TiÓu luËn triÕt häc - TriÕt 4 - Chuyªn ngµnh LSVN
A. MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội từ đó dự
báo về sự ra đời hình thái kinh tế – xã hội mới cao hơn – hình thái cộng sản chủ
nghĩa – mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
Học thuyết đó thể hiện một cách chính xác những nhu cầu cơ bản của cuộc đấu
tranh cách mạng để thay đổi thế giới nhằm giải phóng con người.Trong bối cảnh
như vậy, việc nghiên cứu nghiêm túc để hiểu đúng tư tưởng của Mác-Ănghen và
Lênin cùng nhữngDự báo của C.Mác và V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và nội
dung của học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học. Và về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội nước ta trong thế kỷ XXI.Có vai trò vô cùng quan trọng đòi hỏi
chúng ta phải đi sâu nghiên cứu . Nhất là trong bối cảnh nước ta đang nỗ lực đi lên
chủ nghĩa xã hội.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.
Vấn đề này đã được nhiều tài liệu đề cập đến trong các sách báo, các tạp
chí chuyên nghành các công trình nghiên cứu khoa học …
III. MỤC ĐÍCH , NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
• Mục đích :
Trong khuôn khổ tiểu luận này tôi muốn đề cập đến: Dự báo của C.Mác và
V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và nội dung của học thuyết về chủ nghĩa xã hội
khoa học.Và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta trong thế kỷ XXI.
• Nhiệm vụ :
Nhằm làm sáng tỏ những tư tưởng, những luận điểm cơ bản của các ông
đến nay vẫn đúng, vẫn giữ nguyên giá trị và vai trò nền tảng, hướng dẫn trên
con đường dài xây dựng chủ nghĩa xã hội. Làm rõ một số luận điểm cụ thể
không còn thích hợp trong điều kiện lịch sử đã biến đổi không diễn ra như Mác
và Ănghen đã dự kiến.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Trong khuôn khổ đề tài này, vì điều kiện thời gian và tài liệu tham khảo có
nhiều hạn chế tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trên phương diện :
Sự ra đời này được chia làm ba giai đoạn:
1. Giai đoạn thứ nhất (1842 - 1845)
2. Giai đoạn thứ hai (1845 - 1848)
3. Giai đoạn thứ ba (1848 - 1857)
chương III: Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội qua phác thảo của Mác
và Ănghen
1. Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí
2. Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất
Häc viªn: §oµn §¹i C¬ng
2
TiÓu luËn triÕt häc - TriÕt 4 - Chuyªn ngµnh LSVN
3. Chủ nghĩa xã hội điều tiết một cách có kế hoạch nền sản xuất xã hội và nền
sản xuất hàng hóa về cơ bản sẽ trở nên thừa.
4. Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.
5. Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tăc phân phối theo lao động
6. Chủ nghĩa xã hội khi đã xây dựng xong, chủ nghĩa cộng sản đã được thực
hiện thì xã hội sẽ không còn giai cấp.
7. Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột tạo điều
kiện cho con người phát triển toàn diện.
8. Chủ nghĩa xã hội thực hiện sự bình đẳng xã hội.
9. Chủ nghĩa xã hội thực sự là sự nghiệp của bản thân quần chúng, là kết quả
cảu quá trình sáng tạo của quần chúng.
ChươngIV: Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta trong thế kỷ XXI.
Häc viªn: §oµn §¹i C¬ng
3
TiÓu luËn triÕt häc - TriÕt 4 - Chuyªn ngµnh LSVN
B. NỘI DUNG
Chương I
HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI - MỘT TRONG NHỮNG
yếu kém của nó. Trong khi đó, có những nhà tư tưởng lớn của thế giới cho rằng
thế kỷ tới đây sẽ là thế kỷ thắng thế của những tư tưởng cộng sản chủ nghĩa.Bởi lẽ,
sang thế kỷ XXI, không có học thuyết chính trị - xã hội nào có đủ khả năng vượt
lên trên chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc công khai và triệt để chống apớ bức, bóc
Häc viªn: §oµn §¹i C¬ng
4
Tiểu luận triết học - Triết 4 - Chuyên ngành LSVN
lt, bt cụng, kiờn quyt v nht quỏn bờnh vc ngi nghốo, ngi lao ng; thc
s tụn trng con ngi v cú kh nng to ln trong vic bo v mụi sinh.
Cn lu ý rng, khỏc vi ch ngha Mỏc, cỏc hc thuyt khỏc ch thc hin
nhng iu núi trờn nh l nhng bin phỏp tỡnh th, hoc nh l nhng gii phỏp
bt c d. Trong khi ú, ch ngha Mỏc trong bn cht ca nú, tt yu phi thc
hin nhng nhim v vn cú ca mỡnh.
1. Phm trự hỡnh thỏi kinh t - xó hi
Bng nhng cụng trỡnh nghiờn cu t m v quỏ trỡnh lch s, Mỏc ó xõy dng
hc thuyt hỡnh thỏi kinh t - xó hi, trong ú ụng ó vch ra ni dung ca phm
trự hỡnh thỏi kinh t - xó hi, bao gm cỏc quan im c bn sau:
a. Quan im tha nhn sn xut vt cht l c s ca s tn ti v phỏt trin
ca xó hi.
Theo Mỏc v nghen thỡ s sn xut xó hi l hot ng c trng riờng cú ca
con ngi v ca xó hi loi ngi.
Ch ngha Mỏc -Lờnin khng nh rng xó hi tn ti v phỏt trin c l nh
sn xut vt cht, lch s ca xó hi trc ht l lch s phỏt trin ca sn xut vt
cht, l lch s ca cỏc phng thc sn xut k tip nhau trong cỏc gai on phỏt
trin xó hi. Chớnh vỡ th, Mỏc cho rng: "V i th, cú th coi cỏc phng thc
sn xut chõu ỏ, c i, phong kin v t xn hin i l nhng thi i tin trin
dn dn ca hỡnh thỏi kinh t - xó hi".
iu ỏng lu ý l, s sn xut v tỏi sn xut ra i sng xó hi, xột n cựng
l nhõn t quyt nh i vi lch s, ngha l i vi c cỏc lnh vc ca vn hoỏ
tinh thn núi chung. Tuy nhiờn vn l ch, mi quan h nhõn qu ú phi
2. Các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất.
3. Các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.
Những quan hệ này, mặc dù về mặt khả năng, luôn luôn có xu thế phù hợp với
một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất; song trong thực tế, trước
hết chúng lại là những quan hệ hiện thực - lịch sử của con người ở những giai đoạn
lịch sử xác định. Chính điều này đã nói lên quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong
toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển đi lên của lịch sử xã hội
loài người từ chế độ công xã nguyên thuỷ đến chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ
phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản tương lai, trên thực tế là
do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản
nhất.
Mác viết : "Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản
xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có..., trong đó
từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức
phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các
lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội".
c. Quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng.
Toàn bộ những quan hệ sản xuất xã hội, bao gồm những quan hệ sản xuất thống
trị, tức là những quan hệ sản xuất đặc trưng cho mỗi phương thức sản xuất và tất
cả những quan hệ sản xuất khác tồn tại hiện thực trong mỗi phương thức sản xuất "
hợp thành " cơ cấu kinh tế của xã hội. Khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ
những quan hệ sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội trong sự vận động hiện
thựccủa chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của hình thái kinh tế - xã hôi đó.
Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã
hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp
lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sỏ hiện
thực đó."
một tiêu chuẩn hoàn toàn khách quan để thấy được các quy luật xã hội. Do đó, ''có
thể đem những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm
cơ bản duy nhất là: hình thái xã hội. Chỉ có sự khái quát đó mới cho phép chuyển
từ việc mô tả những hiện tượng xã hội sang việc phân tích hiện tượng đó một cách
hết sức khoa học''.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã khắc phục được quan niệm trừu tượng
về xã hội. Nó bác bỏ cách miêu tả một xã hội nói chung, phi lịch sử, không thay
đổi về chất. Do việc hình thành học thuyết hình thái kinh tế - xã hội mà quan điểm
phi lịch sử về xã hội đã phải nhường chỗ cho qua điểm lịch sử cụ thể.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở phương pháp luận của sự phân
tích khoa học về xã hội, hòn đá tảng của khoa học xã hội; và do đó, là một trong
những nền tảng lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội lần đầu tiên cung cấp cho chúng ta những
tiêu chuẩn thực sự duy vật vè phân kỳ lịch sử và cho phép đi sâu vào bản chất của
Häc viªn: §oµn §¹i C¬ng
7
TiÓu luËn triÕt häc - TriÕt 4 - Chuyªn ngµnh LSVN
quá trình lịch sử, hiểu được lôgic khách quan của quá trình đó. Học thuyết này
giúp cho việc hiểu được sự vận động của xã hội theo các quy luật khách quan,
vạch ra sự thống nhất trong cái muôn màu muôn vẻ của các sự kiện lịch sử ở các
nước khác nhau trong các thời kỳ khác nhau. Chính vì thế mà nó đem lại cho khoa
học xã hội sợi dây dẫn đường để phát hiện ra nững mối liên hệ nhân quả, để giải
thích chứ không chỉ mô tả các sự kiện lịch sử. Nó là cơ sở khoa học để tiếp cận
đúng đắn khi giải quyết những vấn đề cơ bản của các ngành khoa học xã hội rấy
đa dạng. Bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, từ hiện tượng kinh tế đến hiện tượng
tinh thần, đều chỉ có thể được hiểu đúng khi gắn nó với một hình thái kinh tế - xã
hội nhất định.
Ngày nay, thực tiễn lịch sử và kiến thức về lịch sử của nhân loại đã có nhiều bổ
sung và phát triển mới so với khi học thuyết về hình thái kinh tế xã hội ra đời. Tuy
vậy, những cơ sở khoa học mà quan niệm duy vật về lịch sử đã đem đến cho khoa
Häc viªn: §oµn §¹i C¬ng
8
TiÓu luËn triÕt häc - TriÕt 4 - Chuyªn ngµnh LSVN
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đi đến kết luận: hình thái kinh tế - xã hội tư bản
chủ nghĩa nhất định sẽ được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa và sự thay thế này cũng là quá trình lịch sử - tự nhiên. Sự thay thế đó được
thực hiện thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa mà hai tiền đề vật chất quan trọng
nhất của nó là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng thành của giai cấp
vô sản.
4. Phân tích hình thái kinh tế - xã hội, Mác - Ănghen đã dự báo về xã hội
tương lai.
Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, Mác tập trung phân tích hình thái
kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa. Ông viết: " Xã hội tư sản là một tổ chức sản xuất
phát triển nhất và đại diện nhất trong lịch sử. Vì vậy, các phạm trù biểu thị những
quan hệ của xã hội đó, kết cấu của xã hội đó, đồng thời cũng cho ta cái khả năng
hiểu thấu được kết cấu và các quan hệ sản xuất của tất cả các hình thái - xã hội đã
diệt vong..." Đồng thời, chính sự giải phẫu của Mác đối với xã hội tư bản và các
quy luật vận động của nó đã cho phép ông dự báo một cách khoa học về xã hội
tương lai.
Trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, do áp dụng triệt để phương pháp duy
vật biện chứng vào việc nghiên cứu xã hội, Mác và Ănghen không chỉ phân chia
lịch sử xã hội loài người ra thành các hình thái kinh tế - xã hội, mà còn phân chia
mỗi hình thái kinh tế - xã hội ra thnàh các giai đoạn phát triển nhất định. Theo
Mác, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có tính chất qua độ và tính chất lịch sử
nghĩa là đều phải trải qua quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong để chuyển
sang một hình thái cao hơn. Từ khi xuất hiện đến khi kết thúc sư tồn tại của mình,
mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều trải qua ba giai đoạn cơ bản: giai đoạn phát sinh,
giai đoạn phát triển và giai đoạn kết thúc. Mỗi giai đoạn ấy đều có độ dài, giới hạn
về thời gian, cũng như nội dung và đặc điểm riêng của nó. Mỗi giai đoạn ấy lại
được phân chia ra thành các thời kỳ, các thời đoạn phát triển khác nhau.
b. Bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân
chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản được hoàn thành trong những bức thư và
những bài báo của Mác đăng trong tạp chí Niên giám Pháp - Đức.
c. Tác phẩm bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 giữ vị trí quan trọng trong việc
hình thành CNXHKH. Trong tác phẩm này cả ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa
Mác nằm trong qua trình hình thành với tư cách là một chỉnh thể thống nhất. ở
đây, Mác thực hiện hai nhiệm vụ gắn liền với nhau: tổng kết những nghiên cứu
kinh tế đầu tiên của mình và luận chứng tính tất yếu của sự cải tạo cộng sản chủ
nghĩa đối với xã hội.
Điểm xuất phát trong phân tích của Mác về khoa kinh tế chính trị là mâu thuẫn
giữa tư bản và vô sản. Theo Mác, sự đối kháng đó có mặt trong quan hệ giữa tiền
công của công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản. Qua sự phân tích mâu thuẫn đó,
Mác đặt cơ sở cho lý luận đấu tranh giai cấp trong giai đoạn phát triển cao nhất
của chế độ tư hữu, tương ứng với nó là sự phân cực xã hội thành giai cấp chủ sở
hữu và giai cấp vô sản.
2. Giai đoạn thứ hai (1845 - 1848)
Từ mùa xuân năm 1845 đến tháng 2 năm 1848 là giai đoạn có ý nghĩa quyết
định của quá trình hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học, Mác và Ăngghen đã viết
một só tác phẩm quan trọng nhằm luận chứng về mặt triết học cho chủ nghĩa xã
hội khoa học và soạn thảo cương lĩnh đầu tiên của Đảng cộng sản.
a. Hệ tư tưởng Đức là tác phẩm rấy quan trọng của Mác và Ănggen, trong đó hai
ông đem đối lập hệ tư tưởng vô sản với hệ tư tưởng tư sản nói chung và với hệ tư
Häc viªn: §oµn §¹i C¬ng
10