Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển hợp quy luật (ĐCSVN) - Pdf 32

Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển hợp quy luật
(ĐCSVN)- Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng
khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam
theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh”. Văn kiện nhấn mạnh “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả
các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một
thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh
tế, xã hội có tính chất quá độ”(1).
Đó là sự khẳng định dứt khoát con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Sự
lựa chọn đó phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, đáp ứng xu thế phát triển
của xã hội loài người, đáp ứng lòng mong mỏi và lợi ích của toàn dân tộc. Đó
chính là con đường biện chứng của lịch sử.
Trước sự lựa chọn đó, các thế lực thù địch đều cùng công kích vào đường lối đó
của Đảng. Họ đã rêu rao rằng: Đại hội IX của Đảng khẳng định con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội là đưa dân tộc vào chỗ chết. Họ nêu ra thuyết chủ nghĩa xã hội
“đẻ non” ở nước ta là hiện tượng trái quy luật mà Mác đã nêu trong lý luận quá
trình lịch sử tự nhiên. Thực ra, họ chỉ “nhắc lại” những luận điệu đã có từ 10 năm
nay.
Luận điệu này không có gì mới mẻ. Ngay từ trước và sau Cách mạng tháng Mười,
Plêkhanốp đã từng chỉ trích như thế đối với Đảng Bonsevic do Lênin lãnh đạo, cho
rằng giành chính quyền khi ở nước Nga giai cấp vô sản chưa có sự chuẩn bị tốt,
chỉ có thể “ đẩy nó tới con đường tai họa lịch sử lớn nhất”. Còn Cauxki công kích
Cách mạng tháng Mười bằng lời lẽ càng độc ác hơn, cho rằng xây dựng chuyên
chính vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nga chẳng khác nào “một phụ nữ mang
thai nhảy nhót điên cuồng, nhằm rút ngắn thời gian mang thai mà nó không thể


nào chịu đựng nổi rồi dẫn đến đẻ non”. Thậm chí ông ta nguyền rủa “Đứa trẻ sinh
ra như thế thông thường không thể sống nổi”.
Mặc dù nội dung và phương thức luận chứng của thuyết “đẻ non” không có gì

tiến hành cuộc đấu tranh ngoan cường với cường quốc đế quốc chủ nghĩa và với
giai cấp thống trị phản động ở trong nước, nhưng do thiếu vũ khí lý luận khoa học
nên đều bị thất bại. Chủ nghĩa Mác với tư cách là lý luận khoa học của giai cấp vô
sản được truyền bá sang phương Đông đã mang lại vũ khí tư tưởng mới cho giai
cấp vô sản và quần chúng lao động ở những nước đó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản, một khi giai cấp vô sản nắm được lý luận của chủ nghĩa Mác thì cuộc
đấu tranh của họ chống chủ nghĩa đế quốc và giai cấp thống trị phản động trong
nước sẽ chuyển từ tự phát sang tự giác, do vậy đã rút ra được kết luận mà bất cứ
lúc nào trước kia cũng không thể rút ra được; chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là lối
thoát duy nhất. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước lạc hậu như Nga,
Trung Quốc...đã nổ ra trong bối cảnh như thế.
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, giải phóng dân
tộc, tiến hành cải tạo XHCN không thể đi con đường tư bản chủ nghĩa - con đường
của sự cướp bóc tàn bạo, của sự phân hóa giai cấp, con đường đầy máu và nước
mắt. Nếu đi con đường này tất nhiên sẽ tạo ra phân hóa giai cấp, phân cực xã hội
rất nghiêm trọng, vừa đau khổ vừa dai dẳng, vừa không phù hợp với tình hình thực
tế, vừa đi ngược lại ý chí của quần chúng nhân dân. Đồng thời trong hoàn cảnh
quốc tế khi chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống thế giới, đi con đường tư bản
chủ nghĩa tất nhiên không thể thoát khỏi sự lệ thuộc vào tư bản độc quyền quốc tế,
kết cục chỉ có thể là lại trở thành vật phụ thuộc của các cường quốc phương Tây.
Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể bảo vệ được thành quả của cách mạng dân chủ,
mới phát triển đất nước đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.


Hiện tượng phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế thoái trào không thể giúp gì cho
thuyết “đẻ non” cũng như biến tướng của nó là thuyết “học bù”. Nguyên nhân sụp
đổ CNXH ở Liên Xô, Đông Âu không phải do “đẻ non” mà là bắt nguồn từ
nguyên nhân trực tiếp, sâu xa là các Đảng Cộng sản cầm quyền phạm sai lầm
trong đường lối, những khiếm khuyết trong mô hình phát triển để kéo dài dẫn đến

thấy bắt đầu quá trình ấy bằng việc Mác khẳng định sơ đồ thứ nhất là một sơ đồ
trừu tượng, chỉ có ý nghĩa một khái quát lôgic đối với lịch sử toàn thế giới. Mác đã
cảnh cáo những mưu toan “sử dụng chiếc chìa khóa vạn năng dưới hình thức là
một lý luận triết học lịch sử chung nào đó mà tính chất cao nhất là tính siêu lịch
sử của nó”(3). Còn Ăngghen thì khẳng định rằng “những cái gì không đúng theo ý
nghĩa hình thái kinh tế lại có thể đúng theo lịch sử toàn thế giới”(4). Hiểu rõ tính
biện chứng của lịch sử, Ăngghen đã nêu ra tính hai mặt của nó “Một mặt, sự phát
triển cụ thể như nó đã diễn ra trong hiện thực và mặt khác là kết cấu của toàn bộ
hệ thống.”(5).
Chính trên cơ sở biện chứng đó, Mác và Ăngghen đã nêu ra sơ đồ thứ hai về sự
phát triển của lịch sử loài người. Mác và Ăngghen gọi đó là “sự phát triển rút
ngắn” hay là con đường tắt của lịch sử. Theo sơ đồ này thì lịch sử các dân tộc
không diễn ra tuần tự qua các hình thái kinh tế - xã hội, mà thường bỏ qua giai
đoạn này hay giai đoạn khác trong khuôn khổ sơ đồ chung của lịch sử toàn nhân
loại. Khẳng định sơ đồ này, Mác đã phê phán gay gắt những quan điểm cho rằng
lịch sử các dân tộc phải đi theo tuần tự quá trình lịch sử - tự nhiên như là một định
mệnh, rằng CNTB Tây Âu là con đường chung mà tất cả các dân tộc nhất thiết
phải đi theo. Tuy nhiên, bước khởi đầu của việc xác định sơ đồ này, Ăngghen đã
gắn cuộc cách mạng XHCN ở các nước lạc hậu với cách mạng XHCN ở các nước


phương Tây phát triển. Ăngghen cho rằng: “Nếu như cách mạng Nga báo hiệu một
cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây, thành thử cả hai cuộc cách mạng ấy bổ
sung cho nhau thì chế độ sở hữu ruộng đất ở Nga có thể trở thành khởi điểm của
một sự phát triển CSCN”. Chỉ đến cuối đời, Mác và Ăngghen mới đi đến kết luận
sự thay thế hình thái đó chỉ có thể bắt đầu ở những nước phát triển trung bình
hoặc lạc hậu. Mác viết “CNTB như một cơ thể, nó chỉ có thể chết dần từ đầu
ngón chân, ngón tay, còn tim óc sẽ chết sau cùng”(6). Như vậy, Mác và Ăngghen
đã hoàn thành sơ đồ thứ hai của sự phát triển lịch sử loài người. Nếu sơ đồ thứ
nhất cho ta thấy lịch sử loài người trên phạm vi toàn thế giới là lịch sử - tự nhiên,

khả năng tự bảo vệ của nó. Lênin gọi đó là cái vỏ thép tốt nhất làm chậm sự ra đời
của hình thái mới tại đó.
2. Tính quy luật phát triển không đồng đều tác động ở mỗi giai đoạn lịch sử chứ
không chỉ ở chủ nghĩa đế quốc với tư cách là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản.
Chính sự phát triển không đồng đều này đã tạo ra sự tồn tại song song các hình
thái trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Khi chế độ chiếm hữu nô lệ đã phát
triển cao ở Hy Lạp và La Mã thì nhiều khu vực khác vẫn tồn tại chế độ công xã
nguyên thủy. Khi CNTB đã phát triển cao ở Tây Âu thì nhiều khu vực khác vẫn
tồn tại các hình thái phong kiến hoặc tiền phong kiến.
3. Sự tồn tại song song các hình thái ở một giai đoạn nhất định sẽ tất nhiên diễn ra
sự tác động lẫn nhau của các hình thái ấy. Một trong những hình thức tác động ấy
là các hình thái cao hơn phát huy ảnh hưởng sang các khu vực còn lại, còn các dân
tộc đang còn trong hình thái cũ sẽ tiếp thu nhanh chóng nhưng không đầy đủ
“những thành quả tinh thần của hình thái kia”, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học kỹ
thuật. Điều này đã được Mác phân tích trường hợp nước Nga chuyên chế tiếp thu
nhanh chóng những máy móc, tàu thủy, đường sắt...mà không phải trải qua thời kỳ


thai nghén lâu dài trong sự phát triển nền sản xuất cơ khí như ở phương Tây, cũng
như đã ứng dụng ngay lập tức toàn bộ cơ chế trao đổi (ngân hàng, công ty tín
dụng...) mà ở phương Tây phải mất hàng thế kỷ mới xây dựng lên được. Sự tiếp
thu không đầy đủ này, mặc dù yếu kém hơn những nước phát triển, nhưng lại tạo
ra một lực lượng “đào mồ chôn” các quan hệ thuộc hình thái kinh tế - xã hội cao
hơn cái mà nó đang tồn tại. Ví dụ giai cấp vô sản ở Nga, cũng như ở Việt Nam và
một số nước khác, có chức năng là xóa bỏ chế độ tư bản nhưng lại hình thành và
phát triển trong các nước phong kiến rất lạc hậu về quan hệ xã hội. Vì vậy ở đó,
cái vỏ quan hệ xã hội của nó rất yếu ớt. Và khi phá vỡ cái vỏ đó, đương nhiên giai
cấp vô sản phải thực hiện chức năng lịch sử vốn có của mình là xây dựng CNXH.
Chính sự không ăn khớp này biểu hiện ra bên ngoài như là mâu thuẫn giữa sơ đồ
chung của lịch sử nhân loại với lịch sử cụ thể của các dân tộc và là cội nguồn của

cho rằng, ở vào thời kỳ quá độ, thậm chí ở giai đoạn đầu của CNXH vẫn “có sự
bóc lột của tư bản mà không có phương thức sản xuất TBCN”(8) .Còn Ăngghen khi
dự báo các hình thức hợp tác xã trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã nhận định, khi
quan hệ sản xuất XHCN chưa thống trị thì các hợp tác xã đó chưa thể mang tính
chất XHCN(9).
Dự báo con đường phức tạp của lịch sử như vậy, Mác và Ăngghen đã hình dung
CNXH ra đời trên cơ sở vật liệu của xã hội cũ để lại và không thể hoàn chỉnh ngay
được. Chính vì vậy, Mác cho rằng “Sự phát triển của nó hướng tới chỗ hoàn chỉnh
để chi phối tất cả các yếu tố của xã hội hoặc từ xã hội mà xây dựng lên những cơ
quan nó còn thiếu”(10). Song những hình thức quá độ, các giai đoạn quá độ cụ thể
như thế nào thì lại tùy thuộc vào tình hình cụ thể. Cho nên, cho đến cuối đời Mác
và Ăngghen vẫn chưa đưa ra được câu trả lời. Ăngghen viết “Các hình thức quá
độ lên xã hội cộng sản... đó là vấn đề khó khăn nhất trong tất cả các vấn đề tồn
tại, vì các điều kiện biến đổi không ngừng”(11). Biện chứng của thời kỳ quá độ thể
hiện tính mâu thuẫn của sự phát triển.


Những dự báo của Mác và Ăngghen đã được lịch sử chứng minh. Lênin, người kế
tục sự nghiệp của Mác, phân tích sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa đế
quốc đã khẳng định cách mạng XHCN sẽ bùng nổ ở một nước tư bản trung bình
như nước Nga và đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng tháng Mười vĩ đại. Sau
những vấp váp và thất bại trong Chính sách cộng sản thời chiến, Lênin đã nêu ra lý
luận về các hình thức quá độ lên CNXH bằng việc áp dụng CNTB nhà nước bằng
việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thành phần XHCN chiếm ưu
thế, thể hiện trong Chính sách kinh tế mới. Cùng với việc giải quyết câu hỏi khó
nhất mà Ăngghen nêu ra, Lênin lần đầu tiên nêu ra luận điểm “toàn bộ quan điểm
của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản”.
Hơn 70 năm trôi qua kể từ Cách mạng tháng Mười Nga. Thế giới đã có nhiều biến
đổi. CNTB sau thời kỳ khủng hoảng đã tìm cách thích ứng với điều kiện lịch sử,
tận dụng cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại và tìm cách giải quyết một số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status