn bản.
- Xuất phát từ thực tiễn Viêt Nam, Hồ Chí Minh đã đi đến một định nghĩa

muốn được giải phóng dân tộc, giải phóng cho nhân dân mình, cho giai cấp
mình. Và người cũng rút ra được những lý luận mới mẻ, đó là mối quan hệ giữa
nhân dân các dân tộc khác. Hơn nữa, khẳng định được vai trò này của Đảng còn
cho ta thấy việc định hướng đúng đăn của Người và thúc đẩy phong trào cách
mạng vô sản phát triển mạnh mẽ hơn. Hai vai trò quan trọng “trong thì”, “ngoài
thì” của Đảng cũng được xem như là các hoạt động đối nội và đối ngoại của
Đảng. Qua đây, Hồ Chí minh cũng muốn khẳng định vai trò to lớn của “Đảng
cách mệnh” trong phong trào cách mạng, giải phóng dân tộc.
Và cuối cùng, Người chốt lại rằng: “Đảng có vững cách mệnh mới thành
công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Người khẳng định để
cách mệnh thành công thì bắt buộc Đảng phải vững. Đơn giản vì Đảng là nhân
tố quyết định hàng đầu để đưa cách mạng Việt Nam thắng lợi. Đảng Cộng sản
Việt Nam là chính Đảng của giai cấp công nhân Viêt Nam, là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, có khả năng đoàn kết, “tập hợp”. “lôi kéo” các tầng lớp
nhân dân khác đứng lên làm cách mạng. “Đây là đội tiền phong, đội tham mưu
của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc” như Hồ Chí
Minh từng nói. Vì thế mà “Đảng có vững thĩ cách mạng mới thành công”.
Ở đây, Người cũng thật khéo léo và tinh tế khi lựa chọn hình ảnh so sánh
hết sức độc đáo mà cũng thật ý nghĩa khi so sánh Đảng như “người cầm lái”,
còn cách mạng ta như chiếc thuyền. Ta thử hình dung nếu như chiếc thuyền mà
không có người cầm lái nó sẽ trôi vô định, không phương hướng và rồi sẽ bị
cuốn trôi theo dòng nước, nhưng khi nó đã có người cầm lái thì tất nhiên chiếc
thuyền đó như được phập phồng nhựa sống, nó sẽ xác định được phương hướng
của mình. Đây cũng chính là cách so sánh ngầm của Hồ Chí Minh nhằm khẳng
định vai trò vô cùng quan trọng của Đảng. Đó là vai trò tổ chức, lãnh đạo của
Đảng dẫn dắt cách mạng thành công.

Tóm lại, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ thực
tiễn của cuộc cách mạng cũng như những truyền thống của dân tộc, Hồ Chí
Minh đã khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân vì vậy họ

một đất nước ổn định chính trị, có nền kinh tế tăng trưởng khá, đời sống của
nhân dân về cơ bản đã được cải thiện nhiều, v.v. Đó là những điều đã được nhân
dân thừa nhận, được rất nhiều quốc gia, tổ chức xã hội và nhiều người trên thế
giới thừa nhận. Hầu như mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng được
đề ra đều nhằm đến chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Trong
đó, có thể nói đến chủ trương xóa đói giảm nghèo, vì người nghèo, nâng cao đời
sống văn hóa… được thực hiện những năm qua đã thu hẹp khoảng cách giàu
nghèo và tạo sự công bằng trong xã hội. Người dân nhìn thấy được điều này và
luôn đặt niềm tin vào Đảng, coi Đảng là của dân tộc, của đại bộ phận nhân dân
đó là ổn định về mặt xã hội.
Minh chứng rõ nét nhất của điều này là ở giai đoạn Nhà nước non trẻ của
chúng ta vừa ra đời, Đảng đã đưa chủ trương cứu đói, thực hiện chính sách
ruộng đất, rồi xóa nạn mù chữ, xóa bỏ các luật lệ áp bức bất công của chế độ
cũ…, làm cho nhân dân hiểu rõ được ngay chế độ mới là chế độ của mình,
chính quyền cách mạng là chính quyền của dân, do dân và vì dân. Chính vì vậy
mà nhân dân đã đem hết tài năng, sức lực, của cải, tính mạng để bảo vệ chế độ
mới, bảo vệ đất nước do mình làm.

1. Những thành tựu vĩ đại.
80 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giương cao
ngọn cờ độc lập đân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử
thách và đã giành được những thành tựu vĩ đại. Đó là:
- Tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập ra nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam) Nhà nước của công nông và nhân dân lao động đầu tiên ở Châu Á.
- Tiến hành cuộc kháng chiến lần thứ nhất, đánh thắng chiến tranh xâm
lược của thực dân Pháp được đánh dấu bằng thắng lợi lịch sử Điện Biên
Phủ, giải phóng miền Bắc, góp phần quan trọng mở đầu sự sụp đổ của
chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
- Tiến hành cuộc kháng chiến lần thứ hai đánh thắng cuộc chiến tranh xâm

Từ năm 1996 đến năm 2000 đất nước đã đạt được nhịp độ tăng trưởng cao. Tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân của 10 năm (1990-2000) đạt 7,5%; năm 2000 so
với năm 1990, GDP tăng hơn 2 lần. Trong 5 năm (2001-2005) của nhiệm kỳ
Đại hội IX, GDP bình quân tăng gần 7,5%; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch
đáng kể, nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế đã được huy động
khá hơn; nhiều lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đã được phát huy.
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện.
- Hai là, thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần. Để nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Đảng đã quan tâm lãnh
đạo đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước. Luật Doanh
nghiệp nhà nước năm 2003 tạo khung pháp lý, có tác dụng giải phóng lực lượng
sản xuất, phục vụ cho việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà
nước. Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan
trọng theo hướng xoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ
và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh, giảm thiểu sự can thiệp trực
tiếp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; đã tập trung chỉ
đạo sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của doanh nghiệp nhà
nước. Qua sắp xếp, đổi mới và cổ phần hoá, số doanh nghiệp nhà nước giảm đi
(năm 1990 là 12.084, đến tháng 6 năm 2005 còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn
nhà nước), ngoài ra còn có 670 công ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51%
vốn điều lệ. Nhờ đổi mới như vậy mà các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có
hiệu quả hơn. Năm 2005 các doanh nghiệp đã đóng góp 39% GDP, 50% tổng
ngân sách nhà nước.
Kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã, đã được đổi mới từng bước theo Luật
Hợp tác xã và các chính sách của Đảng và Nhà nước. Các hợp tác xã đã chứng
tỏ được rõ hơn vai trò, vị trí đối với kinh tế hộ trong sản xuất hàng hóa, đặc biệt
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước
của khu vực hợp tác xã giảm nhanh, nhưng bắt đầu có chiều hướng phục hồi. Số
lượng hợp tác xã tuy giảm nhiều so với trước (mặc dù hằng năm đã xuất hiện
nhiều hợp tác xã mới), nhưng nhờ đổi mới cơ chế quản lý trong hợp tác xã, nên

trong nước đã tạo khung pháp lý ban đầu cho các yếu tố thị trường hình thành
và vận hành từng bước. Đồng thời, Nhà nước đã thể chế hoá thành cơ chế, chính
sách về đất đai, tín dụng, ưu đãi thuế, Nhờ đó, đã góp phần tích cực cho quá
trình phát triển kinh tế thị trường trong suốt gần 20 năm qua.
Nhà nước đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ
quan nhà nước, chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước của Nhà nước và
chức năng kinh doanh của doanh nghiệp chuyển từ quản lý cụ thể các hoạt động
của nền kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân; chuyển từ can thiệp
trực tiếp vào nền kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật,
kế hoạch, cơ chế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.
- Bốn là, cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Về cơ cấu ngành kinh tế: từ năm 1988
đến nay, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng nhanh và liên tục
(năm 1988 là 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8%, năm 2003 là 40%, dự kiến năm
2005 chiếm 41% GDP). Từ chỗ chưa khai thác dầu, đến nay đã có sản lượng
(quy ra dầu) gần 20 triệu tấn/năm; ngành công nghiệp chế tác chiếm 80% giá trị
sản lượng công nghiệp; công nghiệp xây dựng phát triển khá mạnh; sản phẩm
công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm
1988 là 46,3%, năm 2003 còn 21,8%; năm 2005 là 20,5%. Trong nội bộ ngành
nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ
trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị
xuất khẩu. Giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích tăng lên. Tỷ trọng khu vực
dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,2% năm 2003, 38,5%
năm 2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của sản xuất và đời sống. Ngành bưu chính - viễn thông và du lịch phát triển
nhanh. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triển
khá.
Về cơ cấu các vùng kinh tế: có sự chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so
sánh và quan tâm hỗ trợ các vùng còn có nhiều khó khăn. Ba vùng kinh tế trọng
điểm đã phát triển với tốc độ cao hơn mức bình quân của cả nước, hiện chiếm


III. VẬN DỤNG THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY
Thực tiễn đã qua cho thấy vai trò quan trọng của Đảng trong quá trình
xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Với vai trò lãnh đạo của mình, Đảng đã lãnh đạo
các tầng lớp nhân dân vượt qua mọi nguy hiểm đánh bại hai đế quốc hùng mạnh
nhất thế giới, giải phóng miền nam thống nhất đất nước. Trong giai đoạn hiện
nay, Đảng cũng thể hiện vai trò lãnh đạo của mình trên tất cả các lĩnh vực.
1. Đưa đất nước tiến nhanh lên CNXH
Đảng là người lãnh đạo trực tiếp để đưa đất nước ta từng bước tiến lên
XHCN. Quá trình đó diễn ra liên tục, xuyết xuất trong quá trình bảo vệ và đổi
với đất nước đến hiện nay. Mỗi thời kỳ có những hoàn cảnh đặc thù khác nhau
nhưng Đảng vẫn luôn vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
một số cách làm cụ thể.
- Thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp, cải tạo với
xây dựng, lấy xây dựng làm chính.
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có kế hoạch, biện pháp, quyết tâm để
thực hiện thắng lợi kế hoạch.
- Trong điều kiện nước ta, biện pháp cơ bản, quyết đinh, lâu dài trong xây
dựng chủ nghĩa xã hội là đem của dân, tài dân, sức dân, làm lợi cho dân.
2. Phát triển đất nước theo hướng CNH-HĐH
Đảng ta tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về CNH
- Con đường CNH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với
các nước đi trước. Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới. Một nước đi sau có điều kiện tận dụng những kinh nghiệm kĩ thuật, công
nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại qua hội
nhập quốc tế để rút ngắn thời gian. Tuy nhiên, tiến hành CNH theo kiểu rút
ngắn sơ với các nước đi trước, chúng ta cần thực hiện các yêu cầu như: phát
triển kinh tế và công nghiệp phải vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy
vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắn CNH với HĐH, từng bước phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status