TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG MỘT NỀN GIÁO DỤC MỞ
( Nguồn: http://tientoidaihoidang.vn/read.asp?uid=17&news_id=231 ).
Vị trí, vai trò của giáo dục từng được Hồ Chí Minh khẳng định là quốc sách hàng đầu, được thể
hiện xuyên suốt và nhất quán trong tất cả các phát biểu, quan điểm, tư tưởng của Người, kể từ
những ngày đầu đất nước mới giành được độc lập cho đến lúc Người đi xa.
Trong thư gửi học sinh nhân ngày tựu trường đầu tiên dưới chính thế Việt Nam dân chủ cộng hòa,
người gửi gắm niềm tin: “…Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, đất nước Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai với cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ phần lớn
ở công học tập của các em…”
Mù chữ và sự dốt nát được Hồ Chủ tịch xem như là một thứ giặc, một quốc nạn: “Giặc đói, giặc dốt là
bạn đồng minh của giặc ngoại xâm”. Trong bức thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ (tháng 5
năm 1946), Người viết: “…Chương trình của Chính phủ là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng
có ăn, có mặc, có học hành. Vậy khẩu hiệu của chúng ta là: Tăng gia sản xuất, chống nạn mù chữ ”.
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và dù khó khăn, gian khổ đến mấy của cuộc kháng chiến chống thực dân,
Hồ Chủ tịch vẫn luôn dành một sự quan tâm sâu sắc cho sự nghiệp giáo dục. Một ngày sau khi đọc bản
“Tuyên ngôn độc lập'” (ngày 3/9/1945), Người đã chủ trì phiên họp của Chính phủ và đã nêu ra sáu
nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết; trong đó có nhiệm vụ mở chiến dịch chống nạn mù chữ, chống giặc
dốt. Người coi giáo dục là quốc sách, là vấn đề trọng tâm thường xuyên cần phải chăm lo. Bởi suy cho
cùng, niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà Đảng và Chính phủ có thể đem lại cho mọi người, chính là giúp
họ tự giải phóng họ khỏi nghèo nàn, áp bức bằng con đường lao động sáng tạo, lao động có hiệu quả,
và chỉ có thông qua giáo dục. Vì vậy, không ai khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng xây
dựng nền giáo dục mở và chỉ ra phương cách thực hiện chính sách mở trong giáo dục, thông qua con
đường xã hội hóa giáo dục. Phát biểu tại Đại hội sơ kết công tác bình dân học vụ 6 tháng đầu năm
1956, ngày 16/7/1956, Người nói: “Những người biết chữ hãy dạy cho những người không biết chữ,
người biết chữ nhiều dạy người biết chữ ít, mỗi xóm cử một người đi học, học mấy hôm về dạy mấy
hôm, hết chữ rồi trở lại học, thầy vừa dạy vừa học”. Hay trong bài “Chống nạn thất học” (đăng trên báo
Cứu Quốc, số 58, ngày 4/10/1945), Người hướng dẫn tỉ mỉ: “Các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia
dạy cho người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy
thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình”.
Và mục đích, động cơ của việc học là để hiểu biết, học để làm việc, làm giàu, tóm lại là để mỗi người
trò, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó. Giáo dục nhằm đào tạo con
người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta. Do đó các ngành, các cấp Đảng và
chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường
về mọi mặt, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới ”.
Thực hiện di huấn của Người, trong hơn 30 năm qua, sự nghiệp giáo dục và khoa học luôn được Đảng
ta thật sự coi là quốc sách hàng đầu nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở đó, Đảng và nhà nước ta đã tiến hành nhiều cuộc
cải cách, xây dựng và nỗ lực triển khai thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch nhằm đẩy mạnh phát
triển sự nghiệp giáo dục.
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng về đổi mới giáo dục, năm 1978, Hội nghị
ngành Giáo dục đại học tại Nha Trang đã đưa ra ba chương trình hành động, với nội dung chủ yếu là:
1. Đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo trong các trường đại học theo
hướng cơ bản nhất, hiện đại và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
2. Tăng cường công tác khoa học - kỹ thuật, hợp tác quốc tế, đầu tư cơ sở vật tư - kỹ thuật cho các cơ
sở giáo dục đại học, bảo đảm tốt những điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo.
3. Đa dạng hóa hệ thống trường, lớp theo hướng xã hội hóa giáo dục.
Từ chủ trương đổi mới của ngành Giáo dục, từ năm 1990, chúng ta đã hình thành viện Đào tạo Mở
(nay là đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh và đại học Mở Hà Nội). Riêng đại học Mở thành phố Hồ Chí
Minh hoạt động theo cơ chế ngoài công lập và là trường đại học mở tự hạch toán đầu tiên (không sử
dụng ngân sách nhà nước từ thuế của dân), với hai thử nghiệm: thực hiện chính sách mở trong giáo
dục và xây dựng cơ chế tài chính của một đại học tự hạch toán, không sử dụng ngân sách của nhà
nước.
Qua 3 năm thử nghiệm (từ tháng 6/1990 đến tháng 7/1993), mô hình viện Đào tạo Mở thành phố Hồ
Chí Minh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận và được sự đồng tình cao của xã hội. Bằng chứng
là đã có hơn 20.000 sinh viên theo học hình thức này. Mô hình đào tạo mở đã từng bước được củng cố
và mở rộng, trong đó, đào tạo từ xa là phương thức quan trọng để thể hiện chính sách mở trong giáo
dục của Đảng, đã thu hút hàng vạn học viên ở mọi miền đất nước theo học. Các hoạt động của nhà
trường, từ cơ sở vật chất phục vụ dạy và học, đến kinh phí chi trả lương cho đội ngũ gióa viên, cán bộ,
công nhân viên và các hoạt động khác, nhà trường đều tự trang trải.
Trên cơ sở thành công của mô hình đào tạo mở, Chính phủ sau đó đã công nhận thông qua quyết định
Nam cần quan tâm triển khai thực hiện một số giải pháp sau đây.
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh học tập, nghiên cứu thấu đáo tư tưởng của Hồ Chủ tịch về xây dựng một
nền giáo dục thật sự của mọi người, vì mọi người, cho mọi người; mọi người được quyền bình đẳng
hưởng thụ thành quả của nền giáo dục và có nghĩa vụ đóng góp xây dựng và phát triển giáo dục. Làm
sao để mọi người đều thấu suốt quan điểm sự nghiệp “trồng người” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị, của gia đình và các bậc phụ huynh như Hồ Chủ tịch căn dặn, nhằm đưa
đất nước phát triển và sánh vai với các cường quốc năm châu. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành
chiến lược phát triển giáo dục với đầy đủ quan điểm, triết lý, khái niệm về giáo dục toàn diện, đồng bộ
và nhất quán.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện Luật Giáo dục, bảo đảm phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế
- xã hội Việt Nam trong điều kiện hội nhập. Để Luật Giáo dục phù hợp và bảo đảm đáp ứng tốt nhu cầu
phát triển giáo dục, Quốc hội cần thay đổi phương pháp làm luật, trong đó nên hình thành bộ phận tổ
chức xây dựng luật đi từ cơ sở đang hoạt động trực tiếp về giáo dục, thay vì ngành chủ quản đứng ra
xây dựng luật như hiện nay.
Thứ ba, vấn đề đặt ra cho sự nghiệp “trồng người” hiện nay là trên cơ sở thấm sâu và vận dụng sáng
tạo tư tường của Hồ Chủ tịch, xây dựng cho được một đội ngũ người thầy ngang tầm. Trong đó, mỗi
người thầy phải hội đủ hai phẩm chất cơ bản là vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Thứ tư, Nhà nước cần có chính sách cụ thể hơn về đất đai và thuế doanh nghiệp cho các cơ sở ngoài
công lập - một loại hình giáo dục - đào tạo đang trở thành một xu hướng, không riêng một khu vực hay
một quốc gia. Lý do là, hoạt động giáo dục có những đặc thù riêng, trong đó, sản phẩm của giáo dục lại
rất đặc biệt, chính là đào tạo con người. Vì vậy, không nên xem trường ngoài công lập là một doanh
nghiệp để tính thuế, đánh thuế cơ sở giáo dục - mà thực chất là đánh thuế vào người học.
Thứ năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần nghiên cứu để có sự điều chỉnh, thậm chí kiên quyết hủy bỏ
những quy định không còn phù hợp trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo; nhất là tạo điều kiện cho các
trường mở rộng mối quan hệ liên kết đào tạo các chương trình quốc tế, thay vì vẫn còn nặng về cơ chế
“xin - cho” như hiện nay. Đi kèm theo đó là có một hệ thống cơ chế, chính sách thỏa đáng và phù hợp
trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đồng bộ, đầy đủ để bảo đảm đào tạo ngang tầm. Cuối cùng
là một cơ chế quản lý và phương pháp giáo dục luôn luôn phải đổi mới.
GS-TSKH. Cao Văn Phường
làm việc, nâng cao chất lượng công tác. Theo Người, vấn đề học tập là “suốt đời” chứ không phải chỉ là
lớp học, khóa học hoặc mang tính “thời vụ”, rồi sau đó lại “đâu vào đấy”. Người chống thói qua loa đại
khái, lười học, lười suy nghĩ dẫn đến tình trạng khi giải quyết công việc thì “được chăng hay chớ”, “gặp
đâu làm đấy”, chất lượng công việc thấp, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Người chỉ rõ: “Cán bộ và
đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm
rất to. Khác nào người thày thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa”3.
Do đó, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “ham học tập để nâng cao trình độ của mình”4 và coi đây
là một tiêu chuẩn, một giá trị đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Từ đó, Người vạch rõ phương
hướng, nhiệm vụ đối với cán bộ, đảng viên là không được nhãng việc học tập, phải tu dưỡng không
ngừng, đối với người cán bộ “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”5. Người đặt lên
hàng đầu “lấy tự học làm cốt”6, cán bộ, đảng viên phải biết “tự động học tập”, phải xác định tư tưởng
cho đúng. Học tập phải trở thành nhu cầu, thói quen, hành vi hàng ngày của cán bộ, đảng viên. Cán bộ
nào lười học, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận, cập nhật thông tin mới, những hiểu biết
mới cũng là một biểu hiện suy thoái về đạo đức.
Học tập mọi lúc, mọi nơi
Cán bộ, đảng viên phải tận dụng thời gian, dành công sức, tranh thủ học tập, học ở trường, lớp, sách
vở và học ở nhân dân. Bác nhấn mạnh: nhân dân ta rất cần cù và sáng tạo, những giá trị văn hóa, tinh
thần do nhân dân sáng tạo là nguồn tri thức, là những kinh nghiệm rất phong phú, là “những bài học
quý”, do đó, cán bộ, đảng viên phải chịu khó học hỏi ở nhân dân “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn
nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”7. Và chính thông qua học tập, tiếp
xúc với nhân dân mà cán bộ, đảng viên có điều kiện gần gũi, nắm được tâm tư nguyện vọng của nhân
dân, từ đó tổng kết được tình hình, nguyện vọng của dân. Từ đó, tham mưu, đề xuất tiếp tục bổ sung,
sửa đổi, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân
dân, tạo niềm tin, đồng thuận của dân và toàn xã hội tiến hành sự nghiệp cách mạng. Người kiên quyết
chống thói quan liêu, xa dân, không chịu học hỏi nhân dân, coi khinh dân và coi đây là những quan
niệm, hành vi đối lập với phẩm chất của người cán bộ cách mạng cần phải được lên án, xử lý.
Gắn học tập và làm việc
Tư tưởng của Người về học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên là phải thiết thực, bổ ích, hiệu
quả, sát với với công việc của mỗi người; nếu không đạt được như vậy là “phí công, phí của, vô ích”.
Bác nhấn mạnh “học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận8. Tri thức, lý luận của cán bộ,
HỒ CHÍ MINH VÀ VẤN ĐỀ RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh xây dựng đội ngũ và chăm lo, bồi dưỡng
cán bộ là một công việc trọng yếu của Đảng. Hơn ai hết, Người hiểu rất rõ rằng “cán bộ là cái
gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì thế
mà “phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà Người quan tâm trước hết ở người cán bộ cách mạng là vấn đề
đạo đức. Với những thanh niên Việt Nam yêu nước tại lớp Huấn luyện chính trị Quảng Châu, khi giảng
về Tư cách người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả
quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Chịu khó. Hay nghiên cứu, xem
xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy
sinh. ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật”. Theo Người, “Tự mình phải; Đối người phải; Làm việc phải”
trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” là hệ tiêu chuẩn thuộc về tư cách đạo đức cách mạng mà người
cán bộ, đảng viên nhất định phải có. Những phẩm chất này là đòi hỏi nghiêm khắc đối với người cán bộ
cách mạng, giúp họ có sức hấp dẫn, quy tụ, lôi cuốn được quần chúng, nhằm hoàn thành những nhiệm
vụ của Đảng và nhân dân giao phó.
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng
Cộng sản từ hoạt động bí mật đã trở thành Đảng cầm quyền. Tình hình mới và những trọng trách mới
đòi hỏi người cán bộ, đảng viên càng phải cố gắng phấn đấu vươn lên. Tiên liệu được tình hình, và đặc
biệt là để củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các
cán bộ, đảng viên, phải làm việc theo nguyên tắc “Hết sức nghe mệnh lệnh của Chính phủ”. Phải thật
thận trọng, phải giữ gìn trước những cám dỗ của quyền lực, trước những thói hư tật xấu của chế độ cũ,
của lớp quan lại cũ và cũng phải luôn tâm niệm rằng “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến
các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác công việc chung cho dân” nên “việc gì có lợi
cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh Phải yêu dân, kính dân thì dân
mới yêu ta, kính ta”.
Ở mỗi giai đoạn nhất định của tiến trình cách mạng, quan niệm về phẩm chất đạo đức, tư cách của
người cán bộ, đảng viên lại có những yêu cầu cụ thể. Song nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ
Chí Minh thì, đó phải là những con người dám xả thân cho cách mạng, đi tiên phong trong phong trào
quần chúng, phải biết “làm việc”, biết “sửa đổi lối làm việc” và luôn luôn phải rèn luyện đạo đức cách