Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây
dựng một nền kinh tế mở
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới.
Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và công
bố trước toàn thế giới, là một sự kiện trọng đại, đánh dấu thắng lợi mở đầu của phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Quốc hiệu, Quốc huy, Quốc ca, Quốc kỳ của nước Việt Nam độc
lập từ đó hiên ngang trên chính trường quốc tế, khẳng định quyền được bình đẳng giữa các dân tộc trên
thế giới.
Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đất nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới tự chủ.
Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép lại, mà là tự lực, tự cường, là sự tự vận động bằng chính các
nguồn lực sẵn có ngay trong lòng dân tộc mình, đất nước mình, không trông chờ, ỷ lại vào bất cứ nguồn
viện trợ nào dù đó là sự viện trợ vô tư và khách quan nhất (trong thực tế không có sự vô tư và khách
quan tuyệt đối đó); đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ và hợp tác với các nước khác trên tinh thần
đoàn kết và cùng có lợi, cùng vì mục tiêu hào bình và phát triển. Hồ Chí Minh viết:
Chủ tịch Hồ Chí Minh thǎm Nhà máy diêm Thống Nhất
trong những ngày đầu khôi phục kinh tế 1956
“Những nguyên tắc của Lênin về quyền dân tộc tự quyết, về chung sống hòa bình, không can
thiệp vào việc nội bộ của các nước khác, về quyền bình đẳng và quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tất cả
các nước, những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Liên Xô, đang chỉ cho nhân dân các
nước thuộc địa và phụ thuộc con đường đấu tranh giành thống nhất và độc lập dân tộc”.
Một nền kinh tế mở trước tiên phải xuất phát từ một nền xã hội mở, và một nền văn hóa mở. Hồ
Chí Minh đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng cách mạng thế giới, tự nguyện là một bộ phận
của cách mạng thế giới. Sự nghiệp cách mạng của Người là cuộc đấu tranh bền bỉ để toàn nhân loại bị áp
bức thoát khỏi kiếp nô lệ, tiến tới thế giới đại đồng. Người kêu gọi:
“Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới.
Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại !”.
Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc là sự mở rộng khẩu hiệu của V.I.Lênin và cả khẩu hiệu của C.
Mac và F.Enghen trước đó.Nó cụ thể hơn, bản chất hơn; rằng thế giới sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ
đại đã bước vào kỷ nguyên toàn thể nhân loại bị áp bức đồng loạt đứng lên “chặt đứt cả hai cái vòi của
con đỉa” là chủ nghĩa đế quốc thực dân “hút máu” người lao động ở thuộc địa và cả ở chính quốc; rằng,
đã đến lúc lao động toàn thế giới phải cùng nhau giành lại bằng được tất cả những quyền lợi mà chủ
thế giới ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Người đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận
của cách mạng thế giới,con đường đi tới của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Người khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do.
Người mong muốn và vận động, giáo dục nhân dân phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh
trên cơ sở thực hiện đời sống mới để cải tạo bản thân, cải tạo bản thân, tiếp tục hun đúc cho nền văn
hóa dân tộc ngày thêm bền vững và tỏa rạng mãi mãi. Tâm hồn và tư tưởng của Hồ Chí Minh gây xúc
động mạnh mẽ tới nhà báo Liên Xô Ôxip Medenxtam ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Trên báo Ogonok số
39 ngày 23 tháng 12 năm 1923, Medenxtam viết: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây,
Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh Châu Âu trên đất nước
ấy dùng lưỡi lê và rượu độc và che dấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ
Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa
tương lai”. Sau này, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng khẳng định điều đó khi tôn vinh Hồ Chí Minh là
“Anh hùng giải phóng dân tộc” và “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” và tổ chức kỉ niệm 100 năm Ngày sinh
của Người trên toàn thế giới.
Khi xây dựng một xã hội mở, một nền văn hóa mở thì nền kinh tế trong đó không thể khép kín.
Đó là một lôgic tất yếu. kinh tế có phát triển không và phát triển như thế nào, đều phụ thuộc trước tiên
và cuối cùng cũng là nhân tố con người, trong đó quan trọng lại là ý thức lao động của quần chúng nhân
dân. Tiến hành cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc thì đồng thời giải phóng nhân dân hỏi
kiếp nô lệ; nhưng, để toàn dân có ý thức lao động đúng đắn thì cách mạng phải tiếp tục thực thi những
nhiệm vụ nặng nề nhằm gột rửa những thói hư tật xấu do chế độ thực dân và phong kiến cai trị tạo ra
đã ăn sâu thành thói quen, thành sức ì trong tâm thức người lao động. Hồ Chí minh là người thấu triệt sự
cấp bách “phải có giáo dục đạo đức công dân”, phải “giáo dục tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện
Cần, Kiệm, Liêm, Chính” không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà cho cả công cuộc bảo
vệ tổ quốc và xây dựng đất nước trong dài lâu. Ý thức lao động chuyển từ địa vị kẻ nô lệ sang người chủ
đất nước trong người lao động là sự dịch chuyển vừa có tính đột biên vừa chậm chạp, có tác động ảnh
hưởng, trực tiếp hay gián tiếp, tới quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, tới quá trình xây
dựng và củng cố quan hệ sản xuất. Ý thức lao động ấy nếu không được giáo dục vận động thường xuyên
lại có cơ hội nảy nở và phát triển những mặt xấu, tiêu cực một cách tràn lan như cỏ dại. Hồ Chí Minh đã
nói: “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới”; và, bằng nhiều
cách lý giải khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau, Người kiên trì giáo dục cán bộ đảng viên và
công hòa trên nguyên tắc đảm bảo quyền độc lập tự chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu thẳng
thắn như sau:
“Có thể rằng: Những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vổn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu
xét ra cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: Chúng ta
hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có
ai khai thác. Có thể rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu,
đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia.
Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu
không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả”.
Phép “Dĩ bất biến ứng vạn biến” được Hồ Chí Minh vận dụng vào bất cứ hoàn cảnh nào, trong
mọi lĩnh vực đối nội và đối ngoại, trong chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự. Nguyên tắc độc lập, tự chủ là
trên hết, là bất di bất dịch, không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể lay chuyển nổi. Chỉ như vậy mới
đảm bảo độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Bất cứ ai, việc gì làm lợi và có lợi cho nước, cho
dân thì có thể sử dụng, huy động đến mức tối đa. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và khôn khéo,
linh hoạt, tùy cơ ứng biến, thì mọi cái khó thì trở nên dễ dàng.
Người viết:
“Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản
lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có
thể dùng được. Tài to ta dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt
ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta không lo gì thiếu cán bộ”.
Năm 1946, thời điểm đầy sóng gió đối với cách mạng Việt Nam, vận mệnh của nước Cộng hòa
non trẻ như ngàn cân treo sợi tóc, trước khi lên đường sang Pháp làm thượng khách, Chủ tịch Hồ Chí
Minh tin tưởng giao quyền điếu hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Người nói với cụ Huỳnh cái
phép “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Người nói chuyện với đồng bào:
“Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc
dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục
đích đó.
…………….
Bất kì bao giờ, bất kì ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích,làm cho ích nước lợi dân. Vậy
nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin
mang lại phồn vinh. Thật là phi lý nếu toan tính dựa vào nước Việt Nam suy yếu, chia rẽ và bị chia cắt để
đạt được sự hùng mạnh của Liên hiệp Pháp. Liên hiệp Pháp chỉ có được vai trò với điều kiện nó giữ được
sự vững chắc, thống nhất và gắn bó củ nó, và điều kiện đó chỉ có thực hiện được khi mỗi thành viên của
nó cũng giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của mình.
Đó là cái giá phải trả cho tương lai của Liên hiệp Pháp. Chúng ta biết rằng nhân dân tất cả các
nước ở Pháp quốc hải ngoại đều quan tâm đến việc thực hiện điều này. Thực vậy, việc liên kết các dân
tộc tự do, bình đẳng và bác ái, gắn bó bởi một trong những sợi dây mạnh mẽ nhất, một lý tưởng
chung,đó là lý tưởng dân chủ; việc liên kết đó hấp dẫn biết bao.
Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong xã hội trong việc tổ chức xã hội loài người. Là một nước
dân chủ, thành viên của Liên hiệp Pháp, nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và
duy trì hòa bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên hợp quốc”.
Cần thiết phải trích dẫn như trên là để thấy rõ một cách đầy đủ và logic của lý luận của Hồ Chí
Minh trong việc giải quyết các mối quan hệ đa chiều giữa lịch sử và thời đại, giữa chính trị, kinh tế và văn
hóa, giữa dân tộc và quốc tế… Thực tiễn ngót một thế kỷ qua đã chứng minh tính đúng đắn của tư
tưởng Hồ Chí Minh; và cũng chứng minh rằng, do bản chất và dã tâm đen tối của các đế quốc thực dân
đã cố tình làm mất đi những cơ hội cho những hợp tác tốt đẹp trên nguyên tắc đảm bảo tính tự quyết
của mỗi dân tộc và các bên cùng có lợi.
Trong “Lời tựa” cho lần xuất bản cuốn thứ nhất cuốn “Pari – Sài Gòn – Hà Nội”, Philippe Devillers
viết: “Năm1946, chúng ta suýt nữa đã hiểu nhau và thỏa thuận được với nhau. Chỉ cần một chút nữa thôi
là chúng ta đã có được không phải một “thỏa hiệp” hay một “tạm ước” mà văn bản một sự liên kết, hơn
thế nữa, một sự đồng minh giữa hai dân tộc tự hào và tự do, trong khuôn khổ một tổng thể mà hai bên
sẽ cùng nhau quy định. Lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt”. Điều này cho thấy một sự nuối tiếc của những công
dân nước Pháp, họ ý thức được những mất mát trong lịch sử Pháp - Việt, đã đem lại thiệt thòi cho cả hai
dân tộc đáng lí không nên có. P.Dellivers cũng thừa nhận: “Ngay từ cuối 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
yêu cầu nhân dân Việt Nam phải tập phân biệt giữa những người Pháp: Một bên là thực dân đế quốc,
một bên là những người dân chủ tin tưởng một cách chân thành vào các giá trị của tự do, công bằng,
bác ái và hành động đi đôi với lòng tin”; và “ Bất hạnh đã đến, không phải không được kiểm soát cẩn
thận. Sau đó, Chính phủ Pháp không muốn lên án chúng nên đã thi hành trong nhiều năm, vẫn trong bí
mật, một chính sách mà lịch sử ngày nay lên án”. Trong cuốn sách này cũng trích thư của Charle de
Gaulle gửi chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1966: Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa
…………….
Trong cuộc đấu tranh vì quyền thiêng liêng của mình, nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu
sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sự nghiệp chung: Đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế
và một tổ chức hiệu quả hiệu quả cho an ninh ở Viễn Đông”.
Chính sách mở cửa của Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới một cách
thẳng thắn, chân thành và mạch lạc. Tư duy của Hồ Chí Minh cho thấy: Tuy mới thoát khỏi ách nô lệ kéo
dài gần tám mươi năm, nhưng khi dành được độc lập dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng hội nhập với thế giới
trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau sâu sắc và tầm nhìn thời đại. Đó là thái độ chủ động của một tư duy
lược về sự hợp tác để đem lại những lợi ích thiết thực cho mọi quốc gia, cho mọi dân tộc, xóa bỏ những
hận thù, những âm mưu, thủ đoạn can thiệp vào công việc nội bộ, quyền tự quyết của quốc gia này đối
với quốc gia khác. Nhưng lịch sử – chính lịch sử của các cuộc xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
đã ngăn cản và làm chậm bước tiến đến hiện thực mà tư duy trong sáng của Hồ Chí Minh đã nêu lên từ
giữa thế kỷ XX, để sau này bản thân họ phải hối tiếc cho chính những việc làm thiển cận của mình. Bởi,
chiến tranh không chỉ đem đến cho dân tộc Việt Nam tang thương và thiệt thòi mà cũng đã cướp đi của
dân tộc Pháp, dân tộc Mỹ và các quốc gia tham chiến những người con ưu tú, làm hoen ố những giá trị
tinh thần cao cả và để lại những kí ức nặng nề cho các thế hệ sau đó. Tuy nhiên, mặc dù đã tự rút ra
những bài học xương máu từ cuộc gây chiến với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói
riêng vẫn chưa chịu sửa chữa những lỗi lầm, tiếp tục gây ra xung đột vũ trang trên thế giới và can thiệp
vào các quyền tự quyết của các dân tộc khác. Hiện thực đó nói lên rằng: Bản chất của chủ nghĩa đế quốc
– giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản –là không thay đổi; mặt khác nó biểu hiện con đường suy
thoái không thể tránh khỏi của một hình thái kinh tế – xã hội đang mắc vào sự khủng hoảng toàn diện và
triền miên không tìm ra lối thoát. Các nhà trí thức tiến bộ Phương tây đã và đang tiếp tục tìm kiếm cách
lí giải sự bế tắc này dưới nhiều góc độ khác nhau trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa, xã hội từ đó phê
phán tùy theo mức độ và theo các quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, Alain Touraine nhà xã hội học nổi
tiếng người Pháp, trong cuốn “Phê phán tính hiện đại” đã phân tích những vấn đề do tính hiện đại đặt ra
trong quá khứ cũng như hiện nay dưới góc độ triết học, cũng là sự tự phê phán chính những kinh nghiệm
về tính hiện đại của Phương tây. A.Touraine viết: “Chúng ta ngày càng sợ rằng sự tăng trưởng phá vỡ
mất những cân bằng tự nhiên cơ bản, làm tăng thêm những bất bình đẳng ở trình độ thế giới, áp đặt lên
tất cả mọi người một cuộc chạy đua kiệt sức tới sự thay đổi. Đằng sau những nỗi lo ngại ấy đang hiện là
một sự hoài nghi sâu xa hơn: Loài người phải chăng đang phá bỏ sự liên kết của nó với tự nhiên, đang
phát triển theo đúng quỹ đạo, có khi còn lâm vào tình trạng bế tắc, thậm chí bị các quốc gia mạnh hơn
chi phối và đi đến mất quyền độc lập và tự chủ. Thực tế của thế giới ngày nay đã diễn ra như vậy. Vì vậy,
xây dựng một xã hội mở, trong đó nền kinh tế mở có vai trò trực tiếp và quan trọng, là một yêu cầu
khách quan.
Một nền kinh tế mở là một nền kinh tế bao gồm đầy đủ hai nhóm nhân tố: Nội lực và ngoại lực;
trong đó nhóm nhân tố nội lực mang tính quyết định. Tư duy của Hồ Chí Minh đã giải quyết thấu đáo mối
quan hệ nhân quả này ngay từ khi Người còn bôn ba trên thế giới và đặc biệt sáng tỏ, khúc chiết sau khi
nước nhà giành được chính quyền và lập nên nhà nước dân chủ nhân dân. Cho dù tư duy của Người đã
bị các thế lực phản động ngăn cản bằng các cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, thì tính đúng đắn của tư
duy ấy vẫn được Đảng và nhân dân của Người thực hiện thành công, để cuối cùng dành được thắng lợi
huy hoàng. Chính thực lực vốn có và thực lực ấy luôn được phát huy cao độ vừa là nhân tố thu hút sự
đồng tình ủng hộ, giúp đỡ tận tình của bầu bạn và nhân dân trên thế giới, vừa là nhân tố quyết định
đánh bại ý chí xâm lược của các cường quốc đế quốc mạnh gấp nhiều lần; và, đó cũng là nền tảng để
sau khi chiến tranh chấm dứt, dân tộc Việt Nam đã “khép lại quá khứ”, “gác lại hận thù” nhanh chóng bắt
tay với các nước trên tinh thần học hỏi để khôi phục và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Tư duy về một nền kinh tế mở của Hồ Chí Minh mang tầm chiến lược, vì đã kết tinh đầy đủ tính
dân tộc và tính thời đại, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới ngày nay./.